Thứ Ba, 16 tháng 10, 2018

Sự Sống, một Thiết kế Vĩ đại


                                                               ( Life, a Grand Design )

Phạm Việt Hưng

DNA structure is an undisputable evidence to prove that life cannot be a random combination of inorganic molecules, but must be surely the result of a work which is designed purposedly to conform to the Axiom of Order. This is the most important conclusion which can be drawn from the work by Prof. Dr. Vũ Hữu Như, “The Axiom of Order and The Biological Space-Time”,…
Cấu trúc của DNA là bằng chứng không thể chối cãi chứng tỏ sự sống không thể là sự kết hợp ngẫu nhiên của các phân tử vô cơ, mà chắc chắn phải là kết quả của một công trình được thiết kế có chủ ý thích hợp với Tiên đề Thứ tự. Đó là kết luận quan trọng nhất có thể rút ra từ công trình “Tiên đề Thứ tự và Không Thời gian Sinh học” của GSTS Vũ Hữu Như,…
Muốn biết bản chất của một tư tưởng, nên biết bối cảnh ra đời của nó. Muốn biết tư tưởng cuốn sách của GS Vũ, nên biết cái không-thời-gian đã sinh ra nó. Nội dung cuốn sách này chứa đựng nhiều sự kiện khoa học trong một phạm vi rất rộng cả về không gian lẫn thời gian, từ Dịch học thời cổ đại cho đến những khám phá của sinh học phân tử vừa xảy ra trong thời đại chúng ta. Nhưng vì thời cổ đại chưa có lịch sử thành văn nên tôi xin lược duyệt phần lịch sử hiện đại chắp cánh cho cuốn sách của GS Vũ, tính từ giữa thế kỷ 19 cho tới nay.
1/ Lược sử tối giản của khoa học từ giữa thế kỷ 19 tới nay
Năm 1897, họa sĩ Paul Gauguin vẽ một bức tranh khổ lớn mô tả cảnh sinh hoạt của người thổ dân trên đảo Tahiti thuộc Pháp ở Thái Bình Dương, rồi ghi lên đó những câu hỏi tư lự về thân phận con người:
“Que sommes-nous? D’où venons-nous? Où allons-nous?” (Chúng ta là gì? Chúng ta từ đâu tới? Chúng đi về đâu?)
Đó là những câu hỏi triết học từng làm cho những tâm hồn đa cảm giàu suy tư phải day dứt. Xã hội càng xuống dốc về đạo lý, những câu hỏi ấy càng đòi hỏi được trả lời một cách nghiêm túc. Trong khi triết học loay hoay tìm câu trả lời thì khoa học hiện đại đã tự nhận lấy trách nhiệm giúp đỡ triết học. Thật vậy, chưa bao giờ sinh học và khoa học về sự sống nói chung, bao gồm cả khoa học về nhận thức, dám đặt ra cho mình những câu hỏi tương tự như câu hỏi của Gauguin:
-       Bản chất sự sống là gì?

-       Sự sống đến từ đâu?

-       Có sự tiến hóa thật không, hay đó chỉ là một ngộ nhận?

-       Ý thức là gì?

-       Nhận thức có giới hạn không?

-       Nhận thức duy lý khác với nhận thức duy cảm và duy linh ở chỗ nào?…
Những câu hỏi ấy thôi thúc con người khám phá. Trong hai thế kỷ qua, hàng loạt bí mật đã dần dần được vén mở:
1848, Louis Pasteur khám phá ra Định luật Bất Đối xứng của Sự Sống, cho thấy rõ sự sống là một tác phẩm được thiết kế một cách có chủ ý.
1862, với Thí nghiệm Bình cổ cong Thiên nga nổi tiếng, Louis Pasteur khám phá ra Định luật Tạo sinh (Biogenesis), khẳng định sự sống chỉ ra đời từ sự song.
1865, Linh mục Công giáo Gregor Mendel công bố các Định luật Di truyền, dẫn tới cuộc cách mạng Di truyền học trong thế kỷ 20.
1953, Francis Crick và James Watson khám phá ra DNA, khởi đầu cuộc tấn công của khoa học vào thế giới sâu kín nhất của sự sống. Các công trình giải mã DNA dẫn sinh học tới ranh giới giữa khoa học và siêu hình học bởi câu hỏi: Nguồn mã DNA là gì (Mã DNA từ đâu đến)? Đây có thể là điểm tận cùng của khoa học vật chất và là điểm khởi đầu cho một thứ khoa học mới ─ khoa học về thông tin của sự song.
Theo một hướng khác hoàn toàn độc lập với sinh học nhưng ngẫu nhiên hỗ trợ đắc lực cho sinh học, một loạt khám phá của toán học và vật lý đã dần dần từng bước vén mở thế giới thông tin trong vũ trụ, giúp các nhà sinh học khám phá ra thế giới thông tin của sự sống, từng bước tiếp cận tới thế giới ý thức và tư duy của con người:
1931, Kurt Gödel khám phá ra Định lý Bất toàn, chỉ ra rằng nhận thức duy lý có giới hạn, và tồn tại những sự thật vượt ra ngoài nhận thức duy lý.
1936, Alan Turing phác thảo thiết kế Máy Turing, tiền thân của computers ngày nay, đồng thời khám phá ra Sự cố dừng như một biểu hiện cụ thể của Định lý Bất toàn trong khoa học tính toán theo chương trình.
1948, Claude Shannon và Nobert Wiener cho ra đời những công trình nghiên cứu quan trọng được coi là tiền thân của Lý thuyết Thông tin, dẫn tới một cuộc cách mạng triệt để cả trong đời sống thực tế lẫn triết học nhận thức, bởi lần đầu tiên thừa nhận một hiện thực phi vật chất có tác động quyết định đến mọi cỗ máy trong vũ trụ, đặc biệt là những cỗ máy sinh học. Hiện thực ấy xưa nay đứng ngoài khoa học, bởi chủ nghĩa duy vật không thừa nhận bất kể cái gì không phải là vật chất. Nhưng những tiên đề của lý thuyết THÔNG TIN đã thách thức chủ nghĩa vật chất, buộc khoa học duy vật phải thay đổi cách nhìn về thế giới, nếu nó muốn tiếp tục tiến lên để nhận thức bản chất của thế giới!
1949, chiếc computer EDVAC ra mắt tại “Viện nghiên cứu đạn đạo” (Ballistics Research Laboratory) của Mỹ. Đó là một trong những chiếc computer điện tử đầu tiên có bộ nhớ và hoạt động theo chương trình dựa trên hệ nhị phân. Khoa học computer ra đời, thừa hưởng những khám phá của toán học, vật lý, sinh học, và lý thuyết thông tin, giúp con người tiến gần tới những bí mật tận cùng của sự song.
Nói một cách hình ảnh, những khám phá khoa học trong 150 năm qua đã lần lượt bóc những lớp vỏ của “củ hành nhận thức”, cho chúng ta tiếp cận tới phần lõi trắng tinh của nó. Điều này làm cho một số người lạc quan vui mừng cho rằng khoa học sắp trả lời được những câu hỏi của Gauguin. Nhưng những người có tư duy triết học sâu sắc lại nhận ra điều ngược lại: khoa học càng tiến gần tới cái lõi của nó thì giới hạn của nhận thức lại càng lộ ra ngày một rõ nét hơn.
Trong không khí tưng bừng của những khám phá đó, một công trình nghiên cứu của GSTS Vũ Hữu Như, một nhà vật lý từng làm việc tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt, đã chỉ ra ranh giới phân biệt sự sống với cái không sống nằm ở đặc trưng thứ tự ─ sự sống là một hệ thứ tự trong khi thế giới vô cơ thì không. Nhận định này rất quan trọng, vì nó giúp chúng ta trả lời được nhiều câu hỏi vẫn còn tranh cãi trong sinh học, đặc biệt là vấn đề nguồn gốc sự sống. Hơn thế nữa, nó mở rộng tầm nhìn của khoa học tới một khu vực mà cho tới nay khoa học vẫn “kính nhi viễn chi”, ấy là khu vực phi thứ tự.
Những tư tưởng nói trên đã được GS Vũ trình bày trong cuốn sách của ông “Tiên đề Thứ tự và Không Thời gian Sinh học”, do NXB Đại học Quốc gia Hà-nội xuất bản năm 2014, và đã được tóm tắt trong một bài báo do chính ông viết, Thứ tự và Không thứ tự; Thứ tự và Quy luật Tư duy, vừa được công bố trên mạng ngày 13/08/2018.
Từ công trình nghiên cứu này, chúng ta có thể rút ra 2 kết luận quan trọng:
Một – Sự sống là một hệ thứ tự, do đó nó KHÔNG THỂ là kết quả của sự kết hợp ngẫu nhiên các phân tử vô cơ, như học thuyết Abiogenesis (lý thuyết nguồn gốc sự sống của Thuyết tiến hóa) đã nói. Sự sống ắt phải là kết quả của một công trình được thiết kế một cách có chủ ý, tuân thủ Tiên đề Thứ tự.
Hai – Khoa học là một hệ thống nhận thức duy lý dựa trên Tiên đề Thứ tự, do đó khoa học có giới hạn ─ Khoa học là công cụ hữu hiệu để nhận thức những hệ thứ tự, nhưng bất lực khi tiếp cận tới những hệ phi thứ tự. Điều này phù hợp với tư tưởng của Định lý Gödel.
Hai kết luận nói trên là điểm đến tất yếu khi tôi lần giở từng trang sách của GS Vũ và dò dẫm từng chữ trong bài báo của ông để liên tưởng tới những gì tôi từng suy nghĩ về bản chất sự sống. Trong hành trình tư tưởng đó, tôi khám phá ra những điểm tương đồng với cách nhìn vốn có của mình về thế giới. Đặc biệt, tôi khám phá ra những luận cứ ủng hộ Lý thuyết Thiết kế Thông minh, và điều đó làm tôi thích thú reo lên trong lòng: “Mọi con đường đều dẫn tới La Mã” (Tous les chemins mènent à Rome). Những thảo luận tiếp theo đây là tiếng reo mừng đó, như một chia sẻ chân thành với GS Vũ và độc giả.
2/ Đặc trưng thứ tự của sự sống
Mọi tư duy duy lý (rational thinking) hoặc tư duy lý lẽ (resoning thinking) xét cho cùng đều có thể quy về khái niệm so sánh lớn hơn / nhỏ hơn hoặc bằng. Nói cách khác, mọi tư duy duy lý và lý lẽ xét cho cùng đều là tư duy thứ tự, trong đó các đối tượng quan sát được xếp đặt sao cho cái nào đứng trước, cái nào đứng sau, cái nào có trước, cái nào có sau. Sự so sánh này hình thành một cách tự nhiên trong nhận thức của con người, nhưng dần dần, với sự phát triển của ngôn ngữ, quan hệ so sánh được biểu diễn rõ ràng và chính xác nhất dưới dạng toán học.
Toàn bộ toán học là một hệ thứ tự, hình ảnh tiêu biểu nhất của tính chất sắp thứ tự trong toán học là trục số thực, trên đó 2 điểm tương ứng với 2 số thực x và y sẽ được sắp xếp theo thứ tự “trước – sau” nếu x < y
Nói cách khác, tập hợp số thực là một hệ được sắp thứ tự, nói gọn là một hệ thứ tự. Hình ảnh trục số lập tức gợi ý cho chúng ta thấy một hệ thứ tự là một hệ được định hướng. Tập số thực là một hệ được định hướng từ nhỏ đến lớn ─ trục số thực được định hướng từ trái sang phải (hướng mũi tên là chiều tăng của số thực).
Nếu “đặc trưng thứ tự chỉ là đặc thù của các hệ sinh học, các hệ vô cơ không có đặc thù này”[1] như GS Vũ đã nói, thì điều đó có nghĩa là chỉ có sự sống mới được định hướng, trong khi các hệ vô cơ thì không. Câu hỏi lập tức được đặt ra: AI ĐÃ ĐỊNH HƯỚNG SỰ SỐNG?
Đây là một câu hỏi rất quan trọng, nhưng trước khi thảo luận câu hỏi đó, hãy hỏi: Căn cứ vào đâu để kết luận sự sống là một hệ thứ tự? Để trả lời, xin hãy quay trở lại với trục số thực.
Nếu coi trục số là hình ảnh của không gian 1 chiều hoặc hình ảnh của trục thời gian thì ta có thể nói không-thời gian 1 chiều là một hệ thứ tự.
Có thể mở rộng khái niệm đó cho các không gian nhiều chiều hơn. Chẳng hạn:
Trong không gian 2 chiều, mỗi điểm sẽ là một cặp số thực được sắp xếp theo thứ tự, sao cho:
Nếu a ≠ b thì (a,b) ≠ (b,a)  (O2)
Trong ký hiệu (O2) ở trên, chữ “O” là viết tắt của “Order” (thứ tự), còn số “2” ý nói đây là hệ thức thứ tự trong không gian 2 chiều.
Những bạn không làm toán có thể thấy mệnh đề (O2) có vẻ rắc rối quá, làm mệt óc, nhưng thực ra ý nghĩa thực tế của nó rất đơn giản: Trong hệ trục tọa độ Descartes 2 chiều, nếu hoành độ độ a không bằng tung độ b thì điểm có tọa độ (a,b) sẽ khác biệt với điểm (b,a).
Tóm lại, mệnh đề (O2) chính là một hệ thức thể hiện Tiên đề Thứ tự trong không gian 2 chiều. GS Vũ còn mở rộng ý nghĩa của (O2) cho Tích Đề-các (Cartesian Product) trong Lý thuyết Tập hợp, nhưng vì nhiều độc giả có thể bị mệt với toán học, nên chúng ta hãy làm một công việc nhẹ nhàng hơn, đó là mở rộng (O2) cho không gian 3 chiều. Khi đó ta sẽ có:
Nếu a ≠ b ≠ c ≠ a thì (a, b, c) ≠ (b, c, a) ≠ (c, a, b) ≠ … (O3)
(O3) chính là hệ thức thứ tự trong không gian 3 chiều. Thật bất ngờ khi ta gặp hệ thức tương tự như (O3) trong Sinh học Phân tử:
“Hệ thức trật tự (AUG) ≠ (UGA) ≠ (UAG) trong mã di truyền sẽ làm tiền đề cho việc nghiên cứu thời gian trong sinh học của tác giả. Để hiểu được ý nghĩa quan trọng của hệ thức này cần phải nghiên cứu sâu về các dạng của Tiên đề Thứ tự”[2].
Có thể một số độc giả không nghiên cứu sinh học sẽ không hiểu câu nói trên. Vậy xin làm rõ: Mỗi bộ ba (AUG), (UGA),… là một nucleotide trong gene. Chúng đóng vai trò gì đối với sự sống? GS Vũ giải thích:
“Mỗi bộ ba nucleotide nhất định trong gene  xác định vị trí gắn của một acid amin trong một chuỗi polypeptide”[3].
Có nghĩa là mỗi bộ ba nucleotide có một vị trí xác định trong chuỗi polypeptide. Nói cách khác, chuỗi polypeptide là một dây xích nối liền nhiều acid amin khác nhau, nhưng không phải các acid amin ấy được nối ghép với nhau một cách tùy tiện, ngẫu nhiên, vô trật tự, mà phải tuân thủ một thứ tự xác định. Đặc trưng thứ tự ấy được thể hiện bởi hệ thức: (AUG) ≠ (UGA) ≠ (UAG)
Đến đây ta không thể không lắc đầu thất vọng với ý kiến “ngây thơ” cho rằng vật chất vô cơ có thể NGẪU NHIÊN và TÌNH CỜ tập hợp lại để tạo thành sự sống! Xác suất để sự “tình cờ” ấy xảy ra quá thấp thấp đến mức coi như bằng 0 có nghĩa là sự “tình cờ” đó KHÔNG THỂ xảy ra! 
Trở lại với hệ thức thể hiện đặc trưng thứ tự của nucleotide, một người có hệ thần kinh lành mạnh không thể không sửng sốt khi thấy hệ thức này giống y như hệ thức của Tiên đề Thứ tự trong không gian 3 chiều! Nếu ai đó không ngạc nhiên và thán phục Tạo Hóa đã khéo xếp đặt như vậy thì người ấy thuộc loại người vô cảm từng làm cho Albert Einstein thất vọng khi ông nói:
“Chỉ có hai cách sống cuộc sống của bạn. Một là sống như chẳng có cái gì là phép lạ. Hai là sống như mọi thứ đều là phép lạ” (There are only two ways to live your life. One is as though nothing is a miracle. The other is as though everything is a miracle)[4]
Tác giả bài báo “Thứ tự và Không Thứ tự” đã không thể cầm lòng mà phải thốt lên: “Số học đã ẩn chứa ngay trong các cơ thể sống!”[5]
Câu nói ấy hàm ý một thiết kế có chủ ý định hướng cho sự sống đã ẩn chứa ngay trong các cơ thể sống: 
“Các nhà sinh học quan niệm rằng một phân tử DNA là một dãy sắp thứ tự của hàng trăm hay hàng ngàn nucleotide. Sự thay đổi vị trí dù chỉ một nucleotide trong dãy thứ tự này đồng nghĩa với việc đã hoán đổi thành một vector khác”[6].
Và đó là lý do để GS Vũ kết luận:
“…đặc trưng quan trọng của các hệ sinh học đó là đặc thù thứ tự. Đặc thù này thể hiện qua việc điều hành các hệ thống sinh học được thực hiện qua các lệnh. Các lệnh này được thông báo bằng một ngôn ngữ thông qua các dãy ký tự, đó là các sâu thứ tự. Vì vậy các hệ sinh học là các hệ thứ tự”[7].
Những hệ thứ tự ấy chứng tỏ sự sống đã được thiết kế một cách có chủ ý. 
3/ Sự sống đã được thiết kế có mục đích
Trong cuốn sách và bài báo của mình GS Vũ không nhắc đến Lý thuyết Thiết kế Thông minh (Theory of Intelligent Design), nhưng tự thân công trình nghiên cứu của ông là một luận văn chứng minh cho sự đúng đắn của lý thuyết này.
Lý thuyết thiết kế thông minh là lý thuyết chỉ ra những cỗ máy tinh vi, phức tạp và tài tình của tự nhiên để chứng minh rằng những cỗ máy ấy ắt phải được thiết kế một cách có chủ ý. Sự sống là cỗ máy vĩ đại và tiêu biểu nhất của tự nhiên nói lên vai trò tất yếu phải có của của Nhà Thiết kế Sự Sống.
Lý thuyết này tự động bác bỏ thuyết tiến hóa, và do đó các nhà tiến hóa ra sức lên án nó, coi nó như một cánh tay nối dài của Thuyết Sáng tạo (Creationism), rồi đổ vấy cho nó những ý đồ tôn giáo. Đó là một cách hành xử thấp kém, sợ sự thật, đánh lạc sự chú ý của công chúng nhằm biến cuộc tranh luận về tính phản khoa học của Thuyết tiến hóa thành chuyện đấu khẩu về tôn giáo. Một số người đã bị mắc lừa bởi kiểu đánh lận con đen này, nhưng những người tỉnh táo và có bản lĩnh thì không.
Lý thuyết Thiết kế Thông minh dựa trên tư tưởng nền tảng do Thánh Thomas Acquinas phát biểu từ thế kỷ 13, như một Tiên đề:
“Ở bất kỳ nơi nào tồn tại một bản thiết kế phức tạp ở đó ắt ĐÃ phải có một nhà thiết kế; Tự nhiên rất phức tạp, do đó tự nhiên ắt ĐÃ phải có một nhà thiết kế thông minh” (wherever complex design exists, there must have been a designer; nature is complex; therefore nature must have had an intelligent designer)[8].
Tất cả các nhà khoa học vĩ đại nhất mọi thời đại như Nicolas Copernicus, Galileo Galilei, René Descartes,  Blaise Pascal, Isaac Newton, Louis Pasteur, Gregor Mendel, Lord Kelvin, Max Planck, Albert Einstein, Werner Heisenberg, Thomas Edison, Nicolas Tesla, Kurt Gödel,… đều thể hiện quan điểm tán thành Tiên đề nói trên. Chỉ có các nhà tiến hóa mới bác bỏ nó. Tuy nhiên, chúng ta không cần dựa vào uy tín của bất cứ một nhà khoa học lỗi lạc nào để khẳng định điều chúng ta thấy là hợp lẽ phải. Tiên đề do Thánh Thomas Acquinas là điều hiển nhiên đúng, giống như các tiên đề của Euclid trong hình học vậy.
Toàn bộ công trình nghiên cứu của GS Vũ Hữu Như về Tiên đề Thứ tự và ý nghĩa lớn lao của tiên đề này đối với sự sống chính là một luận văn chứng minh bản chất đã được thiết kế của sự sống ─ càng hiểu rõ những sự xếp đặt kỳ lạ và tài tính của những phân tử bé tí xíu, người ta càng khâm phục bàn tay khéo léo và KHÔN NGOAN của Tạo Hóa, để đi tới kết luận chắc chắn ràng sự sống đã được thiết kế, thay vì ngẫu nhiên hình thành.
Công trình của GS Vũ trước hết là một cuộc tìm kiếm dấu vết của Tiên đề Thứ tự trong khắp các lĩnh vực khoa học và nhận thức, từ toán học tới điều khiển học, thậm chí tới Dịch học, Lão học,… để rồi cuối cùng muốn gửi đi một bản thông điệp mà ông nung nấu trong tâm can mấy chục năm trời, rằng SỰ SỐNG TUÂN THỦ TIÊN ĐỀ THỨ TỰ, và đó là điều bạn nên biết và phải biết, bởi cái biết ấy không chỉ làm cho bạn trở nên thông thái hơn trong những nhận định về thế giới, mà còn ảnh hưởng tới thái độ của bạn đối với cuộc song.
Tôi nhiệt liệt đón nhận bản thông điệp của GS Vũ, đơn giản vì công trình nghiên cứu của ông là một đóng góp lớn cho Lý thuyết Thiết kế Thông minh, một lý thuyết mà từ lâu tôi đã tin tưởng và ủng hộ, một lý thuyết vừa giàu tính khoa học vừa mang ý nghĩa triết học, trong đó khẳng định SỰ SỐNG LÀ MỘT CÔNG TRÌNH TUYỆT MỸ ĐÃ ĐƯỢC THIẾT KẾ MỘT CÁCH CÓ CHỦ Ý. Chủ đề này đã từng được thảo luận sôi nổi trên PVHg’s Home, như:
DNA, the knell for Darwinism / DNA, điềm cáo chung đối với thuyết tiến hóa[9]
DNA and INTELLIGENT DESIGN / DNA và Thiết kế Thông minh[10]
There Must Be a Super-Intelligence / Ắt phải có một Trí tuệ Siêu thông minh[11]
Ngoài đặc trưng thứ tự mà sự sống phải tuân thủ, Định luật Pasteur về tính bất đối xứng của sự sống cũng là một bằng chứng rõ ràng cho thấy SỰ SỐNG ĐÃ ĐƯỢC THIẾT KẾ CÓ MỤC ĐÍCH.
Định luật này khẳng định rằng phân tử của sự sống là bất đối xứng, hầu hết đều thuận tay trái, chỉ có một số rất ít thuận tay phải, trong khi vật chất vô cơ thì bao gồm những phân tử đối xứng phải/trái ─ tỷ lệ xuất hiện phân tử thuận tay trái ngang bằng với phân tử thuận tay phải.
Chính Pasteur đã đặt câu hỏi tại sao sự sống bất đối xứng, và ông đã nêu lên giả thuyết cho rằng tồn tại một lực bí ẩn tác động vào các phân tử của sự sống để buộc chúng bất đối xứng. Nói cách khác, Pasteur cho rằng tính bất đối xứng có nguyên nhân sâu xa thuộc về vũ trụ, một căn tính của vũ trụ, rồi ông kết luận:
“Vũ trụ là bất đối xứng và tôi tin rằng sự sống, như chúng ta đã biết, là một kết quả trực tiếp của tính bất đối xứng của vũ trụ hoặc hệ quả gián tiếp của nó. Vũ trụ là bất đối xứng” (The universe is asymmetric and I am persuaded that life, as it is known to us, is a direct result of the asymmetry of the universe or of its indirect consequences. The universe is asymmetric)[12].Vật lý học thế kỷ 20 đã chứng minh rằng Pasteur hoàn toàn đúng, tiên đoán của Pasteur là một lời tiên tri. Vũ trụ quả thật là bất đối xứng[13].
Nhưng các nhà tiến hóa không hiểu tại sao sự sống lại bất đối xứng, vì thế họ đã cố gắng chế tạo ra acid amin, một thành phần cơ bản của sự sống, để tuyên truyền với mọi người rằng các phân tử vô cơ có thể ngẫu nhiên tập hợp lại thành các phân tử của sự sống. Nhưng họ thật đáng thương. Mọi thí nghiệm của họ đều thất bại. Tập hợp acid amin do họ chế tạo ra luôn luôn đối xứng phải-trái, vi phạm tính bất đối xứng mà sự sống đòi hỏi.
Rốt cuộc, đặc trưng thứ tự và đặc trưng bất đối xứng đã đập tan ảo tưởng của các nhà tiến hóa hòng chế tạo ra phân tử của sự sống từ những phản ứng hóa học của các hợp chất vô cơ.
Theo Ken Funk, một Tiến sĩ hóa học hàng đầu về peptide từng có 3 bằng sáng kiến phát minh và nhiều bài báo trên các tạp chí khoa học uy tín nhất, chúng ta có thể độ lượng với các nhà tiến hóa để giả định trong một cái ao đã có sẵn 20 loại acid amin thuận tay trái cần thiết cho sự sống. Khi đó xác suất để cho một loại protein hình thành từ 140 acid amin (mỗi acid amin chọn ngẫu nhiên trong số 20 acid amin đã có) kết nối với nhau đúng thứ tự (như GS Vũ đã nói) sẽ là một con số vô cùng nhỏ, P = (1/10)^182. Theo Émile Borel, một trong những nhà xác suất lớn nhất thế kỷ 20, mọi sự kiện có xác suất nhỏ hơn (1/10)^50 đều không thể xảy ra. Kết luận: Sự kiện một loại protein hình thành từ 140 acid amin (chọn ngẫu nhiên trong số 20 acid amin cần cho sự sống) kết nối với nhau đúng thứ tự là không thể xảy ra![14].
Thực ra 3 Định luật Di truyền do Mendel khám phá cũng đã cho thấy sự sống được thiết kế một cách rất toán học rồi, và điều này đã từng đe dọa làm sụp đổ Thuyết tiến hóa ngay từ đầu thế kỷ 20. Để cứu vãn Thuyết tiến hóa, các nhà tiến hóa đã nêu lên giả thuyết đột biến gene sẽ dẫn tới tiến hóa. Nội dung cốt lõi của nó là trong quá trình thích nghi với môi trường, gene có thể đột biến, và sự tích tụ vô số những đột biến trong một thời gian rất dài có thể dẫn tới sự thay đổi hệ gene làm cho một loài có thể biến thành loài khác. Đó là giả thuyết được khoác cho một tên gọi khoa học là Học thuyết Tân-Darwin (Neo-Darwinism).
Liệu đột biến gene có thể dẫn tới tiến hóa không?
4/ Đột biến gene dẫn tới tiến hóa?
Công nghệ biến đổi gene đang tạo ra các “phép lạ” ─ các nhà khoa học đang chủ động tác động vào các hệ gene của sinh vật để biến chúng thành những thứ theo ý muốn của họ. Liệu công nghệ biến đổi gene sẽ “sáng tạo” ra thiên thần hay quỹ dữ? Đột biến gene có dẫn tới tiến hóa như thuyết Tân-Darwin đã nói không? Sau đây là câu trả lời…
Trong công trình nghiên cứu của mình về Tiên đề Thứ tự, của GSTS Vũ Hữu Như cũng đã đề cập đến Công nghệ Biến đổi Gene (Genetic Mutation). Theo ông, công nghệ này giúp cho khoa học ngày nay nhìn thấy tận mắt sự biến đổi của gene dưới tác động của ngoại cảnh. Nhưng sự biến đổi ấy có thể dẫn tới đâu? GS Vũ nhận định:
“Dưới tác động của các yếu tố bên ngoài như tia phóng xạ, tia vũ trụ, các hoá chất, v.v… phân tử DNA mới được tạo thành có thể có sự xắp xếp lại thứ tự của các cặp nucleotid, kết quả là tạo ra các đột biến, tạo ra nguyên liệu để hình thành các giống mới, ví dụ lắp thêm một gene mới vào một phân tử DNA của một giống cũ”[15].
Nhận định của GS Vũ hoàn toàn chính xác! Ông tỏ ra thận trọng trong nhận định này, rằng sự biến đổi gene chỉ tạo ra nguyên liệu để hình thành các giống mới, thay vì các loài mới!
Thiết tưởng, dù có nghiên cứu sinh học hay không, có lẽ ai cũng đã từng chứng kiến sự thay đổi của sinh vật thông qua việc lai tạp cây trồng hoặc động vật. Nhưng kinh nghiệm thực tế hàng ngàn năm nay cho thấy một kết quả RẤT RÕ RÀNG rằng sự thay đổi ấy là CÓ GIỚI HẠN ─ chưa hề có hiện tượng BIẾN ĐỔI LOÀI, chưa từng có một hiện tượng thực tế nào chứng tỏ một loài này biến thành một loài khác. Tất cả những câu chuyện nói về sự biến đổi LOÀI chỉ xuất hiện trong các sách giáo khoa và tuyên truyền của Thuyết tiến hóa. Tuyệt đối không có một thực tế nào chứng minh cho điều này! Tất cả mọi lý thuyết nói về điều này đều chỉ là GIẢ THUYẾT, đơn giản vì chính giả thuyết đó nhấn mạnh rằng phải có VÔ SỐ đột biến tích lũy lại trong một khoảng thời gian VÔ CÙNG DÀI, cỡ hàng trăm triệu năm hoặc hàng tỷ năm, thì mới dẫn tới sự biến đổi loài. Vì thế khoa học sẽ KHÔNG BAO GIỜ có thể kiểm chứng giả thuyết đó được.
Thực tế, những thí nghiệm bắn phá hàng triệu thế hệ ruồi giấm bằng tia X không hề biến ruồi giấm thành loài mới, mà chỉ sản xuất ra những thế hệ ruồi giấm bệnh hoạn và chết chóc.
Bằng chứng duy nhất của sự biến đổi loài nếu có, chỉ có thể tìm thấy ở kho HÓA THẠCH. Nhưng sau hơn 150 năm kể từ khi Darwin công bố cuốn “Về Nguồn gốc các loài” (On the Origin of Species, 1859), hóa thạch vẫn luôn luôn nói KHÔNG đối với Thuyết tiến hóa. Tất cả các hóa thạch từng được trưng ra làm bằng chứng cho sự biến đổi loài đều đã được chứng minh là SAI LẦM hoặc GIẢ MẠO.
Xin lưu ý: Vì không có bằng chứng biến đổi loài nên các nhà tiến hóa đã nghĩ ra một “mẹo” để làm lú lẫn người đời. Đó là họ bịa ra các thuật ngữ mù mờ lần lộn là “vi tiến hóa” (micro-evolution) và “vĩ tiến hóa” (macro-evolution), trong đó vi tiến hóa là những thay đổi nhỏ, thí dụ như virus biến đổi để kháng thuốc, hoặc giống chó chân cao sau khi lai tạp biến thành giống chó chân thấp,… Còn vĩ tiến hóa là sự biến đổi loài, thí dụ vượn biến thành người, một chuyện tưởng tượng 100% đã được thuyết tiến hóa biến thành “sự thật”.
Thực tế chỉ có những biến đổi nhỏ (cái mà giới tiến hóa gọi là “vi tiến hóa”) nhưng không hề có biến đổi loài (cái mà họ gọi là “vĩ tiến hóa”). Nhưng một em bé ngây thơ được thầy giáo dạy là có vi tiến hóa (thầy chỉ rõ bằng chứng cho em thấy), để em tin là có tiến hóa. Khi “ĐỨC TIN” ấy đã ngấm vào xương tủy và máu, em bé đó sẽ lập tức tin là có “vĩ tiến hóa”, bởi vì “vi” hay “vĩ” chỉ khác nhau là nhỏ hay lớn mà thôi, nhưng có cùng một bản chất là “tiến hóa”. Đây là một trò đánh lận con đen, không chỉ lừa được các em bé, mà lừa được cả nhiều người lớn. Tôi đã từng gặp một số bài báo chống tiến hóa ở Mỹ cũng sử dụng thuật ngữ “vi tiến hóa” và “vĩ tiến hóa”, có nghĩa là ngay cả một số người chống thuyết tiến hóa mà vẫn bị thuyết tiến hóa lừa ! Có trường hợp tôi phải viết thư để nhắc tác giả biết rằng họ đã bị lừa.
Công nghệ GM (Gene Mutation), tức công nghệ biến đổi gene còn có khả năng đánh lừa lớn hơn nhiều! Nó đã làm cho nhiều học giả kinh hồn bạt vía về khả năng biến đổi của hệ gene, và nhờ đó, niềm tin vào Giả thuyết đột biến gene dẫn tới tiến hóa một lần nữa lại rộ lên như một “sự thật”. Vậy một lần nữa, chúng ta lại cần phải thảo luận xem sự thật là thế nào?

                                     LIỆUCÓ THỂ CÓ SỰ BIẾN ĐỔI LOÀI KHÔNG?
Thuyết tiến hóa có hai bộ phận chủ yếu:
Một – Học thuyết về sự biến đổi loài, tức là sự tiến hóa từ loài này thành loài khác
Hai – Lý thuyết về nguồn gốc sự sống, tức Thuyết phi tạo sinh (Abiogenesis), trong đó cho rằng sự sống đầu tiên đã ra đời một cách NGẪU NHIÊN từ vật chất không song.
Như ta đã thấy ở các phần trên, đặc trưng thứ tự và đặc trưng bất đối xứng của sự sống đã tự động bác bỏ học thuyết Abiogenesis. Vậy còn vấn đề biến đổi loài thì sao?
Xin nhấn mạnh rằng học thuyết biến đổi loài là bộ phận cốt lõi của Thuyết tiến hóa. Tư tưởng này đã ra đời ngay trong ngày khai sinh của Thuyết Tiến hóa, tạo thành nội dung chủ yếu của cuốn “Về Nguồn gốc các loài” (On the Origin of Species) của Charles Darwin, xuất bản lần đầu tiên năm 1859.
Khi Mendel công bố các Định luật Di truyền, 1865, cho thấy loài là cố định, không thể thay đổi, vì hệ di truyền tuân thủ các định luật xác định, người ta có thể thấy ngay rằng Thuyết tiến hóa là SAI, không thể có hiện tượng loài này biến thành loài khác.
Nhưng không may, công trình của Mendel bị chìm trong bóng tối, không ai biết. Rất may cho Darwin đã không hề biết công trình của Mendel nên ông đã có thể ăn ngon ngủ yên cho đến ngày rời khỏi thế gian (mặc dù Mendel thì biết rõ công trình của Darwin và đã phê phán nó)[16].
Vì thế, cuộc khủng hoảng của Thuyết tiến hóa do các Định luật Mendel về Di truyền gây ra chỉ thực sự xảy ra vào đầu thế kỷ 20, khi công trình của Mendel được tái khám phá. Khi ấy, Thuyết tiến hóa đứng trước nguy cơ sụp đổ. Nhưng các nhà tiến hóa là những bậc thầy trong việc sáng chế ra những giả thuyết ngụy biện. Đó là lý do để học thuyết Tân-Darwin (Neo-Darwinism) ra đời, trong đó cho rằng những đột biến gene có thể làm cho hệ di truyền thay đổi, và tích lũy vô số những đột biến gene có thể dẫn tới một thay đổi lớn đến mức biến một loài này thành một loài khác!
Trong thời đại ngày nay, khi Công nghệ GM phát triển, mọi người chứng kiến các nhà khoa học biến đổi gene một cách chủ động, làm cho sinh vật biến dạng, thay đổi một cách rõ ràng trông thấy, làn sóng tin vào học thuyết đột biến dẫn tới tiến hóa bỗng nhiên như được sống lại, giống như sinh vật được tiêm thuốc tăng trọng hay tăng trưởng ào ạt, làm cho ngay cả những người có bản lĩnh khoa học cao cũng ngả nghiêng về phía tin vào thuyết tiến hóa nhiều hơn.
Một trong những thực tế làm rung chuyển tâm trí mạnh nhất là sự biến đổi của virus kháng thuốc. Sự biến đổi này nhanh đến mức làm cho người ta kinh ngạc. Một trong những người thể hiện sự kinh ngạc đó là Perry Marshall. Từ chỗ kinh ngạc, ông đã ngả về phía tin vào sự tiến hóa do đột biến đến nỗi ông cho rằng đã đến lúc phải kết hợp Thuyết Sáng tạo (tin rằng Chúa sáng tạo ra sự sống) với học thuyết về đột biến dẫn tới tiến hóa[17]. Tôi từng khen ngợi Marshall hết lời vì ông từng thuyết giảng rất hay về Định lý Gödel, nhưng khi biết quan điểm của Marshall về đột biến, tôi vô cùng thất vọng. Qua đó có thể thấy học thuyết về đột biến đã “chinh phục” các nhà khoa học ghê gớm tới mức nào. Vậy câu hỏi đặt ra là:
Liệu sinh vật có thể biến đổi gene đến mức có thể tiến hóa không? Tức là hiện tượng đột biến có thể dẫn tới tiến hóa không? Câu hỏi này đã được trả lời rõ ràng trong bài “EVOLUTION 2.0 PRIZE - Giải thưởng 5 triệu USD cho thuyết tiến hóa” trên PVHg’s Home ngày 08/08/2018. Xin nhắc lại và nhấn mạnh:
Đột biến gene là có thật, nhưng không hề có một bằng chứng nào chứng tỏ một loài đã bị biến đổi toàn bộ hệ gene của nó để trở thành một loài mới. Công nghệ GM chỉ biến bắp cải thành bắp cải dị dạng, ngô thành ngô dị dạng. Châu Âu chống thực phẩm biến đổi gene. Mỹ và Canada cũng bắt đầu xem xét lại thực phẩm này. Châu Phi là nơi có số dân nghèo đói đông nhất nhưng cũng từ chối thực phẩm biến đổi gene.
Toán học xác suất đã bác bỏ học thuyết đột biến dẫn tới tiến hóa. Điều này đã được nói rõ trong bài báo “Mendel disproved Darwinism / Mendel bác bỏ học thuyết Darwin[18] trên PVHg’s Home ngày 28/08/2015. Tác giả cho biết Hội nghị chuyên đề tại Viện Wistar ở Philadelphia năm 1966 đã kết luận “Thuyết Tân Darwin không thể bảo vệ được bằng toán học”. Nói cách khác, hiện tượng vô số đột biến gene dẫn tới tiến hóa là một giấc mơ không tưởng!
Phần lớn đột biến đều dẫn tới bệnh hoạn và cái chết. Thực phẩm biến đổi gene đã bị tố cáo là có hại. Để thấy rõ điều này, xin đọc bài “Did GM lead to Evolution? Đột biến Gene dẫn tới Tiến hóa?”[19] trên PVHg’s Home ngày 15/02/2016. Bằng chứng rõ nhất là thí nghiệm gây đột biến gene ở ruồi giấm (fruit fly), kết quả cho thấy, sau hàng triệu tác động gây đột biến, ruồi giấm vẫn chỉ là ruồi giấm, và là ruồi giấm quái thai và chết chóc.
Mọi sự biến đổi đều có giới hạn. Vượt quá giới hạn ấy, sinh vật sẽ chết.
Hệ gene của loài chỉ có thể chấp nhận những biến đổi trong loài, bởi các Định luật Mendel về Di truyền đã chứng minh rằng LOÀI LÀ CỐ ĐỊNH. Đó là định luật của tự nhiên, mọi ý đồ chống lại tự nhiên sẽ thất bại!
Hệ gene có khả năng tự sửa chữa và điều chỉnh để đảm bảo bản thiết kế nguyên thủy, và khả năng này mạnh hơn khả năng thay đổi. Khám phá này đã đoạt Giải Nobel Sinh-lý-học năm 2015[20].

Tóm lại, lý thuyết đột biến dẫn tới tiến hóa mãi mãi chỉ là một giả thuyết. Giả thuyết này đem lại công ăn việc làm cho công nghệ biến đổi gene. Công nghệ này chứa đựng tiềm tàng những mối hiểm nguy chưa thể lường hết được. Có ai dám áp dụng công nghệ gene cho con người không? Một câu hỏi thật đáng sợ!
5/ Định lý Gödel và Hệ phi thứ tự
Theo GS Vũ, tính thứ tự là MỘT đăc trưng của sự sống, nhưng không phải là TẤT CẢ,  ý nói rằng sự sống tinh vi và kỳ diệu hơn nhiều so với những gì khoa học đã biết và tưởng rằng sẽ biết. Cụ thể hơn, sự sống có thể còn bao gồm những hệ phi thứ tự, và do đó về nguyên tắc, khoa học sẽ không thể tiếp cận được, đơn giản vì khoa học dựa trên Tiên đề Thứ tự. Đây là một THÔNG ĐIÊP TUYỆT VỜI, cho thấy tư tưởng của GS Vũ đã vượt xa những đồng nghiệp chỉ quen tư duy thứ tự và tưởng rằng tư duy thứ tự là phương pháp tư duy khoa học duy nhất.
Cá nhân tôi, một người say mê, ngưỡng mộ và thấm nhuần Định lý Gödel, không thể không nói lên lời tán thưởng bản thông điệp đó, vì đó chính là một trong những hệ quả triết học của Định lý Gödel.


Ảnh trên: Sự sống không chỉ được định hướng ở cấp độ phân tử, mà được định hướng ngay ở cấp độ đời sống thông thường. Hình bên trái cho thấy cây leo không leo tùy tiện bất phương hướng, mà được định hướng leo theo một chiều xác định. Đây là đặc trưng thứ tự biểu lộ ra ở cấp độ đời sống thông thường.
Thông điệp ấy mang tính gợi mở rất bổ ích trong việc nhận thức bản chất sự sống, kích thích tư duy vươn tới những khu vực phi thứ tự, điển hình là thế giới ý thức ─ một thế giới bấy lâu này bị “gạt ra rìa” khoa học, bởi lẽ ý thức không tuân thủ bất kỳ một định luật khoa học nào, mặc dù nó là một hiện thực khách quan không thể chối cãi.

Nhưng gần đây, dưới ánh sáng của Lý thuyết Thông tin, người ta dù muốn hay không cũng phải chấp nhận sự tồn tại của những hiện thực phi vật chất, đó là THÔNG TIN!

Đặc biệt, từ khi DNA chứng tỏ những “phép lạ” của nó, mã DNA được coi là “Ngôn ngữ của Chúa” (Francis Collins) thì một người cứng đầu đến mấy cũng phải mở to mắt ra để chấp nhận một thực tế rằng thông tin, mặc dù là một thành phần hiện thực phi vật chất, nhưng lại đóng vai trò quyết định trong sự tác thành sự sống. Điều này lập tức làm nẩy sinh ý nghĩ cho rằng Ý THỨC CÓ THỂ LÀ MỘT DẠNG THÔNG TIN CỦA SỰ SỐNG!

Nếu sự sống là một CỖ MÁY TIẾP NHẬN, XỬ LÝ VÀ LƯU TRỮ THÔNG TIN thì mã DNA là thông tin đầu vào và ý thức là thông tin đầu ra! Tất nhiên, cỗ máy này vượt quá xa computers, vì chương trình của nó đạt tới trình độ của “phép lạ”!

Sự liên tưởng vô cùng thú vị đó là một trong những nguyên nhân làm cho bài toán ý thức SỐNG ĐỘNG TRỞ LẠI!

Tại sao lại nói “bài toán ý thức sống động trở lại”?  Vì thực ra nó đã từng được René Descartes nêu lên từ thế kỷ 17 trong “Luận đề về ý thức” (Thèse de la conscience), trong đó ông lập luận rằng ý thức là một hiện thực khách quan không thể chối cãi, nhưng nó không tuân thủ bất cứ định luật vật chất nào, vì thế ta buộc phải thừa nhận ý thức là một hiện thực phi vật chất do Chúa sáng tạo… Vì thế trong một thời gian dài, Descartes bị coi là một nhà triết học duy tâm (mặc dù ông là một ông tổ duy lý), và khoa học dựa trên nền tảng duy vật đã bác bỏ luận đề của Descartes. Nhưng “cái gì của Ceasar phải trả cho Ceasar” ─ ánh sáng khoa học thế kỷ 20 và hiện nay đang quay trở lại ủng hộ Descartes, đơn giản vì khoa học ngày nay bắt đầu thừa nhận sự tồn tại của những hiện thực phi vật chất.

Với con mắt hiện đại, DNA không phải là mã DNA, mặc dù mã DNA được biểu lộ thông qua DNA. Nobert Wiener, một trong những nhà tiên phong của Lý thuyết Thông tin, khẳng định điều này rõ hơn ai hết:

Thông tin là thông tin, thông tin không phải là vật chất hay năng lượng. Không có chủ nghĩa vật chất nào không thừa nhận điều này mà có thể sống sót trong thời đại ngày nay” (Information is information, not matter or energy. No materialism which does not admit this can survive at the present day)[21].

Đó là một nhận định mang tính chất cách mạng về nhận thức! Càng ngày người ta càng nhận ra rằng ý thức mới thật sự là chìa khóa của sự sống. Thật bất ngờ, khoa học đến đây ĐÃ “vô tình” gặp gỡ thần học:

“Rồi Chúa nặn ra một người đàn ông từ bụi đất và thổi sinh khí qua lỗ mũi của nó, tức thì con người trở nên một vật sống động” (Then the Lord God formed a man from the dust of the ground and breathed into his nostrils the breath of life, and the man became a living being) (Kinh Thánh, Sách Sáng Thế, 2:7).

Phật giáo cũng coi ý thức mới là đặc trưng thật sự của con người. Điều này đã được Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rõ trong cuốn sách của ngài: “Vũ trụ trong một nguyên tử”. Với cách nhìn này, thuyết tiến hóa không thể được xem là một lý thuyết về sự sống, bởi nó hoàn toàn làm ngơ trước vấn đề ý thức. Chính Darwin từng thú nhận ông không biết gì về sự hình thành của năng lực tinh thần.

Với những cách nhìn mới mẻ đó, vấn đề ý thức đang trở thành một đối tượng nghiên cứu hấp dẫn nhất của nhiều lĩnh vực mũi nhọn trong khoa học hiện đại, từ khoa học thần kinh đến tâm lý học, từ vật lý lượng tử đến đạo học, từ logic toán học đến thần học,… Trong bối cảnh này, Định lý Gödel trở thành một nền tảng tư duy, bởi nó nói cho chúng ta biết rằng khoa học vật chất duy lý bị chặn lại ở hệ tiên đề của nó, trong khi khát vọng hiểu biết của con người muốn vượt ra khỏi hệ tiên đề đó. Vấn đề này đã được gợi ý ở nhiều đoạn trong bài báo “THỨ TỰ VÀ KHÔNG THỨ TỰ” của GS Vũ Hữu Như:

Theo Định lý Gödel, trong toán học tồn tại những sự thật không thể chứng minh và cũng không thể phủ nhận. Kết luận này được GS Vũ minh họa bằng một thí dụ rất đơn giản và dễ hiểu, đó là một định lý cơ bản mà mọi học sinh đều biết: Mọi số nguyên đều có thể phân tích thành tích của các thừa số nguyên tố.

Đinh lý Gödel cũng khẳng định rằng không tồn tại một hệ tiên đề nào vừa đầy đủ vừa phi mâu thuẫn. GS Vũ nhắc đến một “kẽ hở nhỏ” trong Lý thuyết Tập hợp nhưng dẫn tới “vết nứt lớn”, đó là sự thiếu vắng một định nghĩa rõ ràng về khái niệm “một phần tử THUỘC một tập hợp”, và điều này dẫn tới Nghịch lý Russell, một nghịch lý làm tiêu tan tham vọng của Siêu Toán học đầu thế kỷ 20[22].

Trong khi khẳng định sự sống có đặc trưng thứ tự, GS Vũ đã nêu lên một gợi ý thú vị rằng sự sống cũng có thể chứa đựng những hệ phi thứ tự mà khoa học sẽ phải “kính nhi viễn chi”, bởi khoa học dựa trên nền tảng tư duy thứ tự. Cụ thể, nếu tư duy của chúng ta là một thành phần của sự sống thì trong tư duy của chúng ta có bộ phận tuân thủ thứ tự, nhưng đồng thời cũng có bộ phận không tuân thủ thứ tự.

Thật vậy, khoa học thần kinh từ lâu đã khám phá ra rằng bộ não gồm hai bán cầu trái và phải, trong đó bán cầu não trái chuyên phụ trách tư duy tính toán, logic, bán cầu não phải chuyên phụ trách tư duy tổng hợp, tư duy tưởng tượng,… Thậm chí người ta còn gán cho phụ nữ thiên về tư duy não trái, nam thiên về não phải… Việc phân chia khu vực chuyên trách và xu hướng phát triển tư duy phụ thuộc theo giới tính có lẽ chỉ đúng một phần nào, nhưng thông qua thực tiễn, có thể thấy rõ sự tồn tại của hai dạng tư duy là có thật.

Hai dạng tư duy đó có thể ví như Âm và Dương là hai mặt đối lập, nhưng không loại trừ lẫn nhau, ngược lại chúng liên kết với nhau, bổ sung cho nhau để đạt tới một nhận thức phong phú hơn, đầy đủ hơn, gần với hiện thực hơn. Cụ thể, hai dạng tư duy đó là:

-       Tư duy duy lý và tư duy cảm thụ.

-       Tư duy logic và tư duy phi logic

-       Tư duy lý luận và tư duy trực giác

-       Tư duy theo chương trình và tư duy bất chợt

-       Tư duy thứ tự và tư duy phi thứ tự

Trong đời sống, nhiều khi chúng ta phê phán nhau: “Ý kiến của anh chẳng logic tí nào cả”, ý nói “ý kiến của anh là sai”. Theo cách hiểu này, logic được coi là đúng, phi logic là sai. Nhưng dưới ánh sáng của Định lý Gödel, cách hiểu đó trở thành ngây thơ, ấu trĩ. Vậy thực ra logic là gì?

Nhà toán học kiêm triết học toán học nổi tiếng người Mỹ, Reuben Hersh, trong cuốn sách best-seller của ông năm 1998, “What is Mathematics, Really?” (Thực ra Toán học là gì?). trang 140, đã trả lời:

“Logic là gì? Phải chăng đó là những quy luật tư duy chính xác? Kinh nghiệm thường ngày và những nghiên cứu phong phú của các nhà tâm lý học cho thấy phần lớn tư duy của chúng ta không tuân theo logic. Từ đó suy ra rằng, hoặc phần lớn tư duy của con người là sai, hoặc logic chỉ tác động trong một phạm vi quá hẹp. Computers chính là những chiếc máy tuân thủ logic, đó chính là câu trả lời! Logic là những quy tắc của máy tính! Logic cũng áp dụng cho con người khi con người cố gắng biến mình thành những chiếc máy tính!”

Nói cách khác, tư duy logic chỉ là một bộ phận trong nhận thức của con người. Đó chính là tư duy duy lý, tư duy lý luận, tư duy khoa học và tư duy thứ tự. Trong thời đại ngày nay, computers đang trở thành một trợ thủ đắc lực của con người trong dạng tư duy này. Sẽ là phí phạm vô cùng nếu coi dạng tư duy này là thống soái, thậm chí là duy nhất đúng để gạt bỏ tư duy cảm thụ, tư duy trực giác, tư duy ngoài khoa học, tư duy phi thứ tự. Về điều này, GS Vũ đã có những kết luận rất thú vị trong bài báo “THỨ TỰ VÀ KHÔNG THỨ TỰ”, xin được trích nguyên văn dưới đây để thay cho KẾT LUẬN của bài viết này:

“Cuối cùng ta nói đến Định lý bất toàn của Gödel. Định lý này khẳng định rằng: mọi lý thuyết hình thức hoá nhất quán có chứa số học các số tự nhiên đều là không đầy đủ. Xin độc giả hãy suy ngẫm về ý nghĩa sâu sắc của điều khẳng định nói trên. Phải chăng tập hợp các số tự nhiên N, mô hình cơ bản của tư duy thứ tự chính là cội nguồn của nghịch lý kẻ nói dối : “I’m a liar” (Tôi là kẻ nói dối). Tư duy thứ tự tạo ra những khái niệm đối lập (“TRUE” and “FALSE”) và phải chăng tư duy thứ tự không thể thành công khi “mô tả” các biến hoá không thứ tự của tự nhiên. Chẳng hạn, ta không thể nói gì về thứ tự phân rã của các hạt nhân phóng xạ và cũng không thể nói gì về khái niệm vũ trụ. Tư tưởng của Lão Tử (500 TCN), Đạo khả đạo phi thường đạo, cho thấy giới hạn của tư duy thứ tự… Mỗi tế bào thần kinh hoàn toàn không đơn thuần là một cấu tử logic hai trạng thái. Cấu trúc của tế bào thần kinh là một hệ thống hết sức tinh vi và huyền diệu, nó càng kỳ ảo hơn ở não bộ con người, khiến bản thân con người cũng đã được xem là một vũ trụ thu nhỏ, nó tương tác với phần bù của nó và thể hiện những hiện tượng không thể giải thích được bằng khoa học thông thường.”



                                                                                                           DJP, Sydney 20/08/2018





[1]Bài báo đã dẫn, phần VI. Kết luận: Thứ tự và Không Thứ tự
[2]Sách đã dẫn, trang 12
[3]Sđd, t.144
[5]Bài báo đã dẫn, mục 1.3) Tập hợp các số tự nhiên N.
[6]Sđd, t.155
[7]Bài báo đã dẫn, phần VI. Kêt luận: Thứ tự và không thứ tự
[14]Xem “On the Law of Life Asymmetry / Về Định luật Sự sống Bất Đối Xứng” https://viethungpham.com/2016/07/04/on-the-law-of-life-asymmetry-ve-dinh-luat-su-song-bat-doi-xung/
[15]Bài báo đã dẫn, mục 4.2) Tái bản DNA.
[16]Xem “Mendel disproved Darwinism / Mendel bác bỏ học thuyết Darwin” https://viethungpham.com/2015/08/28/mendel-disproved-darwinism-mendel-bac-bo-hoc-thuyet-darwin/
[17]EVOLUTION 2.0 PRIZE – Giải thưởng 5 triệu USD cho thuyết tiến hóa https://viethungpham.com/2018/08/08/evolution-2-0-prize-giai-thuong-5-trieu-usd-cho-thuyet-tien-ho/
[20]LESSONS FROM NOBEL PRIZES 2015 / Những bài học từ Giải Nobel 2015 https://viethungpham.com/2015/10/08/lessons-from-nobel-prizes-2015-nhung-bai-hoc-tu-giai-nobel-2015/
[21](Cybernetics, xuất bản lần thứ 2, trang 132) http://www.informationphilosopher.com/solutions/scientists/wiener/
[22]Để thấy Nghịch lý Russell nghiêm trong thế nào, xem ĐỊNH LÝ BẤT TOÀN (3): LỜI SÁM HỐI của một nhà toán học hình thức https://viethungpham.com/2010/07/08/d%E1%BB%8Bnh-ly-b%E1%BA%A5t-toan-3-l%E1%BB%9Di-sam-h%E1%BB%91i-c%E1%BB%A7a-m%E1%BB%99t-nha-toan-h%E1%BB%8Dc-hinh-th%E1%BB%A9c/

BẢO TÀNG LĂNG MỘ VUA NAM VIỆT TRIỆU VĂN ĐẾ TẠI QUẢNG CHÂU





(Những quan điểm trái chiều giữa các học giả Đức và Trung Hoa)

TS. Nguyễn Tiến Hữu,nguyên giáo sư ĐH München và ĐH Passau, CHLB Đức                  BÀI THAM LUẬN HỘI THẢO KHOA HỌC
 TÌM VỀ CỘI NGUỒN SỬ VIỆT 2018
                                                                
                                                         DẪN NHẬP

Nhân kỷ niệm 10 năm kết nghĩa giữa hai thành phố Fankfurt (Đức) và Quảng Châu (Trung Quốc), lãnh đạo hai thành phố đã tổ chức một cuộc triển lãm rất công phu và tốn kém tại nước Đức là tp. Fankfurt (từ 15.12.1998 đến 22.01.1999) và tại tp. München (từ tháng 1 đến tháng 3.1999). Tên cuộc triển lãm là: Bảo vật vua Triệu Mộ - lăng mộ vua Nam Việt. Đức ngữ là Schätze für König zhao Mo - Das Grab von Nan Yue.

Thành phố Fankfurt đã xuất bản một cuốn sách nghiên cứu rất khoa học, dày 367 trang (khổ lớn 23 x 29 cm) có hàng ngàn hình ảnh, đồ họa với tính khoa học nghiêm túc, để giới thiệu cuộc triển lãm. Sách có giá khá đắt (50 Euro thời 1999) đúng tầm cỡ cuộc triển lãm “vĩ đại” lần đầu tiên ra mắt tại Châu Âu (theo lời giới thiệu đầu sách)(1). Hiện nay tôi đang sở hữu cuốn sách này.Các bảo vật được triển lãm gồm hàng ngàn cổ vật là đồ tùy táng trong ngôi mộ: trống đồng, thạp đồng, gương đồng, đồ gốm, ngọc bích… toàn là cổ vật sản xuất thời đại Đông Sơn do dân Lạc Việt thời Hùng Vương chế tác. Các chuyên gia khảo cổ học và cổ sử người Đức đã khẳng định như thế trong các bài chuyên khảo, nhưng các các nhà nghiên cứu và các quan chức Trung Hoa (Phó giám đốc bảo tàng, chủ tịch Hội kết nghĩa hai tp. Fankfurt và Quảng Đông…) thì giới thiệu bảo vật của bảo tàng một cách mập mờ chủ yếu đề cao Tây Hán mà phớt lờ Nam Việt vốn có địa vị độc lập, tự chủ dưới thời nhà Triệu.

Với tên gọi bảo tàng bằng chữ Hán là Tây Hán Việt Vương mộ bác vật quán (chữ Hán….), người Trung Quốc muốn nhấn mạnh đến Tây Hán hơn là Nam Việt và phớt lờ địa vị chủ ngôi mộ là một hoàng đế Nam Việt có con dấu Văn Đế hành tỉ (Wen Di xong xi) được chôn theo nằm bên cạnh. Đáng lẽ phải đặt tên là “Lăng mộ bác vật quán thời Tây Hán” mới đúng tinh thần của chủ mộ. Cái tên này được các học giả Đức dịch đảo ngược lại thành “Bảo vật vua TriệuMộ - lăng mộ vua Nam Việt”. Họ bỏ chữ “Tây Hán” và nhấn mạnh chữ Nam Việt.
Nhà nghiên cứu Trương Thái Du cũng chung một quan điểm khi ông đề cập đến cái tên gọi của bảo tàng bằng chữ Hán “Tây Hán Việt Vương mộ bác vật quán” . Ông viết: “Thấy chữ này như một chiếc cũi vô hình trói buộc nhận thức, định dạng di tích mộ Nam Việt Văn vương trong vòng cương tỏa của nền văn hóa Hán tộc, mặc dù ý chí độc lập và tự cường gần 100 năm của các triều đại Nam Việt vương là không thể phản bác. Bằng chứng là từ thời Triệu Đà, Nam Việt đã chịu xưng vương trước nhà Hán nhưng Triệu Hồ vẫn sử dụng “Văn Đế hành tỉ”, chữ Đế xem như một biểu tượng bất khuất” (2).
Trong bài này tôi chỉ bàn về các bài giới thiệu cuộc triển lãm của các học giả Đức và các quan chức người Trung Hoa đại diện cho chính quyền hai thành phố kết nghĩa. Phần này rất quan trọng đối với độc giả xem triển lãm, vì nó có tính cách hướng dẫn và định hướng cho cuộc triển lãm.

TRUNG QUỐC MUỐN ĐÁNH TRÁO QUA MẮT 
CÁC CHUYÊN GIA NGƯỜI ĐỨC

Gần đây học giả Trung Quốc Quan Mẫn (Guan Min) trong bài nghiên cứu Tứ đại phát minh của Trung Quốc: liều thuốc độc của phép thắng lợi tinh thần (3). Nói về thói quen Trung Quốc hay “nhận bừa”những phát minh của nhân loại làm của riêng mình như đúc đồng, luyện kim, kỹ nghệ ngọc thạch, kỹ nghệ thủy tinh, thuốc nổ, kim chi nam, thuật in ấn, làm giấy,…Quan Mẫn phê phán nghiêm khắc“người Trung Quốc vốn kiêu căng, cho rằng Trung Quốc là nơi phát minh sớm nhất” còn các dân tộc khác như Bách Việt là loại man di.
Nay nhân dịp giới khảo cổ học phát hiện ra lăng mộ của Triệu Văn Đế tại Quảng Châu vào năm 1980 và đã xây dựng một bảo tàng đồ sộ mang tên “Lăng mộ Triệu Văn Đế”(gần Phiên Ngung, kinh đô Nam Việt xưa, nay thuộc thành phố Quảng Châu, Tring Quốc). Triệu Văn Đế cũng có tên là Triệu Muội, Triệu Mộ hay Triệu Văn Vương, là cháu nội của Triệu Đà làm vua Nam Việt từ năm 124 đến năm 112 TCN.
Lợi dụng cuộc triển lãm quy mô này, người Trung Quốc vốn có sẵn mưu đồ đại Hán (chiếm đất, chiếm văn hóa các dân tộc ngoại bang), khuếch trương, khoe khoang nền văn hóa Hán tộc và phớt lờ nền văn hóa bản địa của Nam Hán đã một thời là một vương triều đứng ngang hàng với hoàng đế Tây Hán trị vì gần 100 năm qua năm triều đại của nhà Triệu (207 - 111 TCN), với một nền văn minh xán lạn phát triển rất cao, có ảnh hưởng lớn đến văn hóa Hán tộc sau này. Đó là nền văn hóa Đông Sơn thời Hùng vương.

                                NAM VIỆT DƯỚI THỜI NHÀ TRIỆU

Khi Triệu Đà sang đánh An Dương Vương thì bên Trung Quốc nhà Tần đã suy, nhà Hán sắp lên trị vì. Đang lúc Trung Quốc có đại loạn, chính trị rối rắm thì Triệu Đà cai trị Nam Việt như một nước hoàn toàn độc lập, tự chủ, tuy bề ngoài còn triều cống vua Hán cho có lễ nhưng trên thực tế thì Triệu Đà và các vua sau đã cai trị Nam Việt như ông vua một nước độc lập, thậm chí tự xưng là Đế ngang hàng với hoàng đế phương Bắc. Sau này Triệu Văn Đế cũng dùng con dấu “Văn Đế hành tỉ” (wen di xeng xi), mà tiến sĩ Uta Lauer, Đh. Fankfurt (Đức), chuyên gia khảo cổ học đã dịch sang Đức ngữ là “Siegel des Kaisers” “con dấu của HoàngĐế(Kaiser có nghĩa là Hoàng đế)(4).
Vấn đề độc lập tự chủ của Nam Việt dưới thời nhà Triệu được các học giả người Đức nhấn mạnh và mô tả rất khoa học kèm theo nhiều hình ảnh và dịch đúng nghĩa, đang lúc các quan chức Trung Quốc phớt lờ những điểm này mà chỉ nói đến Tây Hán mà hoàng đế có quyền thực sự kể cả trên đất Nam Hải tận biên cương phía Nam xa xôi. Đó là bài giới thiệu cuộc triển lãm của ông Lin Shusen, thị trưởng thành phố Quảng Châu với câu như sau “Năm 1983 ngôi mộ vua Nam Việt vương được khai quật và được xem nhưkho tàng quý giá của văn hóa thời Tây Hán trong vùng Lĩnh Nam… cuộc triển lãm trưng bày hàng ngàn hiện vật tùy táng sẽ giúp hiểu biết lịch sử xã hội thành phố Quảng Châu hơn 2000 năm trước…”(5).
Bài giới thiệu này chỉ 15 hàng ngắn gọn, đang lúc các bài của các học giả Đức toàn là những nhà khảo cổ danh tiếng thì rất dài; như bài giới thiệu của tiến sĩ Margarete Prüch, người chủ biên cuốn sách này (5 trang); hoặc bài của tiến sĩ Hermann Josef Röllicke với đề tài Nam Việt theo sử gia Tư Mã Thiên (145 - 85 TCN) dài 12 trang với 21 chú thích khoa học, tham khảo; bài của tiến sĩ Lucas Nickel Lăng mộ bằng đá của vua Nam Việt dài 15 trang với 47 chú thích khoa học. Trong bài nghiên cứu của tiến sĩ Nickel, tác giả luôn dùng những lời lẽ tôn kính đối với vương triều nhà Triệu và chứng minh Nam Việt là một vương quốc hùng mạnh, độc lập với Hán triều phương Bắc. Tác giả viết: “Chủ nhân của ngôi mộ là Triệu Văn Đế, vị hoàng đế thế hệ thứ hai sau Triệu Đà là vị hoàng đế khai quốc Nam Việt, một vương quốc cường thịnh ở thế kỷ thứ II TCN (6)”. Tiến sĩ L. Nickel mô tả lăng mộ Triệu Việt Vương “như một triều đình thu nhỏ của thiên hạ ý thức được quyền lực đế vương của mình, không thua kém những hoàng đế phương Bắc. Ngoài các đồ mai táng quý giá ra còn có cả thân nhân gia quyến của cả một triều đình cùng kẻ hầu hạ (15 người) cũng được chôn theo: hoàng hậu, phi tần, quan hầu hạ, ngựa xe…”(7). Ts. Nickel đặc biệt mô tả“các thùng đựng đồ mai táng nhỏ được đóng con dấu hoàng đế (Di yin) trên đất nung. Đây là con dấu chỉ riêng hoàng đế dùng, không ai có quyền dùng nó. Điều này đặt ra câu hỏi liệu lăng mộ này đã được Triệu Mộ cho xây khi ông còn sống và tự tay đóng dấu này lên các thùng đựng đồ mai táng, các nhân vật sẽ được tuẫn táng sau khi ông mất. Toàn bộ quy mô hoành tráng với 11.465 báu vật và 15 nhân mạng tùy táng với xe ngựa, châu ngọc quý giá, các con dấu cá nhân và của cả hoàng hậu là ý định của Triệu Mộ cho hậu thế có một khái niệm về một vương quốc Nam Việt hùng mạnh, tự cường khác với những gì sử sách của Hán tộc phương Bắc có thể viết không đúng về Nam Việt(8). Tiến sĩ Nickel viết tiếp: “Sử gia Hán triều xem Triệu Mộ là một ông vua thuộc quốc (tiếng Đức: Lehenskönig) dưới quyền hoàng đế nhà Hán, nhưng toàn cảnh lăng mộ lại tỏ ra người chủ mộ tự đặt mình ngang hàng với Hán đế, không chỉ các con dấu to nhỏ đủ cỡ với dòng chữ Văn Đế hành tỉ (Wen Di xong xi) mà còn cả trên các chuông đồng nhạc cụ. Ông không bao giờ tự nhận mình là vua (Đức ngữ là König) mà đàng hoàng là một hoàng đế (Đức ngữ là Kaiser) (9)”.Ngay ông nội của chủ mộ là Triệu Đà cũng tự xưng là Triệu Vũ Đế (Wudi), thì chủ mộ cũng tự xưng là Triệu Văn Đế (Wendi). Tiến sĩ Nickel nói tiếp “Việc này tỏ ra là một hành độngngang ngược quá sức (Đức ngữ là ungeheuer provoquant)chẳng có một chút mảy may phục tùng Hán đế… Ngay cái tên nhạc phủ (yue fu) với các nhạc cụ cung đình như chuông, đàn đá… cũng tỏ ra chủ mộ có riêng một triều đình uy nghi của một vị hoàng đế.Một ngôi mộ với chuông, khánh của một nhạc phủ như thế không thể có ở các ngôi mộ của một nước chư hầu nào mà người đứng đầu chỉ là vua (vương hầu, tiếng Đức: Lehenskönig). Ngôi lăng mộ của Triệu Văn Đế rõ ràng là một dấu hiệu chính trị đối ngoại và ngoại giao chứng tỏ mìnhđường đường là một hoàng đế Nam Việt mà Hán triều phương Bắc phải công nhận. Tại triều đình Triệu Văn Đế, ông phớt lờ các luật lệ nghiêm ngặt của Hán triều cấm mai táng theo lối nhà Hán, chỉ dành riêng cho bậc thiên tử nhà Hán trung ương.Lăng mộ Triệu Văn Đế đã nâng cao vị chủ mộ lên một bậc: mộ kiểu hoàng đế của một người tự xưng là hoàng đế khi còn sống” (10).
Các tác giả người Đức trong cuốn sách này đều có chung một quan điểm như tiến sĩ  Nickel trong bài viết về Triệu Văn Đế. Đó là các học giả:
Ts. Hermann Josef Röllicke với bài “Nam Việt theo sử gia Tư Mã Thiên (145 - 85 TCN)” (11).
Ts. Andrea C Keller với bài “Thế giới người chết thời Tiền Hán” (12).
Ts. Jesica Rawson với bài “Nơi ở vĩnh cửu: Những ngôi mộ các vua Nam Việt và các hoàng tử ở Đông Trung Hoa” (13).
Ts. Magdalene von Dewall với bài “Miền Hoa Nam - nơi gặp gỡ các nền văn hóa cổ sử” (14).
Ts. Thomas O. Höllman với bài “Phiên Ngung cánh cửa phía Nam đi vào Trung Hoa thời nhà Hán” (15).
Ts. Uta Lauer với bài “Khép kín lại và đóng dấu ấn - Các con dấu trong lăng mộ vua Triệu Mộ” (16).
Và sau đây một vài trích dẫn bài của ông Lin Qihua, nhàkhảo cổ học Trung Hoa, là một trong bốn Phó Giám đốc bảo tàng, với đề tài“Ngôi mộ vua Nam Việt tại bảo tàng Quảng Châu”. Bài viết gồm 7 trang không có chú thích khoa học (17).Bài này ông Lin Qihua chủ yếu kể lại công cuộc khai quật ngôi mộ Triệu Văn Đế tại Quảng Châu.Có nhiều sai lầm cố ý hạ giá trị vị trí chính trị và văn hóa bản địa Bách Việt vốn rất cao của Nam Việt. Sau đây là vài sai trái của ông Lin Qihua:
-       Ông viết “có 1000 đồ mai táng”(18)(thực sự là có 11.465 đơn vị)
-       Ông không nói đến các thạp đồng, gương đồng và những đồ đồng, đồ gốm có nguồn gốc Đông Sơn. Các gương đồng mà những tác giả nước Đức mô tả rất kỹ và rất khoa học đề cao nghệ thuật đúc đồng và kỷ thuật làm thủy tinh của Nam Việt.

-       Về đồ đồng ông Lin Qihua chỉ viết“có hơn 300 cổ vật làm bằng đồng…”. Sự thật đồ đồng mai táng trong lăng mộ có 600 hiện vật(19). Các báu vật này rất quan trọng minh chứng kỷ thuật đồng sắt của Bách Việt thời ấy rất cao và có nguồn gốc đồ đồng Đông Sơn.
-       Về các miếng thẻ ngọc thạch ông Lin Qihua viết: “có 240 miếng, đặc biệt là bộ áo của vua được kết nối với những sợi tơ lụa”(20). Sự thật số ngọc thạch rất nhiều, riêng bộ áo vua mặc đã có đến 2.291 thẻ ngọc(21).
Ông kể lại các cuộc triển lãm lưu động những báu vật lăng mộ Triệu Văn Đế ở nhiều nơi như Hồng Kông (1991), Nhật (1996), Đài Loan, đặc biệt là tại nước Đức, lần đầu tiên trên đất Châu Âu. Ông viết: “Nhân dịp kỷ niệm 10 năm kết nghĩa hai thành phố Quảng Châu và Fankfurt, 100 báu vật quan trọng từ ngôi mộ được đưa sang Đức triển lãm để dân chúng được chiêm ngưỡng và có được một ấn tượng về nền văn hóa của Quảng Châu trước 2000 năm trước(22).Không một lời về Nam Việt mà chỉ nói văn hóa Quảng Châu, làm cho dân chúng Âu Châu lầm tưởng là văn hóa Trung Hoa vì họ chỉ biết Quảng Châu nằm trong tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc”. Ông Lin Qihua viết tiếp: “về phong cách hình dáng ngôi mộ đặc biệt chú trọng phong cách kiến trúc mộ táng thời Hán(23)vẫn khác với phong tục phương Nam của Nam Việt.

Ông nhấn mạnh đến văn hóa Đại Hán, đặc biệt ở bức tường hai bên cổng chính vào Bảo tàng được trang trí bắt chước những miếng bi ngọc (thuộc đồ mai táng ở trong mộ) để tượng trưng cho văn hóa Hán tộc(24). Về bức tượng đắp hình một con cọp, ông viết:“để khơi nhớ nền văn hóa cổ nước Chu(25).
Và ông kết luận: “Tháng 6 năm 1983 phát hiện ngôi mộ, khánh thành bảo tàng năm 1988 .Trong 10 năm đã có 2 triệu lượt khách thăm bảo tàng.Họ đến từ nước ngoài và trong nước và mọi người đều bở ngỡ choáng ngợp trước kho tàng quý báu và nền văn hóa cổ đại của Trung Hoa.Không gian hài hòa, kiến trúc đặc sắc, tiếp đón nồng hậu, ai cũng khen ngợi. Họ là: các lãnh đạo nhà nước Trung Hoa, các nguyên thủ quốc gia, các vị khách quý được mời. Bảo tàng trở thành một điểm tham quan cho mọi tầng lớp xã hội: đối với học sinh đây là một phòng học thứ hai, để dạy lớp thực nghiệm… Bảo tàng này mở ra cánh cửa nhìn vào 2000 năm lịch sử và văn hóa là một ví dụ tuyệt vời cho việc khai thác và giữ gìn một ngôi mộ thời Hán kết nối việc bảo tồn và sử dụng trong thời hiện đại” (26).
Đọc bài giới thiệu của ông Lin Qihua, độc giả người Đức và Châu Âu sẽ có ấn tượng đây là một bảo tàng ngôi mộ của một nhà vua Hán ở Quảng Đông Trung Quốc chứ không có một khái niệm gì về lịch sử và văn hóa của một vương triều nhà Triệu là Đế vương của Nam Việt gần 100 năm trên một vùng đất rộng lớn của nước Văn Lang xa xưa mà chủ nhân là dân Lạc Việt.
LỜI KẾT
          Qua việc lăng mộ Triệu Văn Đế ở Quảng Châu, chúng ta thấy luận điệu tuyên truyền của người Hán nhằm chiếm đoạt văn hóa truyền thống người Việt. Chúng ta vốn tự hào là con rồng cháu tiên, có bổn phận cấp bách ôn lại lịch sử cha ông và đòi lại sự công bằng lịch sử của tổ tiên bằng cách xác định sự thật lịch sử rằng: Dân Lạc Việt chúng ta từ phía Nam tiến lên phía Bắc và đã có mặt lâu đời trên đất Trung Hoa và để lại một nền văn minh nông nghiệp xán lạn mà ngày nay dân Trung Hoa đang thừa hưởng. Cái gọi là văn minh Trung Hoa ngày nay đều do các dân Lạc Việt sáng tạo trong đó có cả chữ Hán, tiếng nói, kinh Dịch, Tứ thư,Ngũ kinh và kỷ thuật (kỷ nghệ đúc đồng, sắt, thủy tinh, làm giấy, mái nhà cong...) đến cả phong tục tập quán tín ngưỡng nhất là hệ tư tưởng triết lý âm dương kinh dịch... cả nền minh triết Việt.

Đây là những lý do giải mã câu hỏi: “Tại sao dân Việt Nam là dân tộc duy nhất không bị Hán hóa, đang lúc các dân tộc khác trong khối Bách Việt đều bị Hán hóa”. Câu trả lời đơn giản là: “không hề có Hán hóa nòi giống của chúng ta” như lời nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy khẳng định (27).

Câu chuyện dân gian trong tranh Đông Hồ (“Nòng nọc đứt đuôi”(28)) dụng ý nói rằng: dân tộc Trung Hoa hiện tại, đặc biệt ở miền Nam Hoa vốn là dòng dõi con cháu Lạc Việt sẽ có ngày tìm về với tổ tiên Việt một cách tự nguyện vì dòng máu Việt vẫn còn chảy trong con người Trung Hoa ngày nay mà khoa học công nghiệ hiện đại đã công nhận qua xét nghiệm ADN (29).

Bảo vật trong Lăng mộ Triệu Văn Đế là sự nối tiếp phát triển từ Hùng Vương đến Âu Lạc và Nam Việt là đỉnh cao may mắn còn được giữ lại dưới lòng đất suốt hơn 2000 năm để chúng ta và con cháu mai sau chiêm ngưỡng, tìm hiểu, giải tỏa nhiều nghi vấn ẩn số lịch sử. Học giả Hoàng Xuân Hãn có lần nói: “Chúng ta phải tìm hiểu lịch sử cha ông dưới đất và dưới nước”. Thật đúng khi mà chiến tranh, giặc ngoại xâm chủ yếu là người Hán trong 1000 năm Bắc thuộc, bão lụt, hỏa hoạn đã tàn phá và cướp đi quá nhiều di tích lịch sử cha ông thì những gì khảo cổ học khai quật được thật là vô giá nên người Trung Hoa muốn chiếm đoạt để nhận bừa là của họ. Bổn phận chúng ta ngày nay là“Phục hồi kho tàng văn hóa của tổ tiên, lập nên tập đại thành của văn hóa dân tộc Việt... tập trung trí lực viết lại cuốn sử chân thực của tộc Việt” như nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy tha thiết kêu gọi (30).
                                                               CHÚ THÍCH

(1)           Prüch M. (chủ biên), 1999, tr. 25.

(2)           Trương Thái Du, 2006, tr. 110.

(3)           Văn hóa Nghệ An, số 247 (25.08.2017), tr. 32.

(4)           Laurer, V.  trongPrüch M.  , 1999, tr. 122.

(5)           Röllike, H. J.  trongPrüch M.  , 1999, tr. 33.

(6)           Nickel, L. trong Prüch M.  , 1999, tr. 54.

(7)           Sách đã dẫn, tr. 64.

(8)           Nt

(9)           Sách đã dẫn, tr. 66.

(10)       Nt

(11)       Röllike, H. J.  trongPrüch M.  , 1999, tr. 33.

(12)       Keller, A. C.  trongPrüch M.  , 1999, tr. 44.

(13)       Rawson, J.    trongPrüch M.  , 1999, tr. 80.

(14)       Dewall, M.   trongPrüch M.  , 1999, tr. 80.

(15)       Höllman, T.  O.  trongPrüch M.  , 1999, tr. 108.

(16)       Lauer, U.   trongPrüch M.  , 1999, tr. 122.

(17)       Lin Qihua,   trong Prüch M.  , 1999, tr. 25.

(18)       Nickel, L. trong Prüch M.  , 1999, tr. 25.

Xem Nguyễn Xuân Quang, Những nét văn hóa Bách Việt trong mộ Nam Việt Vương trong mộ Việt Vương, Quảng Châu, Trung Quốc, Nguồn: https://bacsinguyenxuanquang.wordpress.com/2011/07/29/nhung-net-van-hoa-bach-viet-trong-mo-nam-viet-vuong-quang-chau/

(19)       Nguyễn Xuân Quang có ghi rõ: 36 đỉnh đồng, 9 thạp đồng, 9 bình đồng, nhạc khí gồm 14 thanh, một bộ chuông gồm 14 cái,…

(20)       Lin Qihua,   trong Prüch M.  , 1999, tr. 25.

(21)       Trịnh Quang Vũ, Mỹ thuật Đông Sơn trong lăng mộ Nam Việt Văn Đế (2000 năm trước), Nguồn: http://hodovietnam.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=3260&Itemid=32

(22)       Lin Qihua,   trong Prüch M.  , 1999, tr. 25.

(23)       nt, tr. 30.

(24)       nt, tr, 32

(25)       nt

(26)       nt

(27)       Hà Văn Thùy, 2008, Hành trình tìm lại cội nguồn - Nghiên cứu và đối thoại, Nxb. Văn học, tr. 191.

(28)       Chuyện kể rằng: Bọn nòng nọc mới nở sống dưới nước tưởng cha mình là con cá trê nên theo cha. Khi nòng nọc đứt đuôi nhảy lên bờ thì theo mẹ là con cóc.

(29)       Hà Văn Thùy, 2017, Nhìn lại việc đánh giá Triệu Đà và nước Nam Việt.

(30)       Hà Văn Thùy, 2017, Nhà nước xích quỷ - Từ huyền thoại đến hiện thực, Nxb. Hội Nhà văn.
                                                            TÀI LIỆU THAM KHẢO

-       Bảo tàng lăng mộ Triệu Văn Đế, Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Bảo_tàng_Lăng_mộ_Triệu_Văn_Đế

-       Đào Duy Anh, 2005, Lịch sử cổ đại Việt NamNxb. Văn hóa thông tin, tr. 93-94

-       Hà Văn Thùy, 2006, Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt, Nxb. Văn học.

-                                             2017, Nhà nước xích quỷ - Từ huyền thoại đến hiện thực, Nxb. Hội Nhà văn.

-                                             2015, Thủy tổ người Việt thực sự ở đâu?, Nguồn: httpt://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/thuy-to-nguoi-Viet-thuc-su-o-dau.html.

-                                             2008, Hành trình tìm lại cội nguồn - Nghiên cứu và đối thoại, Nxb. Văn học.

-                                             2017, Nhìn lại việc đánh giá Triệu Đà và nước Nam Việt.

-                                             2016, Góp phần nhận thức lại lịch sử văn hóa Việt, NXB Hội Nhà văn

-       Nam Việt (趙國), Nguồn:http://zh.wikipedia.org/Nam-Việt.

-       Nguyễn Duy Chính, Lăng mộ Triệu Văn Đế ở Quảng Châu, Nguồn: http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/chu-de/12963-phát-hiện-mộ-triệu-đà-nam-việt/

-       Nguyễn Xuân Phước, Bách Việt trong lòng Đại Việt, Nguồn: https://bienxua.wordpress.com/2018/03/28/bach-viet-trong-long-dai-viet/

-       Nguyễn Xuân Quang, Những nét văn hóa Bách Việt trong mộ Nam Việt Vương trong mộ Việt Vương, Quảng Châu, Trung Quốc, Nguồn: https://bacsinguyenxuanquang.wordpress.com/2011/07/29/nhung-net-van-hoa-bach-viet-trong-mo-nam-viet-vuong-quang-chau/

-       Prüch M. (chủ biên), 1999, Schätze für König Zhao Mo - das Grab von Nam Yue (tiếng Việt: Bảo vật vua Triệu Mộ - lăng mộ vua Nam Việt), Nxb. Umschau/Braus Verlag, Frankfurt, Đức ngữ. Sách gồm 6 bài nghiên cứu về đề tài này.

-       Trần Đại Sỹ, 1995, Từ triết học đến huyền thoại về nguồn gốc tộc Việt, trong Văn nghệ Tiền Phong, tr. 13-14 & 74-75.

-       Trịnh Quang Vũ, Mỹ thuật Đông Sơn trong lăng mộ Nam Việt Văn Đế (2000 năm trước), Nguồn: http://hodovietnam.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=3260&Itemid=32

-       Trương Sỹ Hùng & Nguyễn Khắc Mai (đồng chủ biên), 2017, Nhà Triệu - mấy vấn đề lịch sử, Nxb. Hội Nhà văn.

-       Trương Thái Du, 2004, Cổ sử Việt Nam - Một cách tiếp cận vấn đề, Nxb. Lao động.
                                                                           Long Hải, ngày Giỗ tổ Hùng Vương, 2018.