Thứ Hai, 8 tháng 1, 2018

Minh Triết - Wisdom

Kết quả hình ảnh cho nguyễn khắc mai
GĐ Trung tâm Minh Triết
Nguyễn Khắc Mai
Nguyễn Khắc Mai
Minh Triết được thu thập từ tri thức, kinh nghiệm và trực cảm mà khả năng ứng dụng rất tốt. Nó là sự áp dụng đúng đắn, nhạy cảm của tri thức. Ở  một số phạm vi, những mệnh đề (câu chữ) của Minh Triết và thông tuệ thường có ý nghĩa tương đồng, trùng hợp với nhau.
Thường người ta xem Minh Triết như là phẩm chất mà một số người chưa trưởng thành có thể đạt được nhờ kinh nghiệm thực chứng hay nhờ kiến thức sâu rộng. Cái tinh tuý của Minh Triết là “đạo” (virtue) được bắt nguồn từ văn hoá, triết học và tôn giáo.
Nhiều người cắt nghĩa Minh Triết là biết ứng dụng trực cảm như là khả năng tiên đoán kết cục và hành động tối ưu xảy ra trong dài hạn. Tóm lại, Minh Triết là cái nhãn quan quy tụ cả lý tưởng, và nguyên lý để chỉ đạo mọi hành vi và quyết định.

Chủ Nhật, 7 tháng 1, 2018

ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ MINH TRIẾT VÀ TƯ DUY MINH TRIẾT

Kết quả hình ảnh cho phạm khiêm ích
Gs Phạm Khiêm Ích
Phạm Khiêm Ích
TMT: Trong Hội thảo khoa học Kỷ niệm mười năm thành lập Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Minh triết ngày 30-12-2017, Gs Phạm Khiêm Ích trình bày tham luận "Bàn về Tư duy Minh triết" hoặc"Đôi điều suy nghĩ về Minh triết và Tư duy Minh triết", TMT hân hạnh được giới thiệu với đọc giả:
1. Điều thứ nhất: Tư duy Minh Triết là Tư duy Lưỡng hợp
Triết gia Lương Kim Định, gọi tắt là Kim Định (sinh ngày 15-6-1914 tại Nam Định-mất ngày 25-3-1997 tại Carthaye Missouri,Hoa Kỳ) có cống hiến lớn lao cho triết học và Minh triết với 45 đầu sách, trong đó có 32 cuốn đã in với hơn 7000 trang. Nhưng nếu tôi không lầm thì chỉ có một lần Cụ để tâm bàn bạc,phân tích sâu sắc về đặc trưng của Minh triết và tư duy Minh triết. Đó là vào tháng 8 năm 1988 khi Cụ đã 74 tuổi, tham gia Đại hội Triết học Thế giới (The World Congress  of  Philosophy) lần thứ XVIII tại Bringhton (Anh quốc). Trong bài Diễn văn tại Đại hội này có tựa đề: "Di sản văn hóa Việt Nam đối với đời sống hiện đại", Cụ nói:
"Di sản văn hóa Việt Nam nằm gọn trong chữ “Việt” với ý nghĩa siêu việt, là nhảy từ hai thái cực vào một: từ Trời cao Đất thấp nhảy vào Người. Các nhà nghiên cứu về Đông Nam Ấ thấy nét đặc trưng của miền này là lưỡng hợp tính (dual-unit) thì chính là nó. Nét đó là kết quả của cái nhìn riêng biệt không xem hai đối cực như hai thực thể chống đối nhau, tiêu diệt nhau, mà như là hai chiều bổ túc hỗ tương của một thực thể. Và đó cũng chính là Minh triết, vì Minh triết là gì nếu không là khả năng hội nhập hai thái cực. Nói theo thực hành thì Minh triết là nghệ thuật tối cao xếp đặt việc nhà việc nước thế nào để đem lại hạnh phúc cho mọi người. Vậy văn hóa Việt Nam đã làm được như thế xuyên qua gần năm ngàn năm lịch sử. Trong quãng dài lâu vô địch đó, nó đã không hề mắc một mâu thuẫn nào: không đẳng cấp, không giai cấp, không chủ nô, vì toàn dân đều được tham dự vào tài sản quốc gia, cũng như mọi người được tự do tư tưởng, tự do tôn giáo. Cả đến hơn 50 sắc dân thiểu số với những tin tưởng rất khác nhau mà không hề xảy ra xích mích về đàng tôn giáo. Đó là di sản văn hóa Việt Nam, có thể gọi di sản đó là nền Triết lý Thái hòa."(Kim Định.Gốc rễ Triết Việt.An Việt,Houston,1988).

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2017

Báo cáo của Giám đốc TTMT tại Lễ mừng Minh Triết lên Mười

Trung Tâm Minh Triết Lên Mười
(2007-2017)
       Trung Tâm Minh Triết từ khi thành lập đến nay là tròn 10 năm. Lên Mười là một chặng đường quan trọng nó khẳng định sự tồn tại đã trãi thời gian tính đủ một” “thập can”. Lên Mười, Nó đã trải 10 lần cái quy trình xuân sinh, hạ trưởng, thu thập, đông tàng, một quy trình làm lụng thu thập, tàng chứa, như văn minh nông nghiệp chỉ rõ. Lên Mười, Trung tâm đã liên tục cố gắng với nhiều hoạt động đa dạng của mình. Báo cáo này sẽ không theo lối biên niên, liệt kê thành tích, họat động trong mười năm qua, mà sẽ trình bày bốn vấn đề được coi như hiệu ứng xã hội, mà Trung tâm đã đóng góp. Trước khi đi vào chi tiết, chúng tôi xin trích laị đây phần đầu của báo cáo đã trình bày ti Hội nghị Liên hiệp hội Vusta, bàn về Phương hướng thành lập và hoạt động của Trung Tâm Minh triết vào năm 2007.

Lễ Mừng Lên Mười (2007-20170 Trung tâm Minh Triết

TMT: Sáng ngày 30/12/2017, Tại Viện Sena, 35 Điện Biên Phủ, Hà Nội Lễ kỷ niệm Mừng Lên Mười của Trung tâm Minh Triết đã được tổ chức thành công tốt đẹp. Đông đảo nhân sĩ, trí thức yêu thích Minh Triết của Thủ đô Hà Nội đã không quản trời mưa rét đã đến dự, chia sẻ những tình cảm yêu thương, quý trọng đối với Trung tâm Minh Triết qua những phát  biểu chân thành và cảm động.
Một số nhân sĩ, trí thức không đến dự được nhưng cũng gửi thư chức mừng đem theo những nhắn gửi, kỳ vọng, sự cảm phụ và sự tin tưởng vào hướng đi trong thời gian tới của Trung tâm Minh Triết. Mở đầu, buổi Lễ mừng, mọi người được nghe GĐ Trung tâm Minh Triết dọc Thư chúc mừng của Gs Chu Hảo, người đã hết lòng ủng hộ việc thành lập và luôn sát cánh với bước đi của Trung tâm trong 10 năm qua.
Sau báo cáo tổng kết 10 năm hoạt động và trưởng thành, thay mặt lãnh đạo Trung tâm, Gs Nguyễn Khắc Mai đã trao bằng tôn vinh 4 cá nhân xuất sắc, tiêu biểu đã có nhiều đóng góp cho Trung tâm Minh Triết nói riêng và cho sự nghiệp nghiên cứu, truyền bá tri thức Minh Triết nói chung. Đó là PGS Nguyễn Hữu Dũng Chủ tịch Hội Nuôi biển công nghiệp; đó là GS Nguyễn Mạnh Hùng với công trình chuyển ngữ cuốn “Minh Triết phương Tây”, là một trước  tác của Bertrand Russell; là cụ Nguyễn Hữu Giao, người không mệt mỏi với việc trao “Hành trang vào đời” cho lớp trẻ, thanh thiếu niên; đó là Hà Văn Thùy, một nhà nghiên cứu độc đáo, tâm huyết với nền văn minh Việt cổ.
Nhân dịp này, 10 cá nhân khác cũng được vinh danh là những “Sái phu Minh Triết” để ghi nhận những đóng góp không mệt mỏi, bất vụ lợi vì sự phát triển của Trung tâm Minh Triết. Đó là Gs Chương Thâu, Gs Chu Hảo, GS Tô Duy Hợp, Gs Phạm Khiêm Ích, PGS.TS Trần Thị Băng Thanh, Ts Đinh Hoàng Thắng, GS.TS Trương Sỹ Hùng, Ks Ngô Sỹ Thuyết, NNC Đỗ Đức Thịnh , PGS Nguyễn Hữu Sơn.

Thứ Năm, 28 tháng 12, 2017

NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VĂN HÓA VIỆT CỔ

HÀ VĂN THÙY VỚI NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VĂN HÓA VIỆT CỔ
Trương Đông Hào

Kết quả hình ảnh cho hà văn thùyTiếp nhận những thành tựu mới của khoa di truyền học cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI,  Hà Văn Thùy đã hướng tâm vào nghiên cứu lịch sử và cội nguồn văn hóa của người Việt cổ. Với vốn kiến thức cử nhân sinh học từ trường đại học Tổng Hợp Nội (khóa 1963-1967) và bấy nhiêu năm từng trải nghề đọc và viết, trong khoảng 10 năm gần đây, hòa trong khí thế bùng nổ tin học và đổi mới tư duy, Hà Văn Thùy đã thu lượm và đặt ra được một số ý kiến khoa học khiến ai quan tâm đến lịch sử văn hóa người Việt cũng phải tìm đọc.

Từ cách hiểu Cơ cấu Việt Nho và Việt lý tố nguyên của Kim Định, kết hợp với những phát hiện mới về khảo cổ học ở Việt Nam và Trung Quốc, Hà Văn Thùy đã áp dụng lý thuyết nghiên cứu thực nghiệm mã di truyền học để nêu lại vấn đề nguồn gốc người Bách Việt. Thế kỷ XIX và những năm đầu thế kỹ XX các nhà nghiên cứu khoa học đã kết luận: Khoảng hai triệu năm trước có một dạng Người Vượn (Homo erectus = Người Đứng thẳng), từ châu Phi di cư tới châu Á và châu Âu; sau là người Java, người Bắc Kinh và người Neanderthal.Thuyết Nhiều vùng (Multiregional hypothesis) cho rằng, từ nhiều vùng khác nhau của Trái đất, Homo erectus tiến hóa thành (Homo sapiens = người hiện đại): người da vàng ở châu Á, người da trắng ở châu Âu… Nhưng khi có số liệu phân tích sinh học, có tác giả cho rằng, người hiện đại chỉ có thể có tổ tiên khoảng 200.000 năm. Thuyết châu Phi (Out of Africa hypothesis) mở rộng, người hiện đại xuất hiện ở châu Phi khoảng 200.000 năm trước rồi lan ra khắp thế giới. Hai thuyết kéo dài tranh luận, không phân thắng bại.

Thứ Tư, 27 tháng 12, 2017

VIỆT CỔ: CÁI NÔI CỦA VĂN MINH CHÂU Á

CÔ GÁI LÀM SỤP ĐỔ NỀN NGỤY KHOA HỌC
Hà Văn Thùy
unnamed
Ảnh trên trang Tao Babe
Bạn tôi, ông Alan J. Patterson, người Canada, là cơ trưởng của Hãng máy bay Boeing. Sau phần đời dài lang thang khắp bầu trời thế giới, ông chọn nơi đậu cuối cùng là Sài Gòn, để được gần người vợ Việt Nam quá cố. Ông đang giúp tôi hiệu đính bản tiếng Anh cuốn Viết lại lịch sử Trung Hoa. Ông gửi tôi bài báo của cô gái người Việt ở Mỹ, nhan đề Ancient Việt: Cradle of Asian Civilization. Theo link từ bài viết, tôi vào trang https://taobabe.wordpress.com, gặp một cô gái còn rất trẻ có bút danh Tao Babe. Người phương Tây không hiểu nghĩa bút danh này nhưng theo tôi, phải chăng là Bé Tạo hay Con Tạo? Nếu vậy cô bé muốn làm Tạo Hóa?  Có thể, vì cô cho rằng mình là người đầu tiên khám phá sự thật về lịch sử dân tộc Việt!. Cô bé viết, từ khi còn nhỏ, cô luôn buồn tủi vì được dạy rằng tổ tiên cô bất tài vô dụng không làm nên chuyện gì cho nhân loại. Đồng bào cô sống gần như trần truồng đói khổ bên cạnh Trung Quốc hùng cường với nền văn minh vĩ đại. Nhưng rồi cô là người đầu tiên phát hiện: tổ tiên cô sinh ra các dân tộc châu Á. Toàn bộ nền văn minh phương Đông trước năm 111 BC đều là của người Việt. Khi viết những dòng như vậy, tim cô rộn niềm vui…

Thứ Ba, 26 tháng 12, 2017

Kỷ niệm Lên Mười - Trung tâm Minh Triết (2007-2017)

TMT: Minh Triết rất quan trọng bởi đó là đạo đức, là con đường dẫn chúng ta đi đến hạnh phúc. Trong cuốn Dưới Chân Thầy (At the feet of The Master, tác giả Alcyone (Krishnamurti), Tủ Sách Thông Thiên Học viết: “Có Minh triết bạn mới có thể giúp đời, còn Ý chí để dắt dẫn sự Minh triết, và Từ ái lại gây ra Ý chí. Ấy là những điều kiện mà bạn cần phải có. Ý chí, Minh triết, Từ ái là ba trạng thái của Ðức Thượng Ðế. Nếu bạn muốn hiến mình phụng sự Ngài, thì bạn phải biểu lộ ba trạng thái ấy trong thế gian này”. Và nói theo một ẩn dụ được sử dụng trong các kinh sách Phật giáo, thì chỉ có hơi ấm của Lòng Trắc Ẩn hoà quyện với sự Minh Triết mới có thể làm tan chảy khối quặng ở trong đầu óc của chúng ta để giải phóng ra vàng, tức bản chất sâu xa của chúng ta.
Nhân dịp Kỷ niệm Trung tâm Minh triết Lên Mười (2007-2017), Thôn Minh Triết xin được trân trọng giới thiệu một số tấm gương điển hình trong đời sống hôm nay. Họ là những người trí thức, những học giả, những chuyên gia trong lĩnh vực mà mình tâm huyết, theo đuổi với một tấm lòng nhân ái, sự Minh Triết và Ý chí mãnh liệt.

1. Bùi Hữu Giao người trao Hành Trang Vào Đời cho thanh niên
         Ông Bùi Hữu Giao, sinh năm 1934 quê ở Ninh Bình. Năm 1953, sau khi học xong Trung học (9/9) ông gia nhập Quân đội. Năm 1954 tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm 1960 tốt nghiệp ĐHSP Khoa Lý-Toán, trở về quân đội, dạy học văn hóa. Năm 1965 làm chính trị viên đại đôi cao xạ pháo chiến đấu ở Khu 4. 1958, Biên tập viên báo Quân Đội Nhân Dân; 1976 Phó Hiệu trưởng Trung học Sư phạm tỉnh Sông Bé; 1987, nghỉ hưu, bắt đầu viết loạt sách “Hành Trang Vào Đời”. Bùi Hữu Giao là người từng trải, là lính chiến, là nhà giáo, nhà báo, đã giành gần trọn cuộc đời mình đi tìm cho thanh niên một hành trang vào đời.