Thứ Tư, 19 tháng 9, 2018

Sách giúp nhập môn lịch sử học

https://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/diem-sach/sach-giup-nhap-mon-lich-su-hoc-3800740.html Thứ năm, 6/9/2018, 16:24 (GMT+7) Sách giúp nhập môn lịch sử học Tác phẩm của nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Thế Anh (Đại học Văn khoa Sài Gòn, 1974) vừa được tái bản. Với 11 chương, sách giúp người đọc làm quen với những phương pháp căn bản nhất của quá trình tiếp cận môn lịch sử. Qua việc trích dẫn những tác phẩm nổi tiếng thế giới của các sử gia có sức ảnh hưởng từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim, sách còn đưa độc giả tìm hiểu thêm nguồn gốc và lịch sử hình thành của sử học. Từ đó, người đọc có thể cùng phân tích xem tinh thần sử học xưa nay đã có những thay đổi biến chuyển gì, hay những quan điểm về sử học từ những tư tưởng khác nhau giữa các sử gia liệu ảnh hưởng đến kết quả của các nghiên cứu lịch sử như thế nào. Bìa cuốn "Phương pháp Sử học: những nguyên tắc cơ bản". Khi xuất bản năm 1974, sách có tên là "Nhập môn phương pháp Sử học". Khi nghiên cứu lịch sử, sử gia cần phải biết mục đích của các nghiên cứu. Nhiều sử gia thậm chí còn tự vấn về ngành chuyên môn của họ và tìm cách định nghĩa một cách giản lược về mục đích nghiên cứu. Chẳng hạn, sử gia người Đức Leopold von Ranke cho rằng nghiên cứu sử nhằm; "làm cho thấy các sự việc xảy ra như thế nào", hoặc nói cách khác là, lặp lại quá khứ như nó đã xảy ra. Còn sử gia Pháp Jules Michelet gọi đó là: "hoàn sinh lại tất cả sự sống". Sử gia người Anh của thế kỷ 20 R. G. Collingwood lập luận mục đích của nghiên cứu sử bằng "tái diễn lại kinh nghiệm quá khứ". Từ các lý giải về mục đích nghiên cứu lịch sử đó, tác giả đúc kết: "Nhờ nghiên cứu sử, ta tìm được thời gian, ta hoàn lại sự sống cho một hiện tại đã thành quá khứ". Mặt khác, ông vẫn nêu ra ý kiến phủ định: "Sử không phải là bức họa tô lại từng khoảnh khắc một sự tiến hóa của nhân loại. Giữa lịch sử thực tại và lịch sử nhận thức bởi sử gia, có sự khác biệt rõ rệt" Vì vậy, theo kinh nghiệm một sử gia ông kết luận: "Làm quá khứ hoàn toàn sống lại là một việc không ai có thể làm nỗi, chỉ vì một lý do kỹ thuật: sử gia chỉ có thể bắt được hình ảnh quá khứ qua các sử liệu. Nhưng quá khứ sau khi xảy ra, đã vĩnh viễn biến đi mà chỉ để lại dấu vết ngẫu nhiên mà thôi". Công việc nghiên cứu sử có thể thực hiện với nhiều hình thức khác nhau, bao gồm bốn loại được khái quát như sau: Nghiên cứu sử theo diễn tiến thời gian, Nghiên cứu sử theo khu vực địa lý, Nghiên cứu lịch sử theo tổ chức chính trị và cuối cùng Nghiên cứu lịch sử để tập hợp những tiểu sử. Song, Nguyễn Thế Anh nhấn mạnh con người không sống trong cái ngăn mang nhãn hiệu “pháp luật”, “tôn giáo”, “chính trị” hay “kinh tế”. Thành thử vấn đề không phải là nghiên cứu quá khứ theo cách thức nào, mà là nghiên cứu làm sao để nắm bắt được sự phong phú của đời sống. Sau khi nắm bắt được mục đích của việc nghiên cứu lịch sử, trước khi làm tròn vai trò của sử gia, các nhà nghiên cứu phải định nghĩa một sự kiện lịch sử. Trong phần này, tác giả nhắc đến hai yếu tố sử gia có thể dựa vào để định nghĩa một sự kiện lịch sử: Chọn lựa, Kết cấu. "Sự kiện lịch sử là kết quả của một sự chọn lựa, vì mỗi sự kiện kết cục chẳng là gì ngoài những cử động hay những lời nói mà tài liệu lịch sử ghi lại cho ta". Muốn đi đến quá khứ, sử gia phải thông qua con đường sử liệu. Trong thư mục này, tác giả đưa ra các giải pháp cho công việc tìm và truy cứu sử liệu. Bắt đầu với khái niệm "sử liệu là bằng chứng của quá khứ", sử gia sẽ tiến hành tìm và chọn tài liệu nghiên cứu. Khi đã có tài liệu, người sử dụng tài liệu tiến tới khai thác các khía cạnh kỹ thuật của vấn đề tài liệu. Ở góc độ này, sử gia thường có các phân biệt giữa Tài liệu đầu tay hay Tài liệu trực tiếp, bằng chứng để lại bởi chứng nhân nghe tận tai hay nhìn tận mắt. Bên cạnh là Tài liệu gián tiếp, bằng chứng để lại bất cứ một ai không phải là chứng nhân. Cuối cùng, để đi đến giá trị của sự thật được tìm ra bởi sử học, các nhà nghiên cứu lịch sử phải qua nhiều quá trình khác nữa, như khảo cứu, sử dụng công cụ khai thác, tiếp cận các loại tài liệu khác nhau hay đặt sự hiểu biết lên những nghiên cứu đó để đưa ra kết quả cuối cùng. Ý nghĩa của lịch sử trong đời sống nhân loại là vô cùng quan trọng. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc nếu không có lịch sử, hay không biết gì về lịch sử của mình, sẽ chẳng khác gì con người sống mà không có ký ức. Vì thế, công việc của một sử gia là một công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, công bằng và đầy tính kiên nhẫn. Tác giả Nguyễn Thế Anh sinh năm 1936 tại Lào. Ông là nhà nghiên cứu lịch sử nổi tiếng ở miền Nam, từng giữ chức Viện trưởng Viện Đại học Huế, sau đó, chịu trách nhiệm môn Sử học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn. Sau khi sang Pháp, ông là giáo sư ở Đại học Sorbonne (Paris). Lê Hữu Nam

Thứ Tư, 12 tháng 9, 2018

Bách Việt trong lòng Đại Việt

   Nguyễn Xuân Phước

Để tưởng nhớ Trung Tá Phạm Việt Châu, tác giả “Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh” người đã ra đi như một thuyền trưởng ở lại với con tàu lịch sử tháng 4 năm 1975.

Người Việt chúng ta thường cho rằng mọi hình thức văn hoá và con người phát xuất từ phương bắc của Việt Nam, đặc biệt là từ vùjjjng Hoa Nam của Trung quốc, đều thuộc về Trung Hoa. Chúng ta vẩn gọi chung người Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam, Hẹ là ngươì Tàu hay người Hoa, kể cả toàn bộ người dân sống ở những vùng này cách đây hàng mấy ngàn năm cũng là người Tầu. Chữ “Tầu” hay “Hoa” hàm ý nghĩa họ là những người khác chủng với dân tộc Việt. Họ là người Trung Hoa, hay ngườì Hán.

Quan điểm nầy trước hết sai lầm về mặt lịch sử xuất phát của dân tộc và đất nước Việt, và sau đó tạo cho Hoa Kiều sống tại Việt Nam một mặc cảm tâm lý chủng tộc khó hội nhập vào cộng đồng dân tộc và tạo nhiều bất lợi cho nền kinh tế và văn hoá nước nhà. Bên cạnh đó nước Trung Hoa to lớn về dân số lẫn đất đai không thể nào bỏ qua việc vận dụng thành phần người Hoa sinh sống ở nước ngoài để biến họ thành công cụ phục vụ cho chính quyền Hoa Lục.

Quan điểm sai lầm nầy của người Việt đối với người Hoa phát xuất từ quá trình đồng hoá quá lâu của người Hán đối với các dân tộc Bách Việt tại vùng Hoa Nam. Đồng thời nó phát xuất từ những nhận định sai lầm về lịch sử của các triều đại trước đây.

Ngày nay những nổ lực khám phá về lịch sử và địa lý miền Hoa Nam cổ đại, cũng như những nghiên cứu về chủng tộc dựa trên DNA đã chiếu nhứng ánh sáng mới giúp chúng ta đặt lại một số vấn đề cơ bản về chủng tộc và lịch sử. Những nhận định cơ bản nầy sẽ là nền tảng lý luận giúp chúng ta có một cái nhìn hợp lý về sử học nước nhà, một chính sách ngoại giao dựa vào văn hoá đồng chủng với các nước Đông Nam Á và các đảo quốc ở Thái Bình Dương, và một sách lược văn hoá đối với người Hoa đang sinh sống tại Việt Nam.

Địa Lý Bách Việt miền Hoa Nam thời cổ đại

Sự hiện diện của văn minh Bách Việt thời Thương Chu trong lịch sử Trung Hoa được đánh dấu bằng câu chuyện sứ giả Việt Thường ở phương nam đem Bạch Trĩ và Ruà sống ngàn năm để cống dâng cho vua nhà Chu. Lúc bấy giờ lãnh thổ của nhà Chu chỉ kéo dài tới sông Hoàng Hà. Đến thời Chiến Quốc, khoảng 500 trước công nguyên, một số dân tộc ở Nam Trung Hoa mới xuất hiện trong sử Trung Quốc. Nổi bật nhất là các nước Sở, nước Ngô và nước Việt.

  
Khi Sở, Ngô, Việt bị Tần Thủy Hoàng sát nhập vào Trung Hoa, và Lưu Bang đã diệt được Hạng Võ, cuối triều đại nhà Tần và đầu thời kỳ Hán khi Lưu Bang mới lên ngôi (256-195 TCN) phía nam nước Sở vẫn còn là chủ quyền của các dân tộc Bách Việt hoàn toàn độc lập và tự chủ. (Xem bản đồ Trung Hoa thời Tần Thủy Hoàng Cao tổ).

Truyền thuyết xác định rằng dân tộc Việt phát xuất từ Động Đình Hồ miền Lĩnh Nam. Sách Lĩnh nam Chích Quái của Trần Thế Pháp ở thế kỷ 15 kể Truyện họ Hồng Bàng như sau:

“Đế Minh cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Tục dung mạo đoan chính, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình.

Ngũ Lĩnh là năm rặng núi lớn ở Nam Trung Hoa thuộc miền Lĩnh Nam. Miền Lĩnh nam đưọc sử tây phương viết như sau “Lĩnh nam là vùng đất phia nam của rặng Ngũ Lĩnh gồm các rặng Đại Dũ /Dữu Lĩnh, Kỵ Điền Lĩnh, Đô Bàng Lĩnh, Manh Chử Lĩnh và. Việt Thành Lĩnh. Vùng nầy gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam và Giang Tây của Trung Hoa hiện đại. Vùng nầy do dân Bách Việt sinh sống và là tổ quốc của dân Nam Việt cổ đại” (xem http://en.wikipedia.org/wiki/Jiangxi )


Tác giả Việt Sử Thông Luận cho rằng, sau khi mất bản địa Thái Sơn (tỉnh Sơn Đông, bắc Trung Hoa), Con cháu Thần Nông đã rút quân về Động Đình Hồ để xây dựng căn cứ địa văn hoá mới cho dân Việt. Tướng của Đế Minh là Si Vưu ở lại giữ Thái Sơn và sau ba năm chiến đấu chống tù trưởng của nòi Hán là Hiên Viên, quân của Si Vưu tan rã và từ đó, dân Việt mất căn cứ địa văn hoá Thái Sơn. Hiên Viên chiếm đưọc thái Sơn lên ngôi là Hoàng Đế. Ngày nay, dân tộc Việt chỉ còn câu ca dao: “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” để ghi dấu cái nôi văn hoá đầu tiên của dân Việt.


Khi Lưu Bang cướp ngôi nhà Tần ở phưong bắc, thì ở phương nam, Triệu Đà thống nhất được các nước Bách Việt trong đó có cả nước Âu Lạc của tổ tiên chúng ta. Đó là cuộc thống nhất Bách Việt lần thứ nhất. Nhà Triệu truyền ngôi được 4 đời thì bị nhà Hán xâm chiếm và miền Lĩnh Nam bị bắc thuộc từ đó.

Đến thời kỳ Hai Bà Trưng, 40 năm sau công nguyên, Hai Bà đã thống nhất được 65 thành miền Lĩnh Nam. Sử viết: “Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Hai bà lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam. Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương.” Đây là cuộc thống nhất Bách Việt lần thứ hai.

Do đó, khi truy tầm nguồn gốc Bách Việt của dân tộc Việt cần để ý các vần đề sau đây:

- Thời cổ đại đã xuất hiện các dân tộc Bách Việt ở phía nam sống Dương Tử. Một số nước Việt giáp biên giới với nhà Chu thường được đề cập đến trong sử sách Trung Hoa, đó là Sở, Việt (với Viêt Vương Câu Tiển), Ngô Việt (với Ngô Phù Sai). Khi nhà Tần thống nhất thiên hạ, các nước Việt trên bị sáp nhập vào nhà Tần. Còn các nước Việt khác như Âu Việt, Mân Việt, Thái Việt, Điền Việt, Lạc Việt, Việt Thường và một số nước Việt khác phiá nam vẫn còn giữ được nền độc lập.

- Cần xem khám phá mới của Stephen Oppenheimer tác giả Eden in the East: The Drowned Continent of Southeast Asia (Địa Đàng ở Phương Đông: Lục Địa Đông Nam Á Bị Chìm Dưới Đáy Biển) để thấy nền văn minh Hoa Nam trãi dài xuống Đông Nam Á và các hải đảo ở Thái Bình Dương. Các dân tộc như Mân Việt, Ngô Việt, Âu Việt gồm các bộ tộc, Phúc Kiên, Triều Châu, Quảng Đông, Quảng Tây, Hẹ, Hải Nam, Đai Loan, Thái, Nam Dưong và các thổ dân ở vủng đảo Thái Bình Dương đều có nguồn gốc Bách Việt.

- Do các dân tộc Bách Việt đã sinh sống ở miền Hoa Nam trưóc khi vùng nầy bị Tần Hán xâm lược, dân Việt phải là chủ nhân ông nền văn hoá thời bấy giờ. Các khám phá khảo cổ về văn minh Hoa Nam trước thời Tần và Hán thuộc phải được coi là chỉ dấu của văn minh Việt, chứ không thể là của Hán tộc. Người Việt cần phải coi đó là di sản của Việt tộc và phải mạnh dạn giành lại chủ quyền văn hoá của mình.

Các nhà nhân chủng học Đài Loan gần đây đã tìm cách phục hồi lại nguồn gốc Bách Việt của ngừời Đài Loan như Phúc Kiến (Minnan, có lẽ là Mân Việt) và Hẹ (Hakka) là hai giống dân đông nhất trên đảo.

Hiện nay có nhiều nghiên cứu về DNA đã xác định quan hệ chủng tộc của các dân tộc Bách Việt. Cụ thể là trong tác phẩm nghiên cứu nguồn gốc chủng tộc dựa vào gen di truyền (DNA) của nhà nghiên cứu M. Liu của Mackay Memorial hospital và được viện Nghiên Cứu Sức Khoẻ quốc gia của Đài Loan tài trợ, tác giả M. Liu chứng minh là các giống dân miền Hoa Nam, Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương có liên hệ gen di truyên khác biệt với chủng tộc Hán ở miền bắc.
   Những khám mới về nhân chủng học của Đài Loan đã chiếu ánh sáng vào lịch sử nòi giống Bách Việt. Chúng ta có thể xác định rằng dân Bách Việt đã từng chiếm lĩnh miền Hoa Nam và dần dà bị Hán tộc xâm lăng và đồng hoá. Chỉ có Việt Nam hiện nay tức là Âu Lạc, Lạc Việt, Việt Thường và Đại Việt sau nầy, là còn giữ được văn hoá của Bách Việt.

Vấn đề người Tàu lập đế nghiệp ở Đại Việt

Sau khi đã xác định được địa lý văn hoá vùng Bách Việt chúng ta hãy trở về với một bí ẩn lịch sử của dân tộc ta. Đó là từ nhà tiền Lý (Lý Nam Đế) đến nhà Tây Sơn, một số các các triều vua lớn được sử sách của ta cho là có gốc từ Tàu.

Về Lý Nam Đế, sử gia Trần Trọng Kim viết: “Lý Bôn, có người gọi là Lý Bí, vốn dòng dõi người Tàu. Tổ tiên ở đời Tây Hán phải tránh loạn chạy sang Giao Châu, đến lúc bấy giờ là bảy đời, thành ra người bản xứ.”

Về dòng dõi nhà Trần, Đại Việt Sử Toàn Thư viết về gia phà của vua Trần Thái Tông như sau: “trước kia tổ tiên vua là người đất Mân, (có ngườì nói là Quế Lâm), có người tên là Kinh, đến ở hương Tức Mặc phủ Thiên Tường, sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, đời đời làm nghề đánh cá. Vua con của Thừa, mẹ họ Lê … (ĐVSKTT tr 159)

Về Hồ Quí Ly, Đại Việt Sử Ký toàn Thư viết: “Quý Ly, tự là Lý Nguyên, tự suy tổ tiên là Hồ Hưng Dật vốn ở Chiết Giang, đời Hậu Hán, thời Ngũ Quí sang làm thái thú Diễn Châu.” (ĐVSKTT tr 293).

Về nhà Tây Sơn, Việt nam Sử Lược của Trần Trọng Kim viết: “Nguyên tổ bốn đời của Nguyễn Nhạc là họ Hồ, cùng một tổ với Hồ Quí Ly ngày trước…” (VNSL Trần trọng Kim tr.. 144).

Như thế thì có ít nhất là bốn triều đại như Tiền Lý, Trần, Hồ, Tây Sơn đều là người gốc ở phương bắc và xuống phương nam lập nên đế nghiệp.
Phải chăng những vị lập nên các triều đại nầy là người Hán? Để giải đáp bài toán lịch sử nầy chúng ta phải xét lại hiện tượng phục hoạt của Việt tính hay ý thức Việt ở trong các triều đại nói trên.

SỰ PHỤC HOẠT CỦA VIỆT TÍNH TRONG THỜI KỲ BẮC THUỘC

Từ khi cuộc kháng chiến chống quân Hán xâm lược của Lữ Gia và Triệu Dương Vưong thất bại (111 TCN) đất Nam Việt bị nhà Hán chiếm đóng và danh xưng Việt đã bị linh lạc bởi quá trình đô hộ và đồng hoá. Từ thời kỳ Hán thuộc trở đi, danh xưng Việt đã biến mất trong các sách sử của Trung Quốc, và được thay thế bằng hai chữ An nam và Giao Chỉ. Ngay cả thời kỳ Hai Bà Trưng danh xưng Việt cũng chưa được phục hoạt.

Khoảng cách thời gian giữa Lữ Gia và Lý Bôn là hơn 650 năm. Tại sao khi Lý Bôn (544) lên ngôi ông lấy đế hiệu là Nam Việt Đế? Ý thức Việt trong đế hiệu đó ở đâu ra? Phải chăng suốt 650 năm bị Hán hoá, một tầng lớp nhân dân Bách Việt từ miền Lĩnh Nam rút về vùng đất Âu Lạc, Việt Thường vẫn giữ vững ý thức Việt, lưu giữ và bảo tồn nó qua không gian và thời gian.

Lịch sử chiếm đóng miền Lĩnh Nam của nhà Hán đi liền với những nổi dậy của dân tộc Việt và những cuộc đàn áp khốc liệt. Suốt hai ngàn năm, địa danh Lĩnh Nam biểu tượng cho tinh thần chống lại Hán hoá. Ngưòi dân miền nầy đưọc gọi là “Lục Lương” hay “Cường Lương” nghĩa là dân cứng cổ. (theo Lê Văn Siêu và Lý Đông A). Người đọc sử cần hiểu ý nghĩa về xã hội loạn lạc thời Hán ở vùng Lĩnh Nam. Khi sử gia Trần Trọng Kim viết: “ Tổ tiên (Lý Bôn) ở đời Tây Hán phải tránh loạn chạy sang Giao Châu.” người đọc sử phải hiểu rằng “Loạn” là những cuộc nổi dậy của dân bản địa nổi lên đánh đuổi chính quyền đô hộ phưong bắc.

Đây là lý do hợp lý nhất để giải thích sự kiện dòng họ Lý Bôn đã đi về phương Nam. Khi đã định cư ở Âu Lạc, dòng họ nầy vẫn ấp ủ tinh thần Phục Việt từ thế hệ nầy qua thế hệ khác. Họ chờ đợi để được thấy một ngày nào đó danh xưng Việt được tái hiện trong lịch sử. Dòng họ Lý Bôn và những dòng họ Bách Việt khác đã đã truyền lại cho con cháu mối quyết tâm nuôi dưỡng tinh thần quật khởi đợi ngày giành lại non sông.

Chỉ bằng sự xác định được quan hệ giữa Bách Việt và Lý Bôn chúng ta mới hiểu được tại sao ý thức Việt đã được phục hoạt trong phong trào độc lập của nhà Tiền Lý.. Nếu nói “Lý Bôn là dòng dõi người Tàu” như sử gia Trần Trọng Kim viết, thì e rằng chúng ta không giải thích được hiện tượng phục hoạt danh xưng Việt ở thời kỳ đó.

Đặc biệt là thời kỳ Lý Trần là thời kỳ cực thịnh của văn hoá Việt. Câu hỏi có thể đặt ra là nếu họ Trần có gốc Tàu thì tại sao họ Trần phải phục hưng văn hoá Việt?

Hay như trong hịch Tây Sơn của đức Quang Trung Hoàng đế kêu gọi : “đánh cho được để tóc dài, đánh cho được nhuộm răng đen, đánh cho nó chích luận bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hoàn, đánh cho sử tri Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ”. Nếu cho rằng Quang Trung mang dòng máu Tàu thì tại sao ông đòi đánh Tàu để dân tộc Việt được giữ gìn tục để tóc dài, ăn trầu, nhuộm răng đen, để cho bọn Tàu biết là nước Nam nầy là có chủ. Và khi đã diệt được quân xâm lược ngài đã yêu sách đòi nhà Thanh phải trả lại miền Lưỡng Quảng, tức là vùng Lĩnh nam thời cổ đại?

Chỉ có một câu trả lời hữu lý duy nhất là ông tổ của các dòng họ như Lý Bôn, Trần Thừa, Hồ Quí Ly và nhà Tây Sơn là những người thuộc giòng giống Bách Việt. Những dòng tộc nầy đã thất bại trong những lần nổi dậy chống quân xâm lược và đã lui về phương nam tìm đất sống. Họ đã hoà nhập vào văn hoá Âu Lạc, Lạc Việt và Việt Thường để trở thành người dân địa phương. Họ đã cùng với các dòng tộc Việt địa phương nuôi duỡng ý chí Phục Việt âm thầm dưới đáy tầng quốc dân từ đời nầy qua đời khác để lấy ý thức dân tộc làm sức mạnh kháng cự tham vọng của Hán tộc để bảo tồn văn hoá và giành lại độc lập cho dân tộc Việt.

Bách Việt trong Lòng Đại Việt

Nói tóm lại, lịch sử tồn tục và tiến hoá của dân tộc Việt là hành trình lui dần về phương nam trước sự lớn mạnh của Hán tộc để bảo tồn nòi giống. Từ thời cổ đại, dân tộc Việt đã mất Thái Sơn là cái nôi văn hoá đầu tiên. Sau khi Thái Sơn bị Hoàng Đế xâm chiếm, con cháu Thần Nông đã rút về Đông Đình Hồ vùng Lĩnh Nam để xây dựng lại căn cứ địa văn hoá lần thứ hai. Khi Lữ Gia thất trận, các dân tộc Bách Việt thuộc nước Nam Việt đã chạy vê Phong Châu ở phương nam hội nhập vào Âu Lạc để xây dựng lại căn cứ địa văn hoá thứ ba. (Xem Việt Sử thông Luật của LĐA, và Dịch Kinh Linh Thể của Kim Định)

Đây là lý do khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa các dân tộc Bách Việt thuộc 65 thành ở Lĩnh nam đã hưởng ứng. Địa lý chính trị thời kỳ Hai Bà chính là vùng Lĩnh Nam và nước Nam Việt cũ. Mặc dầu cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại, công cuộc thống nhất Bách Việt của Hai Bà đã tái hợp Bách Việt và kéo các dân tộc Bách Việt ngồi lại với nhau. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà đã cho các dân tộc Bách Việt và các gia đình vọng tộc ở miền Hoa Nam niềm hy vọng phục hoạt dân tộc Việt. Vùng đất Âu Lạc với những địa linh như Phong Châu, Mê Linh và những nhân kiệt như Hai Bà Trưng và Bà Triệu, và những danh tướng trong đoàn quân kháng chiến, đã nêu tấm gương yêu nước và là niềm hy vọng cho nòi giống Bách Việt.

Sau thời kỳ Hai Bà Trưng các dân tộc Bách Việt với dân tộc Âu Lạc đã hội nhập lại với nhau. Bên cạnh đó sự xuất hiện của Phật Giáo như là một hệ thống triết học và văn hoá trong thời kỳ nầy đã tạo nên một sức mạnh văn hoá mới được dân Việt nhanh chóng tiếp thu, và đã giúp cho dân Việt có chổ dựa tinh thần và vật chất. Về tinh thần, Phật Giáo hoà nhập vào văn hoá dân tộc để chống lại quá trình Hán hoá. Về vật chất, chùa chiền trở thành những trung tâm nối kết và vận động lịch sử từ miền Ngũ Lĩnh xuống đến tận Việt Thường. Luy Lâu (Bắc Ninh) trở thành trung tâm Phật Giáo miền Hoa Nam.

Các tổ sư Mâu Bác, Huệ Năng đưa Phật giáo tới đỉnh cao của thiền học. Võ thuật cũng được phát triển mạnh mẽ vùng Lĩnh Nam trong thời kỳ nầy. Do đó, chúng ta thấy bên cạnh những phong trào kháng chiến thời Hán thuộc đều có bóng dáng của những cao tăng. Và trong thời kỳ độc lập, các thiền sư như Ngô Chân Lưu, Khuông Việt và Vạn Hạnh đã đóng một vai trò tích cực trong việc phục hồi văn hoá dân tộc và xây dựng đất nước. 
Nhờ những định chế văn hoá mới dưới hình thức tôn giáo nầy các dân tộc Bách Việt ở Âu Lạc đã tụ họp với nhau, bảo lưu được văn hoá và lịch sử dân tộc, và nuôi dưỡng được ý chí phục Việt.

Chiến Lược Phục Hoạt Văn Hoá Bách Việt
Sau gần một nghìn năm bị nòi Hán đô hộ, hai triều đại Lý-Trần, khởi đi từ Lý Nam Đế, đã phục hưng và phục hoạt lại nền độc lập và văn hóa Việt, xây dựng một nước Đại Việt hùng mạnh suốt gần 500 năm.

Ngày nay đất nước ta đang bước vào thế kỷ thứ 21. Sự lớn mạnh của Trung Hoa ngày nay hiện đang là mối đe doạ cho sự tồn vong của dân tộc. Vấn đề biên giới, lãnh hải, lãnh thổ giữa hai nước vẩn chưa ổn định và sẽ là mầm mống mâu thuần trong tương lai và cho thế hệ mai sau. Vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa vẫn là mối ưu tư hàng đầu của mọi người Việt còn thao thức với đất nước.

Trong bối cảnh đó, xác định được văn hoá Bách Việt và quan hệ chủng tộc giữa người Việt và các dân tộc miền Hoa Nam là tiền đề cho một sức mạnh tinh thần để đối phó với nước láng giềng phương bắc. Để khai quật được sức mạnh tinh thần nầy, Người Việt cần có một suy nghĩ mới và một chính sách văn hoá mới đối với các nước đồng chủng trong vùng và đối với Hoa Kiều đang định cư tại Việt Nam.

Cái cơ sở nền tảng để khai quật được sức mạnh tinh thần Đại Bách Việt hiện đại là ý thức rằng dân tộc Việt ngày nay là dân tộc thừa kế chân truyền di sản văn hoá Bách Việt ngày xưa. Và di sản văn hoá và văn minh Bách Việt cổ xưa đã được lưu giữ và bảo tồn trong trong quá trình hình thành nước Đại Việt và Việt Nam hiện đại. 
Với ý thức đó, người Việt hiện đại phải có cái nhìn mới về lịch sử nước nhà, phải mạnh dạn xác định sự đóng góp của các dòng họ Bách Việt trong quá trình hình thành lịch sử và văn hoá nước Đại Việt và Việt Nam hiện đại. Đồng thời chúng ta phải hãnh diện xác nhận dân tộc Việt hiện đại là dân tộc kế thừa và là chủ nhân ông di sản văn hoá Đại Bách Việt. Chúng ta phải đóng vai trò chủ động làm sống lại lịch sử và văn hoá của các dân tộc đồng chủng ở trong vùng và Hoa kiều trong nước.

Từ cơ sở đó, người viết đề nghị ba sứ mạng văn hoá như sau:

- Thứ nhất, cần phải có một nghiên cứu sử chính thức và học trình sử để chính thống hoá giá trị văn hoá Bách Việt trong sự hình thành văn hoá Việt Nam ngày nay.
- Thứ hai, phái có một chính sách hợp tác văn hoá đối với các nước đồng chủng ở Á Châu, đặc biệt là vùng Đông nam Á...
- Thứ ba, phải có một quan niệm mới đối với người Hoa hiện đang ở Việt Nam. Sự xác định tính đồng chủng của các dân tộc Hoa Nam và Đông nam Á có chung huyết thống Bách Việt như các nước Đông Nam Á, các dân tộc miền Hoa Nam và Đài Loan và sự tái kiến thiết văn minh Bách Việt, sẽ là đối lực thích hợp đối với tham vọng về lãnh thổ, lãnh địa và văn hoá của Trung Hoa.

Từ nhận định đó, chúng ta phải có một chính sách ngoại giao mới đối với các nước Đông Nam Á. ASEAN sẽ có một vai trò văn hoá mới ngoài vai trò kinh tế, chính trị và quân sự. Ý thức đồng chủng sẽ giúp cho ASEAN mở rộng vòng tay để đón Đài loan và các đảo quốc ở Thái Bình Dương nhằm mở rộng không gian Bách Việt mới và để gây sức mạnh tinh thần trong liên minh các nước ở vùng Biển Đông.

Vấn đề quan trọng hơn là khi đã nhận diện được tính đồng chủng Bách Việt, người Việt trong nước và hải ngoại phải có một quan niệm mới và sách lược mới về Hoa Kiều ở Việt Nam.


Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2018

THƯ MỜI VIẾT THAM LUẬN HỘI THẢO KHOA HỌC TÌM VỀ CỘI NGUỒN SỬ VIỆT


THƯ MỜI VIẾT THAM LUẬN HỘI THẢO KHOA HỌC TÌM VỀ CỘI NGUỒN SỬ VIỆT



Hà Nội ngày 07 tháng 09 năm 2018

Kính gửi các học giả, các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa người Việt.
Cho đến nay, việc tìm về cội nguồn lịch sử văn hóa Việt chúng ta vẫn còn một câu hỏi then chốt chưa được trả lời thỏa đáng: Việt Nam có Sử từ bao giờ? Mặc dù vào thời Trần-Lê, các sử thần cho rằng, nước ta có sử từ năm Nhâm Tuất 2879 TCN. Còn hiện nay, các cán bộ thông sử hầu như đều khẳng định, lịch sử Việt Nam chỉ có 2700 năm. Nhưng cả hai đáp án đều chưa đủ chứng cứ vững chắc nên không thuyết phục. Trong khi đó, sự thật là, khi chưa biết thời điểm hình thành của lịch sử dân tộc thì mọi cuốn sử được viết là không có cơ sở. Không thể chối bỏ tình trạng đáng lo ngại hiện nay là chúng ta đang trong cuộc đại khủng hoảng về Sử học.Vì vậy, vấn đề thiết cốt đặt ra hôm nay là phải xác định thời điểm có Sử của dân tộc Việt.
Điểm lại việc khảo cứu Sử Việt từ đầu thế kỷ tới nay, ta thấy ngoài việc sao chép những tư liệu từ trước của giới học giả kinh viện còn có nhiều nghiên cứu đưa ra những phát hiện mới về cội nguồn cùng lịch sử dân tộc. Nhờ công nghệ di truyền đọc được mã số ADN trong máu huyết người Việt và các tộc người châu Á, nhiều nhà khoa học như Y.J. Chu, Stephen Oppenheimer… đã khám phá ra 70.000 năm trước, người Homo sapiens từ châu Phi theo ven biển Ấn Độ di cư tới Việt Nam. Tại đây, các dòng người tiền sử hòa huyết sinh ra người Lạc Việt. 50.000 năm trước, người Lạc Việt lan ra các bán đảo và các quần đảo đảo Đông Nam Á, chiếm lĩnh Ấn Độ. 40.000 năm trước đi lên khai phá Hoa lục. Tiếp cận thông tin này, giáo sư Nguyễn Văn Tuấn và tiến sỹ Nguyễn Đức Hiệp đã công bố nhiều bài viết trên tạp chí Tư tưởng ở Úc. Luật sư Cung Đình Thanh cho in cuốn Tìm Về Nguồn Gốc Văn Minh Việt Nam Dưới Ánh Sáng Mới Của Khoa Học. Ở Pháp, giáo sư Trần Đại Sỹ có sử dụng những khảo cứu về chuyên đề trên, đưa vào tiểu thuyết lịch sử. Một nữ tác giả người Việt ở Mỹ tên Tao Babe công bố bài viết: Việt cổ-cái nôi của văn minh châu Á…
Nhờ khả năng lan tỏa của mạng xã hội, thông tin như vậy đã tới được đông đảo người Việt trong và ngoài nước.  Do xác định được ngườiViệt là ai, từ đâu tới và qua quá trình thế nào để có mặt trên đất châu Á hôm nay, nhiều vấn đề vốn bí ẩn của lịch sử-văn hóa dân tộc Việt đã được khám phá mà đường hướng chung là: người Lạc Việt là tổ tiên các dân tộc châu Á. Trên đất châu Á, người Việt đã xây dựng nền văn hóa nông nghiệp rực rỡ. Tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Trung Hoa, chữ Lạc Việt là chủ thể tạo nên chữ viết Trung Hoa. Tất cả những thành tựu của văn minh Trung Hoa đều được bắt đầu từ nguồn gốc văn hóa Việt…Sau 80 năm khai quật và khảo cứu văn hóa khảo cổ Lương Chử Hàng Châu tỉnh Chiết Giang, năm 2016 giới học giả Trung Quốc thừa nhận: Lương Chử là nhà nước của người Lạc Việt được thành lập đầu tiên ở phương Đông 5300 năm trước, là “cội nguồn của văn minh Trung Quốc”. Bằng nhiều tiêu chí so sánh cho thấy, nhà nước Lương Chử nhiều khả năng là nhà nước củaThầnNông, tiền thân của nhà nước Xích Quỷ tồn tại lâu bền trong truyền thuyết, trong tâm trí người Việt…Có thể nói, đó là những khám phá không chỉ dẫn tới viết lại Sử Việt mà còn thay đổi vận mênh dân tộc. Những phát hiện đó đã được nhànghiên cứu Hà Văn Thùy công bố bằng nhiều bài viết đăng trên các phương tiện truyền thông đại chúng và sáu cuốn sách: Tìm lại cội nguồn  văn hóa Việt (2006), Hành trình tìm lại cội nguồn (2008), Tìm cội nguồn qua di truyền học (2011), Khám phá lịch sử Trung Hoa (2016), Góp phần nhận thức lại lịch sử văn hóa Việt (2016) Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại đến hiện thực (2017).Trong dịp kỷ niệm mười năm thành lập, Trung tâm Văn hóa Minh triết đã long trọng vinh danh nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy với cụm công trình khảo cứu trên.
Để góp phần phổ biến công trình nghiên cứu rất có ý nghĩa này, Trung tâm Văn hóa Minh triết cùng với Trung tâm Lý học phương Đông quyết định tổ chức Hội thảo khoa học TÌM VỀ CỘI NGUỒN SỬ VIỆTvới mục đích:
1.      Trình bày những khám phá mới về cội nguồn và lịch sử dân tộc.
2.      Tiêu chí xác định thời có Sử của dân tộcViệt.
3.      Xác định thời điểm hình thành Sử Việt.
Chúng tôi mong các học giả, các nhà nghiên cứu viết tham luận đóng góp cho Hội thảo theo ba chủ đề trên.
Tham luận xin gửi:
Ông Nguyễn Khắc Mai:maiminhtriet@gmail.com
Ông Trương Sỹ Hùng:truongdonghao@gmail.com
Ông Hà Văn Thùy: thuyhavan@gmail.com
Thời gian: muộn nhất là ngày 15 tháng 10 năm 2018.
Vị nào cần mua sách Khám phá lịch sử Trung Hoa, Góp phần nhận thức lại lịch sử văn hóa Việt và Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại tới hiện thực xin liên hệ với Lê Khánh: khatsi235@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn,
Thay mặt Ban tổchức
Giám đốc Trung tâmVăn hóa Minh triết
Nguyễn Khắc Mai

Cô bé nghèo trả lại tỷ phú chiếc cặp quý, 30 năm sau con trai ông làm 1 việc không ngờ



Vào một buổi tối mùa đông cách đây hơn 30 năm, tại thủ đô Washington của nước Mỹ, một quý bà không may đánh rơi chiếc cặp tài liệu trong bệnh viện. Chồng của quý bà là một thương nhân giàu có. Ông đã vội vã quay lại bệnh viện giữa đêm hôm để tìm kiếm, bởi vì trong chiếc cặp không chỉ là rất nhiều tiền mà còn có cả một tập tài liệu mang thông tin mật của thị trường tài chính..
Vị thương nhân đang đảo mắt tìm kiếm thì thấy một đứa trẻ rách rưới đứng ở hành lang bệnh viện. Cô bé đứng dựa vào tường, người vẫn còn co rúm trong bộ quần áo mỏng manh. Và trên tay cô bé chính là chiếc cặp mà vợ ông đánh mất.
Cô bé tên là Xi Yada, đang cùng mẹ điều trị ở phòng cấp cứu trong bệnh viện. Tính mệnh mẹ cô bé vô cùng nguy cấp, tất cả tài sản trong nhà đều đã bán sạch, vậy mà ngay cả tiền viện phí một đêm ở bệnh viện họ cũng không đủ để thanh toán. Không có tiền, ngày mai mẹ Xi Yada sẽ phải rời khỏi nơi đây. Xi Yada bất lực đi lại trong hành lang bệnh viện, cầu nguyện Chúa sẽ bảo hộ cho mẹ mình. Lúc ấy có một người phụ nữ sang trọng từ trên lầu bước xuống, bà đã đánh rơi chiếc cặp da màu đen ngay trước mặt Xi Yada. Có lẽ trong tay vẫn còn nhiều đồ vật khác nên bà không biết chiếc cặp bị đánh rơi. Lúc này trên hành lang chỉ có mình Xi Yada, cô bé chạy lại nhặt chiếc cặp và vội vàng đuổi theo người phụ nữ, nhưng khi Xi Yada ra đến cửa thì người phụ nữ đã bước lên chiếc xe hơi rồi đi mất.
thuong nhan2
Xi Yada mang theo chiếc cặp trở lại phòng. Khi vừa mở ra, cả hai mẹ con cô bé đều giật mình sửng sốt khi nhìn thấy bên trong là một khoản tiền rất lớn. Trong giây phút đó, họ hiểu rằng số tiền này đủ để trả toàn bộ viện phí, cứu được mẹ con họ qua cơn nguy kịch. Nhưng mẹ Xi Yada đã không làm vậy mà yêu cầu con gái mình đem chiếc cặp ra hành lang đứng đợi người đánh mất quay lại. Bà nói: “Người đánh mất tiền có lẽ rất lo lắng sốt ruột, việc cần làm nhất trong đời người chính là giúp đỡ người khác, biết nghĩ cho người khác. Việc không nên làm nhất chính là tham lam tiền bạc bất nghĩa.”
Tuy nhận được sự giúp đỡ tận tình của vị thương nhân, nhưng sau cùng mẹ của Xi Yada cũng ra đi, để lại một mình cô bé bơ vơ trên cõi đời này. Hai mẹ con Xi Yada không chỉ trả lại vị thương nhân toàn bộ số tiền, mà quan trong hơn tất cả, đó là bộ tài liệu mật đã quyết định sự thành công của ông trên thị trường tài chính. Chính điều ấy đã giúp vị thương nhân sau này trở thành một đại gia giàu có.
thuong nhan4
Sau khi mẹ Xi Yada qua đời, vị thương nhân đã nhận Xi Yada về nuôi, tạo điều kiện cho cô ăn học và trưởng thành. Sau này khi đã hoàn thành chương trình đại học, Xi Yada lại giúp đỡ ông xử lý công việc. Tuy ông không cho Xi Yada bất cứ chức vụ cụ thể nào, nhưng trong thời gian dài thực tập và trợ giúp cho ông, cô đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý giá. Xi Yada cũng trở thành nhân tài trên thương trường, giúp đỡ vị thương nhân trong các thương vụ làm ăn và định hướng phát triển cho đến những năm cuối đời.
thuong nhan3
Khi vị thương nhân trải cơn nguy kịch, ông đã để lại một bản di chúc viết rằng:
“Trước khi gặp hai mẹ con Xi Yada, tôi đã là một người rất nhiều tiền. Nhưng đứng trước mặt hai mẹ con nghèo khổ, dù bệnh tật vẫn từ chối khoản tiền lớn để cứu chính mình, tôi mới phát hiện họ chính là những người giàu có nhất. Họ có một phẩm chất đạo đức cao thượng, đây cũng chính là điều mà một thương nhân như tôi không có được. Tiền bạc mà tôi kiếm, đa phần là do tranh đấu giành giật mà có. Họ đã khiến tôi cảm nhận được một chân lý: Tài nguyên quý giá nhất của đời người chính là phẩm hạnh.
Tôi nhân nuôi Xi Yada không phải là đền ơn đáp nghĩa, cũng không phải vì đồng cảm. Mà là vì tôi muốn mời một tấm gương làm người về. Có Xi Yada bên cạnh, cô bé giúp tôi nhắc nhở bản thân mình trên thương trường, những việc nào nên và không nên làm, đồng tiền nào nên và không nên kiếm. Đây chính là nguyên nhân tạo nên thành công của tôi những năm sau này, giúp tôi trở thành một tỷ phú. Sau khi tôi chết, toàn bộ tài sản của tôi đều để lại cho Xi Yada kế thừa, đây cũng không phải là một món quà, mà là vì tôi mong muốn sự nghiệp của tôi được phát triển huy hoàng hơn nữa.
Tôi cũng tin tưởng đứa con thông minh của tôi hiểu được dụng tâm khổ ý này.”
thuong nhan5
Sau khi từ nước ngoài trở về, người con trai của vị thương nhân lập tức ký ngay vào bản kế thừa tài sản cho Xi Yada mà không mảy may do dự: “Tôi đồng ý cho Xi Yada kế thừa toàn bộ di sản của cha tôi để lại, đồng thời mong muốn Xi Yada sẽ làm vị hôn thê của tôi.”
thuong nhan7
Xi Yada ngẩn người vì bất ngờ. Cô suy nghĩ một lúc rồi cũng ký tên: “Tôi chấp nhận kế thừa toàn bộ di sản của tiền bối để lại, bao gồm cả con trai ngài.”
Có một câu nói rằng: Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo.
Những gì bạn làm cho người khác cũng chính là làm cho bản thân mình. Vì vậy, những gì bạn mong muốn có được thì cũng đừng ngần ngại trao đi. Nếu như bạn mong muốn những người bạn chân tình, vậy bạn hãy đối xử chân thành với mọi người. Nếu như bạn muốn vui vẻ, hãy chia sẻ niềm vui tới mọi người xung quanh.
Cuộc sống bớt đi một chút vị tư, dành nhiều thêm một chút quan tâm cho người khác, làm được như vậy, cuộc sống của chúng ta sẽ tràn đầy sức sống, niềm tin và hy vọng.
Minh Vũ