Thứ Tư, 22 tháng 6, 2022

CUỐN SÁCH KÌ VĨ XƯA NAY HIẾM

                                                                                                                                       VŨ NHO


       Tôi quen biết một số nhà giáo nhà văn nhà giáo và đã được tặng những tuyển tập dày dặn để đời như của các giáo sư: Phan Trọng Luận, Nguyễn Khắc Phi, Mã Giang Lân, tiến sĩ Đỗ Khánh Tặng,… Trong số sách tặng ấy có một số  tập chỉ in các  bài viết  về  tác giả như  là món quà tri ân bạn bè và đồng nghiệp của các  bạn văn như Nguyễn Hiếu, Nguyễn Ánh Tuyết, Hữu Đạt,... Tuy vậy, nhận được tập  Nguyễn Ngọc Thiện VĂN & ĐỜI, nhà xuất bản Hội nhà văn năm 2021, sách gồm 1072 trang khổ  14,5 x 20,5 cm, đóng bìa cứng, được trình bày trang nhã với bức ảnh tượng đồng tác giả  cùng 7 cuốn sách tiêu biểu gắn với con số 7 may mắn. Dù được biết trước quá trình hình thành,  tôi vẫn  vô cùng kinh ngạc về sự đồ sộ, kì vĩ, tính chuyên nghiệp và sự độc đáo của nó. Có thể nói hiếm có nhà văn nào có thể có một cuốn sách độc đáo như thế! Các vị tiền bối và đàn anh cũng đã có tuyển tập các bài viết của nhiều người về VĂN của mình, nhưng thường là  do sau hội thảo kỉ niệm ngày mất, hoặc do đồng nghiệp, cơ quan làm nhân dịp mừng thọ. Ở đây nhà văn Nguyễn Ngọc Thiện cá tự tập hợp tư liệu làm sách. Các bài viết đều có xuất xứ trên báo, tạp chí. Rất tiện lợi cho việc tra cứu.


          Đặt tên cuốn sách là VĂN và ĐỜI, nhưng sách được chia thành bốn phần,  phần thứ nhất  nhan đề Từ góc nhìn khoa học chuyên ngành chiếm 520 trang chọn lọc 75 bài của 45 cây bút các thế hệ nghiên cứu phê bình viết về các tác phầm  chính của Nguyễn Ngọc Thiện. Phần này cho người đọc thấy được cống hiến của nhà nghiên cứu cho văn chương. Có thể coi đó là phần VĂN. Phần thứ 2 nhan đề Trong tình đồng nghiệp, liên tài, tri kỉ, gồm  46 bài viết, chiếm 321 trang, cho thấy mối quan hệ đồng nghiệp liên tài tri kỉ. Các bài viết vừa cho thấy phần ĐỜI, nhưng cũng phần nào cho thấy phần VĂN của tác giả Nguyễn Ngọc Thiện. Phần thứ ba có nhan đề Tự thuật - Hồi ức - Đối thoại  hơn 100 trang với 22 bài viết của tác giả về mình, các thầy mình, chủ yếu cho thấy đời sống tình cảm, sự tri ân các thầy. Phần  phụ lục  gồm các mục Cùng một tác giả, Thư mục nghiên cứu về tác giả, Hợp tác khoa học thầy trò (Danh sách cácThạc sĩ, Tiến sĩ do PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thiện hướng dẫn đã bảo vệ thành công). Các bài thơ, câu đối, các bức tranh chân dung do họa sĩ  vẽ tặng, tượng,  các bức ảnh. Phần này cho thấy những nét cơ bản của ĐỜI  PGS. TS. Nguyễn Ngọc Thiện.

       Đọc cả bốn phần của cuốn sách, người đọc sẽ thấy được phần VĂN và phần ĐỜI soi chiếu,  hỗ trợ, bổ sung cho nhau, và có thể hình dung  khá trọn vẹn về chân dung và đóng góp của một con người cả đời chỉ có một đam mê nghiên cứu phê bình văn học.

         Như đã nói trên, phần thứ nhất  có sự góp mặt của 45 cây bút chuyên ngành Lí luận phê bình với các tên tuổi quen thuộc trên văn đàn. Đó là GS.Viện sĩ Hoàng Trinh, GS.TS.Trần Đình Sử, GS.Hà Minh Đức, GS.Viện sĩ Hồ Sĩ Vịnh, các PGS.TS.  Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Hưũ Sơn, Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Thanh Tú, Văn Giá, Lê Đình Cúc, Lê Thị Bích Hồng, Trần Hoài Anh…Các nhà nghiên cứu, nhà văn Lại Nguyên Ân, Bùi Việt Thắng, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Phượng, Ngô Vĩnh Bình,…Riêng PGS.TS Nguyễn Thanh Tú có 7 bài viết về các công trình khác nhau của Nguyễn Ngọc Thiện. Cuốn “Đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng và Lí luận, thực tiễn Nghệ thuật  của Nguyễn Ngọc Thiện có 11 tác giả viết bài. Tất cả các bài viết đều tập trung khẳng định những đóng góp của một cây bút nghiên cứu cần mẫn, thực chứng, nghiêm  cẩn thông qua những chuyên luận của cá nhân hay công trình mà tác giả làm chủ biên.

           GS. Viện sĩ Hoàng Trinh  dành những lời  tốt đẹp để đánh giá không chỉ Nguyễn Ngọc Thiện, mà cả một thế hệ nghiên cứu “đã tạo ra được con đường đi của mình, nghiêm túc trong khoa học mà linh động trong tư duy, tìm kiếm vấn đề, nâng cao chất lượng. Đọc nhiều, tham khảo nhiều, coi trọng thực tiễn đời sống, kế thừa những người đi trước mà có những đóng góp riêng” ( tr. 23). Quả thật, đây là một nhận xét sâu sắc, có tính chất tiên tri đối với nhà nghiên cứu trẻ khi mới có tác phẩm đầu tay.

           Đánh  giá bộ sách đồ sộ do Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên, GS.TS. Trần Đình Sử khằng định  đó là “cuộc mở đầu biến thông ngoạn mục”,  là bộ sách đáng quý”;  Nó bao quát một quãng thời gian gần nửa thế kỉ. Dài hơn bất cứ tuyển tập nào cùng loại. Nó gồm 4 tập với 2.600 trang khổ 13 x 19 cm, gồm 90 tác giả với 199 tác phẩm và đoạn trích khá phong phú và đa dạng” ( trang 57).

      Về cuốn tiểu luận phê bình thứ tư của Nguyễn Ngọc Thiện, PGS. TS. Phùng Gia Thế nhận xét  khách quan và chính xác:

Có thể nói Nguyễn Ngọc Thiện là nhà nghiên cứu khước từ mọi nhận định mang tính phỏng đoán xa rời văn bản gốc. Trong công tình của mình, các trích dẫn từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau ( trong đó có nhiều tài liệu quý) đều được ông chú mục rõ ràng, minh bạch, ngõ hầu tạo sự tin cậy cao nhất cho giới chuyên môn và bạn đọc. Đánh giá các vấn đề lí luận, phê bình văn học một thời qua từ góc nhìn hôm nay, nhà nghiên cứu luôn đặt văn bản trong bối cảnh văn hóa và kiểu diễn ngôn của thời đại để từ đó có những chứng giải khách quan, thuyết phục.” (tr.259).

       Phần thứ hai tập hợp các bài viết của bạn bè, đồng nghiệp trong tinh thần liên tài, tri kỉ. Các bài viết nghiêng về phần cuộc đời, con người tác giả Nguyễn Ngọc Thiện. Nhưng nhiều bài viết nhờ biết VĂN, tiếp xúc với VĂN của Nguyễn Ngọc Thiện mà nảy sinh tình cảm liên tài. Phần này có những bài viết của bậc đàn anh, các bạn bè đồng nghiệp, các môn sinh  của  tác giả. Tất cả các bài viết đều khẳng định sự thân gần, dễ hòa đồng, dễ mến trong đời sống, thái độ nghiêm cẩn, thực chứng, khách quan trong nghiên cứu khoa học của nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thiện. Nhà báo Đồng Thị Mừng nói về “Người cầm bút đã từng cầm súng”. Nhà báo Kiều Mai Sơn khẳng định “ PGS.TS. Nhà văn Nguyễn Ngọc Thiện : trăm năm bia sách chẳng mòn”. Nhà văn Nguyễn Tự Lập  đánh giá: “PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thiện, một nhà khoa học có Tâm- Tầm - Đức”. Nhà thơ Phạm Tâm Dung, cô giáo Hạnh An, chị Hoàng Tuyên viết về những kỉ niệm đep với Nguyễn Ngọc Thiện.  Thạc sĩ Nguyễn Thị Bình,  nhà thơ Nguyễn Long, An Nguyễn,  tác giả N.B.  Nhà thơ Phan Thanh Vân tặng thơ. Các môn sinh Nguyễn Mạnh Quỳnh, Bùi Như Hải, Đỗ Phương Thảo, Nguyễn Thị Lan, Mỹ Hạnh, Hà Vinh Tâm, Lương Kim Phương,… đều có bài thể hiện lòng biết ơn với người thầy khả kính.  Còn PGS. TS. Trần Thị Việt Trung thì vừa thể hiện tình cảm phần ĐỜI, vừa đánh giá phần VĂN của bậc đàn anh trong bài viết giàu tính học thuật : “Nguyễn Ngọc Thiện, nhà lí luận, phê bình thực chứng, nghiêm nhặt”. Chúng tôi muốn dẫn ra khổ thơ của  nhà thơ Phan Thanh Vân vẽ chân dung  Nguyễn Ngọc Thiện khá thú vị : “Sinh năm bốn bảy, chàng Đinh Hợi/ Nội tướng đồng niên số bảy may!/ Rước bằng Tiến sĩ năm tám bảy/ Chín bảy Hội văn viết càng say!/ Nguyện làm “phu chữ” từ thời trẻ/Vạn quyển “Thư trai “ thật đủ đầy/ Làm báo , dạy văn và viết sách/ Nhân cách tài năng hiếm có thay” (tr. 541).

          Và không thể không dẫn mấy dòng đánh giá rất tinh tế của nhà văn Ma Văn Kháng về tài năng  của  Nguyễn Ngọc Thiện thể hiện trong VĂN và ĐỜI: “Cái tài ở anh khiến anh nhận ra những cái tốt đẹp trong sự bình dị thường ngày. Cái tài của  anh là cái tài ẩn mình trong sự giản dị. Trong sự đọc thiên kinh vạn quyển, học nhiều hiểu rộng. Trong năng lực khái quát. Trong sự nhạy cảm. Trong những chia sẻ và nhận biết tinh tường. Trong tình thương mến ấm áp bạn bè” (tr. 621).

        Phần thứ ba gồm các bài viết tự thuật, tự nhận xét của tác giả. Đặc biệt có 10 bài viết về những người thầy, người anh đã động viên, giúp đỡ, dìu dắt và để lại ấn tượng sâu sắc cho Nguyễn Ngọc Thiện. Đó là các thầy  Hoàng Xuân Nhị, Hà Minh Đức, Đinh Gia Khánh,  các bậc đàn anh Hoàng Trinh,  Hoài Thanh,  Nam Mộc, Phương Lựu, Phong Lê, Nguyễn Phúc,  Ma Văn Kháng. Các bài viết đó  đầy ắp sự biết ơn, trân trọng và sự ngưỡng mộ những người thầy, những bậc đàn anh.  Hai người thầy có ảnh hướng lớn đến việc học tập và nghiên cứu là GS. Đinh Gia Khánh và GS. Hà Minh Đức chủ nhiệm lớp.  Về ấn tượng với GS. Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc Thiện viết: “Thầy nhấn mạnh, điều căn cốt thuộc phẩm chất của người nghiên cứu là tạo lập một tư duy khách quan, thực chứng, “ nói có sách mách có chứng” như dân gian đã dạy. Phải trực tiếp đọc, xem, nghe, khảo chứng “ thực mục sở thị” đối tượng nghiên cứu là tác phẩm văn học và những công trình mà thiên hạ đã bàn về tác phẩm ấy, vấn đề ấy trước mình, để từ đó khổ công hình thành, động não, vắt óc mình ra để nhen nhóm ý kiến riêng của mình góp vào. Trong đó, nhà nghiên cứu phải phát huy bản lĩnh khoa học độc lập, dám phản biện, tranh luận với những ý kiến khác, bất luận họ đến từ đâu, đang ở vị trí nào, để xem xét lại, bảo vệ hay sửa chữa ý kiến của mình” (tr. 921). Chắc chắn thái độ, tình cảm đó   đã được Nguyễn Ngọc Thiện ứng xử trong công việc của mình, ứng xử với các môn sinh của mình sau này và đã nhận được  nhiều sự mến mộ, tôn kính.

          Ngay trong 3 phần trên,  Nguyễn Ngọc Thiện đã dày công sưu tầm ảnh chụp bìa sách ( phần 1), ảnh chân dung của các bạn viết, các tác giả,  các môn sinh cùng  làm việc, khiến cho người đọc không chỉ thấy tên người viết mà còn thấy cả dung nhan của họ ( phần 2). Mười người thầy và các bậc đàn anh đều có ảnh chân dung rất đẹp làm cho  bài viết thêm sinh động, thú vị.

Những bức chân dung do các họa sĩ vẽ tặng, những bức ảnh gia đình, bức ảnh trong các thời điểm quan trọng ở phần phụ lục làm cho cuốn sách hoàn hảo. Đúng là cuốn sách VĂN & ĐỜI của một nhà nghiên cứu được biên soạn công phu, chu đáo, khoa học, chặt chẽ!

          Xin chúc mừng đồng nghiệp Nguyễn Ngọc Thiện ở tuổi 75 thêm một cuốn sách để đời trong những cuốn sách để đời của mình!

                                                          

   

Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2022

THƯ NGỎ CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ GỬI CHỦ TỊCH TẬP CẬN BÌNH

 

 HÀ VĂ THÙY

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11. 6. 2022

Kính gửi Ngài Tập Cận Bình

 Chủ tịch NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN Trung Hoa

    Thưa Ngài, được biết ngày 27. 5. 2022, Ngài đã chủ trì phiên họp lần thứ 39 của Đảng Cộng sản Trung Quốc về “Chương trình nghiên cứu cấp quốc gia nhằm tìm hiểu nguồn gốc và cội nguồn của nền văn minh Trung Hoa để nâng cao nhận thức của đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc và nhân dân trong nước về các giá trị lịch sử và nền tảng văn hóa Trung Hoa,” tôi rất mừng nên viết thư này thưa với Ngài câu chuyện.


 


                      Tượng Viêm Đế và Hoàng Đế cao 106 m tại Trịnh Châu (Hồ Nam, Trung Quốc)

    Thưa Ngài, người Việt Nam có câu: “Con chim có tổ, con người có tông” ngụ ý rằng nguồn cội tổ tiên là điều tối quan thiết với con người cũng như một dân tộc. Một con người chưa biết tổ tiên là con người chưa trưởng thành. Một dân tộc chưa biết tổ tiên cũng là dân tộc chưa trưởng thành. Đáng buồn là, dù luôn tự hào có 24 bộ Quốc sử (nhị thập tứ sử) thì cho tới nay người Trung Quốc vẫn chưa biết tổ tiên mình là ai! Năm 2007, Trung Quốc dựa theo truyền thuyết đã bạt ngọn đồi ở thành phố Trịnh Châu bên Hoàng Hà để tạc tượng hai người đàn ông rồi tuyên bố đó

là Viêm Đế và Hoàng Đế, hai vị tổ của người Trung Quốc. Nhìn bức tượng, người cả nghĩ tự nhiên đặt ra những câu hỏi:

   1. Hoàng Đế xuất hiện 4698 năm trước, Viêm Đế sống khoảng 5300 năm trước, cách nhau 600 năm thì làm sao gặp gỡ để sinh ra người Trung Quốc?

   2. Tổ của bất kỳ ai thì cũng là một cặp nam và nữ. Làm thế nào mà hai người đàn ông lại sinh ra đàn con đông đảo hàng tỷ người?

   3. Là con cháu của Hoàng Đế thì người Trung Quốc đến nay mới được 4698 tuổi, quá non  trẻ. Điều này có mâu thuẫn với việc quý vị cho rằng Trung Quốc có 5000 năm lịch sử?

   4. Nhiều nguồn tư liệu cho thấy, Viêm Đế là người phương Nam nóng bức nên nước da đen. Vậy người trên tượng có phải là Viêm Đế?!                               

Phải sang: Huy Thông, Hà Văn Thùy, Bùi Thanh Quất, Trương Sỹ Hùng, Trần Văn Đoàn

 Trần Thị Băng Thanh, Tô Duy Hợp, Nguyễn Xuân Diện tại hội luận Kinh dịch do Trung tâm nghiên cứu văn hóa Minh Triết tổ chức tại Hà Nội. 09.05.2017 Ả anvi

   Truyền thuyết là những câu chuyện ảo huyền sương khói. Chỗ của nó là ở trong trí tưởng tượng ảo huyền. Một khi chưa thực sự hiểu mà vội dựng tượng đồng bia đá khiến nó chết khô trước ánh sáng trần tục! Hàng nghìn năm, người Trung Quốc khẳng định, đồng bằng miền Trung Hoàng Hà là nơi phát tích của con người và văn minh Trung Quốc. Rồi từ đây văn minh Hoa Hạ lan tỏa xuống khai hóa các sắc dân man di phía Nam. Nhưng năm 2016, sau 80 năm khảo cứu văn hóa Lương Chử, học giả Trung Quốc tuyên bố: “Văn hóa Lương Chử là cội nguồn của văn minh Trung Quốc.”(1) Sao lạ vậy, thưa Ngài? Một cộng đồng sinh ra tại lưu vực Hoàng Hà, cho đến trước thời Tần chưa bao giờ vượt sông Dương Tử, thì làm sao mà cội nguồn văn hóa của nó lại ở Hàng Châu? Tiếp đó khi phát hiện văn hóa Tam Tinh Đôi vùng Tứ Xuyên, học giả Trung Quốc lại nói: “Tam Tinh Đôi cũng là một cội nguồn của văn minh Trung Quốc (?!)” Làm thế nào mà hiểu được khi một dân tộc được sinh ra từ nhiều cội nguồn? Chẳng những thế, thưa Ngài, khảo cổ học xác định văn hóa Tam Tinh Đôi 4800 tuổi, tức nền văn hóa này xuất hiện trước khi Hoa Hạ ra đời tại vùng đất rất xa thì làm sao lại thuộc về Trung Quốc?!

   Thưa Ngài Chủ tịch, khoa học thế giới đang áp dụng nhân học phân tử để tìm hiểu lịch sử phương Đông. Rất mừng là Trung Quốc đã thành cường quốc khảo cổ và di truyền học. Tuy nhiên, giữa việc khám phá di tích khảo cổ và xác định mã gen với việc đưa ra nhận định từ khám phá đó là khoảng cách xa. Từ khảo cứu di truyền dân cư Đông Á, hai học giả Chuan-Chao Wang và Hui Li thuộc Đại học Phúc Đán đưa ra nhận định: “Có hai con đường di cư của người châu Phi làm nên dân cư Đông Á. Con đường phía Nam làm nên dân cư Đông Nam Á mã di truyền Australoid. Trong khi đó con đường phía Bắc làm nên người nông dân Trung Quốc mã di truyền Mongoloid. Một lượng lớn nông dân Trung Quốc tràn xuống, thay thế người bản địa, làm nên dân cư Đông Nam Á hiện đại.” (2)

   Với kết luận “khoa học” như thế, đương nhiên người Việt Nam phải là con cháu của người Trung Quốc. Người Trung Quốc hài lòng với kết luận này vì nó chứng minh cho tư tưởng “Hoa tâm” xa xưa! Diễn dịch từ kết luận này, học giả Trung Quốc cho rằng, người từ lưu vực Hoàng Hà xuống Nam Dương Tử, làm nên chủ thể của cộng đồng Bách Việt. Trong khi đó, một bộ phận Bách Việt chạy xuống Bắc Việt Nam, trở thành dân cư Việt Nam. Vì vậy Hoàn cầu thời báo kêu gọi người Việt Nam “lãng tử hồi đầu”- đứa con đi hoang hãy trở về nhà! Tuy nhiên, đáng tiếc là, khi đưa ra kết luận như trên, hai học giả Wang và Li đã quên mất nguyên lý sơ đẳng của di truyền học: “Tổ tiên có độ đa dạng sinh học cao hơn con cháu.” Theo nguyên lý này, vì là con cháu nên người Việt Nam phải có đa dạng sinh học thấp hơn người Trung Quốc! Nhưng trên thực tế, mọi khảo cứu di truyền dân cư châu Á đều khẳng định: “Người châu Á cùng một chủng Mongoloid phương Nam. Trong đó người Việt Nam có đa dạng sinh học cao nhất, có nghĩa là, người Việt Nam là cộng đồng già nhất trong dân cư châu Á.” (3)

   Như vậy, dù phát hiện chính xác sự phân bố của haplogroup bốn dân cư Đông Á (O, C, D, N), khi nhận định về nguồn gốc của họ, hai nhà di truyền danh tiếng của Đại học Phúc Đán đã sai một cách thê thảm. Không chỉ đảo lộn cương thường, biến tổ tiên thành con cháu, họ còn bất chấp sự thật: là vùng đất thoát khỏi băng hà muộn nên dân cư lưu vực Hoàng Hà hình thành muộn, không thể có số lượng người đủ lớn để thay thế dân cư Đông Nam Á lục địa vốn rất đông. Trong khi đó, bằng nghiên cứu của mình, tôi đã phát hiện: 70.000 năm trước, hai đại chủng Australoid và Mongoloid từ châu Phi theo con đường phương Nam tới Việt Nam. Tại đây họ gặp nhau, sinh ra người Việt cổ mã di truyền Australoid. 50.000 năm trước, người từ Việt Nam lan tỏa ra các đảo Đông Nam Á, tới châu Úc và Ấn Độ. 40.000 năm trước, nhờ khí hậu tốt hơn, người Việt cổ đi lên khai phá Hoa lục. Một bộ phận tới Siberia rồi qua eo Bering chiếm lĩnh châu Mỹ. Một nhánh từ Tây Hoa lục qua Trung Á vào châu Âu làm nên tổ tiên người châu Âu European. Khảo sát di cốt người đàn ông ở hang Điền Nguyên Chu Khẩu Điếm, di truyền học xác nhận: “Ông từ Hòa Bình Việt Nam tới 40.000 năm trước, là tổ tiên người Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và là thủy tổ người bản đia châu Mỹ.” (4)

   Trên Hoa lục, con cháu cụ Điền Nguyên xây dựng văn hóa Giả Hồ 9000 năm trước, Hà Mẫu Độ 7.000 năm trước, Ngưỡng Thiều 7.000 năm trước… Tại văn hóa Ngưỡng Thiều, người Việt Australoid hòa huyết với người Mongoloid phương Bắc (cũng từ Việt Nam lên), sinh ra chủng người Mongoloid phương Nam (South Mongoloid), được gọi là người Việt hiện đại. Người Việt hiện đại tăng số lượng, trở thành chủ thể dân cư lưu vực Hoàng Hà, xây dựng hai trung tâm kinh tế văn hóa Trong Nguồn (nay là Trung Nguyên) và Thái Sơn. 5.300 năm cách nay, tổ của người Việt là Thần Nông xây dựng nhà nước đầu tiên ở phương Đông bao gồm lưu vực Dương Tử và Hoàng Hà với kinh đô Lương Chử. Khoảng 4.698 năm trước, người Mông Cổ phương Bắc do họ Hiên Viên dẫn đầu đánh vào Trác Lộc, chiếm miền Trung Hoàng Hà, lập vương triều Hoàng Đế. Trong nhà nước Hoàng Đế, người Việt hòa huyết với người Mông Cổ sinh ra lớp con lai được gọi là Hoa Hạ. Do người mẹ Việt sinh ra, bú sữa Việt, nói tiếng Việt, thấm nhuần văn hóa Việt, nên Hoa Hạ là người Việt. Nhận được hai nguồn gen và hai nền văn hóa Mông - Việt, người Hoa Hạ có tư chất ưu tú. Khi trưởng thành, đã thay cha ông Mông Cổ, lãnh đạo xã hội, làm nên thời hoàng kim trong lịch sử phương Đông. Cộng đồng sống trong vương triều Hoàng Đế sau được gọi là người Trung Quốc. Vì uy tín quá lớn của Hoàng Đế, người dân quy cho ông rất nhiều công trạng của tiền nhân đồng thời tôn ông là tổ tiên của mình. Huyền thoại “Người Trung Quốc là Viêm Hoàng tử tôn” ra đời. Tuy nhiên, đó là lầm lẫn lớn. Người Mông Cổ vào Trung Nguyên cùng Hoàng Đế tạo nên người Hoa Hạ. Hoa Hạ không phải tộc người mà là lớp con lai sinh ra khi hai cộng đồng dị chủng gặp gỡ. Một thời gian sau, Hoa Hạ bị người Việt đông đảo đồng hóa trở thành người Việt. Cũng giống như người Nguyên theo Hốt Tất Liệt, người Thanh theo Ái Tân Giác La vào Trung Quốc sinh ra lớp Nguyên nhân, Thanh nhân. Chỉ thời gian sau, tất cả thành người Trung Quốc. Hốt Tất Liệt và Ái Tân Giác La không phải là tổ tiên người Trung Quốc nên Hoàng Đế cũng không phải là tổ tiên người Trung Quốc. “Viêm Hoàng tử tôn” là lầm lẫn do sự mù mờ về lịch sử!

   Vì cuộc xâm lăng của Hoàng Đế, một bộ phận người Việt ở Thái Sơn và Trong Nguồn chạy xuống Nam Dương Tử rồi đi tiếp xuống Việt Nam, mang nguồn gen Mongoloid chuyển hóa dân cư Nam Dương Tử và Việt Nam sang chủng Mongoloid phương Nam. Di truyền học và khảo cổ học xác nhận, đây là cuộc chuyển hóa di truyền hòa bình, diễn ra trong khoảng nửa thiên niên kỷ. Cho đến 2.000 năm TCN, dân cư từ Nam Hoàng Hà tới Việt Nam cùng một chủng Mongoloid phương Nam. Trong cuộc chuyển hóa di truyền này, một lượng nhỏ người Mongoloid phương Nam từ lưu vực Hoàng Hà xuống, bổ sung nguồn gen Mongoloid cho dân cư Việt Nam vốn có sẵn lượng gen Mongoloid từ 70.000 năm trước. Do vậy, người Việt Nam có đa dạng sinh học cao nhất trong dân cư châu Á.

Do quá trình hình thành như trên nên dân cư Việt Nam và Trung Quốc cùng là người Việt hiện đại chủng Mongoloid phương Nam, mà tổ tiên được sinh ra tại làng Bán Pha thuộc văn hóa Ngưỡng Thiều 7.000 năm trước. Tuổi của người Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản hiện đại phải được tính từ thời điểm này. Lớp người Hoa Hạ được sinh ra sau cuộc xâm lăng của Hoàng Đế 4.698 năm trước có nước da sáng hơn nên gọi người bản địa là “lê dân” với nghĩa là người da đen. Nhưng sau đó, do hòa huyết liên tục với người Việt bản địa, toàn bộ người Hoa Hạ trở nên đen: Đế Khốc, đời thứ tư của Hoàng Đế có nước da đen như chim Cốc. Vua Thành Thang đen như than. Lão Tử có nước da đen bóng… Hoa Hạ hòa tan trong cộng đồng người Việt.

   Quá trình hình thành dân cư Đông Á cho thấy: người Việt cổ chiếm lĩnh Hoa lục, sinh ra dân cư Trung Quốc. Cố nhiên, tiếng Việt là chủ thể làm nên tiếng Trung Quốc. Trước khi Hoàng Đế xuất hiện, người Việt cổ đã sáng tạo những nền văn hóa rực rỡ như Giả Hồ, Hà Mẫu Độ, Lương Chử…Từ 6.500 năm trước, với vị tổ Phục Hy, người Việt đã hoàn thành việc sáng tạo Kinh dịch. Cũng thời gian này, văn giáp cốt đã gần trưởng thành, được dùng trong bói toàn, cúng tế và được đưa lên vùng An Dương Hà Nam. Năm 1400 TCN, khi chiếm đất An Dương của người Việt, nhà Ân với chính quyền quân chủ mạnh và sáng tạo, đã tận dụng công sức và trí tuệ của người Việt để hoàn thiện và phát triển giáp cốt văn thành chữ Nho. Chữ Nho là sáng tạo kiên trì của người Việt từ 10.000 năm trước, bắt đầu trên bãi đá Sapa cho tới lưu vực Dương Tử, Hoàng Hà rồi được nhà Thương hoàn thiện, đưa phương Đông vào thời có sử…

   Thưa Ngài Chủ tịch, những ý tưởng trên tôi đã trình bày trong những cuốn sách: The Formation Process Of The Origin And Culture Of The Viet People

(https://www.amazon.com/dp/1989993303), Out Of Vietnam Explore Into The World (https://www.amazon.com/dp/B09BL6NBGD?ref_=pe_3052080_397514860).      

   Vấn đề của lịch sử phương Đông là thời kỳ tiền sử, trước đây khoa học chưa bao giờ với tới. Điều không ngờ là, trong khi đi tìm cội nguồn và văn hóa của người Việt Nam, tư liệu khảo cứu đã soi sáng lịch sử và văn hóa Trung Quốc. Nhờ đó giúp tôi hoàn thành cuốn Viết lại lịch sử Trung Hoa.(Rewriting Chinese History -https://www.amazon.com/Rewriting-Chinese-History-Thuy- Van/dp/1989993680). Có thể nói, trong đó, những vấn đề cơ bản của lịch sử, văn hóa Trung Quốc được trình bày một cách nhất quán, khoa học. Tuy nhiên, dù sao thì đó cũng là lịch sử của một nhà. Rất vui nếu được các học giả Trung Quốc đọc và phản biện để được học hỏi thêm.

   Văn hóa phương Đông giống như cây đại thụ mà gốc sâu rễ bền mọc trên đất Việt Nam còn cành lá sum suê cùng hoa thơm trái ngọt nảy nở trên lưu vực Dương Tử và Hoàng Hà. Hoàng Đế tuy không phải tổ tiên người Trung Quốc nhưng là nhân vật lịch sử vĩ đại. Ngài thực hiện cuộc giao hòa tuyệt vời những nhân tố tốt đẹp của văn minh du mục Mông Cổ với văn hóa nông nghiệp Việt tộc, tạo ra triều đại Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương, Chu – thời Hoàng Kim trong lịch sử phương Đông. Văn hóa Việt Nho được kết tinh trong Tứ thư, Ngũ kinh với những bậc thầy như Lão Tử, Khổng Tử cùng Bách gia chư tử. Đó chính là minh triết phương Đông, đỉnh cao của văn minh nhân loại. Nền Minh triết phương Đông là ngọn đuốc soi đường mà mọi thế hệ sau này phải đến xin lửa từ đó. Đó cũng chính là cái mà Ngài chủ tịch đang dẫn dắt nhân dân Trung Quốc tìm kiếm. Công việc hôm nay là khảo cứu để hiểu thật đúng lịch sử tộc Việt, ngõ hầu tìm lại đạo Việt rồi dùng đạo Việt làm kim chỉ nam khai thác vốn minh triết do tổ tiên để lại, dẫn dắt các dân tộc phương Đông cùng nhân loại đi tới.

   Con người Đông Á được hình thành theo hai thời kỳ, bắt đầu từ 70.000 năm trước. Thời gian quá xa đã xóa đi hầu hết dấu vết. Những cốt sọ xưa nhất tổ tiên để lại cũng chỉ là 32.000 năm. May mắn, nhờ cuốn thiên thư DNA mà tạo hóa ghi lại trong máu huyết, chúng ta tìm được thủy tổ 70.000 năm sinh ra người Việt cổ. Nhờ DNA và khảo cổ, ta biết, vị tổ 7000 năm trước bên bờ Hoàng Hà cho ra lớp chúng ta hôm nay. Do vô minh lịch sử, do lòng tham, hàng thiên niên kỷ, tuy cùng một dòng giống, chúng ta phân biệt Hoa, Di để tranh chấp chém giết khiến cho máu Việt chảy thành sông. Mong rồi có một ngày, nhờ tìm lại được cội nguồn, người Việt, người Hoa, người Hàn, người Nhật nắm tay nhau tới làng Bán Pha đất Thiểm Tây, xây ngôi đền thờ vị tổ 7.000 năm trước để con cháu đời đời hương khói. Tiếp đó, trở về Hòa Bình Việt Nam xây Ngôi Đền Tổ Tiên Nhân Loại, thờ vị thủy tổ 70.000 năm trước, sinh ra không chỉ dân Đông Á mà là toàn thể nhân loại ngoài châu Phi. Mong rằng, với lòng thành của chúng ta, được hồn thiêng của tổ tiên phù hộ, con cháu dòng giống Việt trên khắp thế gian sẽ hành hương tìm về chiêm bái để cùng nhau xây dựng thế giới Thái Bình Minh Triết.

   Kính mong Ngài Chủ tịch nhiều sức khỏe và thành công.

                                                   Tài liệu tham khảo:

1. 良渚文化浙江首次发现墓主”http://www.epochtimes.com 2001-07-27 12:15 AM

2. Chuan-Chao Wang and Hui Li. Inferring human history in East Asia from Y

chromosomes. https://investigativegenetics.biomedcentral.com/articles/10.1186/2041-

2223-4-11

3. S.W. Ballinger et al. Southeast Asian Mitochondrial DNA Analysis Reveals Genetic

Continuity of Ancient Mongoloid Migrations.

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC1204787/pdf/ge1301139.pdf)

4. Melinda A.Yang et al. 40,000-Year-Old Individual from Asia Provides Insight into Early

Population Structure in Eurasia.

https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0960982217311958.


Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2022

KHUYẾN HỌC LÀNG CÓT

 NGUYỄN MINH VŨ

    Làng Cót vốn là làng khoa bảng, Đất tứ danh hương, dân rất chuộng việc học và có truyền thống khuyến học. Từ xa xưa làng đã đặt quan văn trông nom việc học, lại cắt ruộng công làm độc thư điền thưởng cho người học hành đỗ đạt cao, bên cạnh đình chùa đền miếu lại xây cả văn chỉ thờ Khổng Tử, ông tổ đạo Nho và các bậc tiên hiền. Cảnh vợ trẻ thức khuya dậy sớm canh cửi vá may, bên người chồng chăm chỉ đọc sách, làm văn, không phải hiếm, những mong có ngày được hưởng cảnh “võng anh đi trước, võng nàng theo sau”.


   
Trải qua bao biến động, thăng trầm, quang cảnh làng xã có đổi thay, song lòng dân đối với việc học không hề thay đổi; ngay lúc khó khăn đói ăn thiếu mặc, vẫn không quên góp công góp của xây thêm trường lớp khuyến khích con cháu học hành. Nhà nước cũng rất quan tâm đầu tư cho giáo dục cũng như cho khuyến học. Cho đến nay làng Cót đã có đủ các loại hình trường, từ mẫu giáo đến tiểu học, phổ thông cơ sở, phổ thông trung học, tất cả đều khang trang rộng rãi, đều đạt chuẩn quốc gia.

   Hội Khuyến học phường Yên Hòa ra đời năm 2002, tích cực phối hợp với các trường, các gia đình, khuyến khích con em chăm chỉ học tập, đã đạt được nhiều thành tích tốt đẹp, nhiều lần được phường, quận, thành phố biểu dương, khen thưởng. Gần đây nhất, trong ngày lễ kỷ niệm 15 năm thành lập Hội Khuyến Học Hà Nội vào tháng 12 – 2013, Hội Khuyến Học phường Yên Hòa là phường duy nhất được UBND thành phố tặng Bằng khen.

   Gia đình tôi nhiều người làm nghề dạy học, 2 vợ chồng tôi cũng vậy. Từ khi nghỉ hưu về sống ở quê hương làng Cót (1997), tôi đã đề xuất với họ Nguyến Quang thành lập Ban Khuyến học, được cử làm trưởng ban, rồi làm chi hội trưởng chi hội dòng họ, vợ tôi cũng làm chi hội trưởng chi hội dân cư số 32. Gia đình tôi tích cực hoạt động khuyến học, 4 lần được mời báo cáo kinh nghiệm học tập, kinh nghiệm xây dựng Gia đình hiếu học và được mời đọc tham luận ở lễ kỷ niệm 15 năm thành lập Hội Khuyến học Hà Nội. Năm 2008, gia đình đã được dự đại hội Gia đình hiếu học, dòng họ Khuyến học tiêu biểu thủ đô lần II, được tặng giấy khen của hội và một tấm phù điêu. Năm 2013 được dự lễ kỷ niệm 15 năm thành lập Hội Khuyến học Hà Nội, được tặng giấy khen của sở GD ĐT thành phố. Đặc biệt, tháng 10 – 2013, được tham gia đoàn đại biểu thủ đô (8 người) dự đại hội Hội Khuyến Học toàn quốc, được tặng bằng khen của Hội Khuyến học Việt Nam và một cái đồng hồ để bàn; sau đó được cử làm đại biểu của Hà Nội cùng 62 đại biểu khác của 62 tỉnh thành trong cả nước vào phủ chủ tịch gặp chủ tịch nước Trương Tấn Sang, chụp ảnh cùng chủ tịch và được chủ tịch tặng một mô hình phủ chủ tịch. Nhân dịp này, Hội phát động cuộc thi viết về đề tài Khuyến học, tôi vận động cả gia đình cùng viết, đóng thành một tập san 28 trang gửi dự thi.

Kết quả: - Về văn xuôi: 2 bài của tôi Yên Hòa, đất hiếu học, đất khoa bảngKinh nghiệm xây dựng Gia đình Hiếu học được tặng giải Nhất, được Hội KH Hà Nội tặng giấy khen kèm 500 ngàn đồng, Hội Khuyến học quận Cầu Giấy cấp giấy chứng nhận, kèm 250 ngàn đồng, được đăng trong tập Kỷ yếu của Hội Kuyến học Hà Nội.

- Về thơ: 1 bài của bà Nguyệt và 2 bài của tôi được tuyển, in trong tập Khuyến học - Những vần thơ của Hội.

   Tôi còn làm một đôi cấu đối chúc mừng. Nhân nhớ đến hồi đầu năm, tháng 3 – 2013, gia đình tôi được đài Truyền Hình Hà Nội mời tham gia làm một chương trình chủ đề Gìn giữ gia phong đưa vào chuyên mục Chuyện tuổi già chiếu vào 16 giờ ngày chủ nhật hàng tuần, và năm nay tôi đã sang tuổi 81, nên tôi nghĩ được đôi câu đối sau, cũng đưa vào trong tập san gửi dự thi:

Mười lăm năm phát động phong trào cùng xây dựng gia đình hiếu học

Tám mốt tuổi bền gan phấn đấu quyết giữ gìn nền nếp gia phong.

   Đầu tháng 12 – 2013, chủ tịch Nguyễn Minh Hiếu triệu tập họp đại biểu các dòng họ, thông báo quyết định xây dựng lại văn chỉ vốn đã bị san bằng trong CCRĐ, trên thửa đất ước 300 m2 bên cạnh đình làng, tôn vinh các tiến sĩ, cử nhân Nho học của làng và những danh nhân người làng có các công trình đóng góp được xã hội công nhận. Nhận thấy đây là một việc làm cao đẹp, có ý nghĩa trọng đại, lâu dài đối với cư dân làng Cót, nên tôi về suy nghĩ, viết một bài văn theo thể biền ngẫu để ghi lại sự kiện này, đem ra trụ sở UB gửi tận tay chủ tịch Nguyễn Minh Hiếu.

                                    LÀNG CÓT ĐẤT HIẾU HỌC KHOA BẢNG

    Làng Cót ta, theo khảo cổ, có từ hàng ngàn năm về trước; đất địa linh nhân kiệt nằm trải dài bên hữu ngạn sông Tô.

  Kể từ khi lập làng Bạch Liên rồi Yên Quyết, bao gồm hai thôn Thượng, Hạ; sau này lớn dần lên thành hai làng Giấy, Cót, vẫn luôn gắn bó cùng nhau.

   Thế cục đổi thay, hai làng đôi ba lần tách nhập; vận hội xoay vần, làng Cót vẫn vững cội nguồn xưa.

Xưa, tổ tiên ta,

   Cùng với việc xây dựng quê hương an cư lạc nghiệp, đã lo ngay mở mang dân trí khuyến khích học hành.

   Làng cử quan Văn Chưởng chăm lo việc học, lại xây văn chỉ thờ ông tổ đạo Nho; xét trong hương ước đã quy định rõ ràng: dành Độc thư điền thưởng cho người đỗ đạt.

   Con em các họ Nguyễn, Hoàng, Quản, Doãn, Công, Kim…đua nhau dùi mài kinh sử; mười một Tiến sĩ được ghi tên trên bảng vàng, bia đá, rạng rỡ ngàn thu.

   Cụ Hoàng Quán Chi sớm đỗ Thái học sinh, khai khoa cả huyện; cụ Nguyễn Như Uyên một nhà ba tiến sĩ, phúc lớn cho làng.

   Làng quê nào có từ mười tiến sĩ, được vinh danh Làng Khoa bảng; Hạ Yên Quyết với mười một tiến sĩ, thật xứng đáng được vinh danh.

   Rạng rỡ thay! Ngàn năm dựng nước, đất nước ta sản sinh nhân tài lớp lớp;

   Huy hoàng lắm! Bao đời lập nghiệp, quê hương mẹ nêu cao truyền thống thi thư.

   Nay, kỷ nguyên mới,

   Nước nhà độc lập, khó khăn chồng chất, vẫn không quên việc học; lòng luôn tâm niệm: hiền tài là nguyên khí quốc gia.

   Thế nước đi lên, đoàn kết toàn dân, vượt gian khó trùng trùng; đuổi Pháp, thắng Mỹ, đưa non sông về liền một dải.

   Trước Cách Mạng, một trường hàng xã, ba lớp một thầy, dẫu đói ăn vẫn ươm mầm trí tuệ;

   Sau đổi mới, kinh tế cải thiện, một trường mỗi cấp, lòng hiếu học luôn hướng tới tương lai.

   Văn chỉ, trong biển dâu biến động, dấu vết chẳng còn, lòng đau khôn xiết;

   Dân làng, trước vận nước đang lên, quyết xây dựng lại, khí thế dâng cao.

   Đảng ủy, Ủy ban chỉ đạo chọn đất, xuất quỹ công, quyết tâm tỏ rõ;

   Nhân dân, Dòng họ nhiệt huyết tràn đầy, cùng nhập cuộc, quyên góp hăng say.

   Sự kiện lớn lao, trăm năm một thuở, công đức muôn đời;

   Nay ghi chép lại, khắc trên bia đá, gìn giữ nghìn thu.

                                                      Ngày Bính Thìn, tháng Giáp Tý (14 – 11 âm lịch)

                                                          năm Quý Tỵ, tức 6 - 12 – 2013

 

 

   Ghi chú: Cho đến nay (18 – 7 – 2014) không thấy nhắc nhở gì đến chủ trương này nữa, không biết tại sao, trong khi chủ tịch Hiếu đã chuyển công tác lên quận Cầu Giấy.

 

 

 

LÀNG CÓT QUÊ TÔI

 

Làng tôi nằm cạnh sông Tô,

Như cô gái đẹp bên hồ soi gương.

Đình, chùa, đền, miếu khói hương,

Bốn mùa nghi ngút, vấn vương đôi bờ.

Đất học có tiếng từ xưa,

Cháu con trong xã thi đua học hành.

Cử nhân, tiến sĩ thành danh,

Thời nào cũng có, rạng danh xóm làng.

Trước Cách Mạng chỉ một trường,

Ba lớp dạy ghép, lĩnh lương một thầy.

Ngày nay trường mới được xây,

Bốn cấp riêng rẽ, tường quây đàng hoàng.

Học trò ríu rít râm ran,

Hằng ngày hai buổi đến tràng vui sao !

Tuổi ấu thơ đẹp xiết bao,

Trăm năm lợi ích, mừng nào mừng hơn ?

Thành phường đường rộng đẹp hơn,

Nước trong, điện sáng, nhà sơn, tường dầy.

Toàn dân phấn khởi hăng say,

Lao động sáng tạo dựng xây quê nhà.

Đón thiên niên kỷ thứ ba,

Chúc phường thịnh vượng, nhà nhà yên vui.

1 – 2001

 

TRỞ LẠI QUÊ HƯƠNG

 

Thấm thoắt xa quê bốn chục năm

Trở về háo hức, dạ băn khoăn.

Cây si (1) toả bóng, đâu rồi nhỉ,

Cầu gạch (2) bên dòng, biến mất tăm.

Mả Cẵng (3) tha ma thành đất ở,

Mỏ Quang (4) ruộng cấy hoá tha ma.

Văn chỉ (5), ô hay... không dấu vết,

Đình chùa, may quá... vẫn còn nguyên.

Bồi hồi tìm lại ngôi trường cũ,

Đôi bàng sân trước chẳng còn chi.

Vẳng nghe đâu đó trong tâm tưởng

Lời giảng thầy Thơm (6) vẫn vọng về.

4 – 1997

 

 

(1)(2) Trước CCRĐ, bên phải cầu Cót có cây si cổ thụ mấy trăm năm tuổi mọc trên bờ sông Tô, bên cạnh gốc cây có xây mấy bậc gạch xuống sát mặt nước gọi là cầu Gạch.

(3) Tên một bãi tha ma ở cuối làng, gần chỗ chợ Hợp Nhất bây giờ.

(4) Tên một cánh đồng ngày xưa, bây giờ được dùng làm nghĩa trang,song không có quy hoạch gì nên trông như một bãi tha ma.

(5) Văn chỉ, nơi thờ Đức Khổng Tử, trước được xây ở bên cạnh đình làng, nay bị phá sạch, không còn chút vết tích gì.

(6) Tên một thầy giáo dạy ở trường làng Cót vào những năm 40.

 

HOÀI NIỆM

 

Bài 1

Bao năm lưu lạc xa quê

Già rồi mới được trở về quê hương.

Quê hương biết mấy thân thương

Xa quê, xa mẹ dạ vương vấn sầu.

Cuộc đời biến đổi bể dâu

Vui buồn sướng khổ chẳng đâu bằng nhà.

Nhớ con đường nắng chan hòa

Nhớ đình miếu cũ, cây đa, giếng chùa.

Nhớ từng tiếng võng đu đưa

Nhớ hương nan nứa tối trưa làm vàng.

Nhớ ngôi trường cũ hai gian

Nhớ thầy giáo giọng ấm vang giảng bài...

Nhớ dòng Tô Lịch cùng ai

Chạy chơi đùa nghịch, lội bơi chiều hè.

Nhớ cây si cổ bên bờ

Mấy trăm năm tuổi bây giờ còn đâu.

Cuộc đời quả thật bể dâu...

 

Bài 2

 

Bao năm xa cách, ngóng cùng trông

Trường cũ đây rồi, có phải không?

Lớp học hai gian, bền tuế nguyệt

Đại bàng đâu mất, dạ sầu đong.

Bạn bè cùng học, ai còn mất?

Thầy cũ xa rồi, hết mỏi mong.

Trẻ nhỏ một bầy ra đón khách

Trong veo cặp mắt, đẹp vô song!

7 - 1997