Thứ Ba, 14 tháng 1, 2020

ĐỊA NGỤC CHIM TRỜI




VŨ MỪNG

   .    GD&TĐ - Với dân nhậu, mỗi khi thèm một bữa thịt chim rừng là sẽ “mò” về chợ chim trời tại khu vực chân cầu vượt Sài Sơn, huyện Quốc Oai. Ở đây nhiều loài có tên trong sách đỏ cũng được bày bán công khai trong khi thiếu bóng dáng lực lượng chức năng!



                                                             Một góc chợ chim trời



Không giống như những khu chợ tự phát khác chỉ lưa thưa dăm ba lều hàng, ở đây cả một dãy đường biến thành chợ. Hàng chục con người lấy việc buôn bán động vật hoang dã làm kế sinh nhai, thả sức tràn ra đường chèo kéo người mua hàng. Lều hàng nào cũng tràn ngập chim ngói, cuốc hoa, cò, vạc thậm chí cả những loài quý hiếm như: Vịt trời, le le, sâm cầm… cũng bị nhốt hàng đàn. 

Sau lớp lưới thép, những con chim ngói chỉ to bằng nắm tay, trơ trụi lông cánh, ánh mắt thẫn thờ. Hàng chục con le le, què quặt, gãy cánh do dính bẫy. Thấy bóng người bầy chim trĩ hốt hoảng chạy tán loạn. Đến cả sâm cầm mào đỏ, thứ chim dùng để tiến vua khi xưa thì ở đây cũng tập trung hàng chục cá thể. Trong túi lưới, lũ chim ri, chim sẻ đứng túm tụm sợ sệt. Cuốc hoa từng mớ bị treo lủng lẳng. Khắp nơi những con vạc đồng bị trói chặt chân nằm im, bất động. Chúng chẳng đủ sức để kêu vì đã bị bỏ đói, bị nhốt trong lồng nhiều ngày.





Những con le le bị đánh bẫy rồi đem bán



Chưa hết, ở đây còn có cả giống diệc mỏ vàng, lông bạc lấp lánh, sải cánh dài tới hàng mét, được kẻ bán trưng ra ngay trước những sạp hàng. Nếu để ý một chút thì người qua đường cũng có thể nhận ra mắt của những con vạc đã bị kẻ bán dùng kim khâu chặt. Màng mắt từng con đều bị lộn ra ngoài. Hai chân bị buộc cứng, từng đôi diệc hoảng loạn vỗ cánh liên hồi. Đây cũng là cách mà kẻ bán dùng để thu hút mời chào khách qua đường.




Một con diệc đã bị khâu màng mắt



Lâu lâu, người bán lại cho lũ diệc ăn bằng cách banh mỏ rồi ấn từng con cá khô vào trong cổ họng. Con diệc vươn cổ dài ngoẵng, rướn diều cố nuốt. Cá chưa kịp xuống diều, đã bị từng đoạn dây sắt cuốn chặt vòng quanh mỏ. Máu từ cổ ứa ra, con diệc rũ cánh nằm bẹp, hai chân xõng xoài. Trong khi đó vừa làm, người bán vừa oang oang: “Như này thì chúng nó mới sống, thịt mới tươi”.

Ở đây từ những con nuôi bằng cám cò, cho tới giống hàng mà như lời người bán là “hàng xịn” đều đủ cả. Theo lời người bán thì mỗi con le le nặng chưa nổi nửa cân đã có giá 600.000 đồng. Chim ngói thì cứ đếm đầu tính giá sáu chục! Những con sâm cầm mào đỏ là diện quý hiếm thì lên tới hàng triệu.




                                                      Chim sâm cầm mào đỏ



Thời điểm PV có mặt, mặc cho người mua vật nài, kẻ bán nhất định không chịu “cắt tiết” một con vịt trời “hàng xịn” khi người mua không giao trước một triệu đồng. Hay như đôi diệc đang cố sức vùng vẫy kia cũng không được bán đi nếu người mua không trả đủ hai triệu. Cò kè thêm bớt vài chục ngàn đồng người bán cũng chẳng tiếp chuyện.





Con vịt trời tự nhiên có giá hơn 1 triệu đồng



Khi người mua đồng ý với giá người bán đưa ra, những con vật ở đây được làm thịt tại chỗ. Khi máu ở cổ con vật vẫn còn chảy ròng ròng cũng là lúc kẻ bán hả hê cầm tiền, người mua hí hửng vì có thứ hàng độc đặt trên bàn nhậu. Khắp nơi lông của những con vật xấu số được quăng vứt bừa bãi, mùi nội tạng tanh ngòm.





Người bán sẵn sàng giết mổ tại chỗ nếu khách có yêu cầu 

Nếu người mua có thắc mắc về nguồn gốc của món hàng mà mình vừa có được, đều chỉ nhận được câu trả lời chung chung cụt lủn rằng: “Đánh bẫy”! Đáng ngạc nhiên ở chỗ, nếu người mua muốn mua số lượng lớn, kể cả là loài sâm cầm quý giá nằm trong diện bảo tồn hay những con chim trĩ có trong sách đỏ thì người bán đều nói chắc nịch: “Thích bao nhiêu hàng cũng có, to nhỏ, béo gầy đủ cả”. “Nếu cần lấy số lượng chỉ cần Alo trước 2 hôm thôi là đủ hàng”.
.






                                              Chim trĩ được bày bán hàng đàn



Có một sự thật trớ trêu là, ở đây người bán không sợ cơ quan chức năng, cũng chẳng sợ người qua đường phản ứng mà là sợ món hàng mình đang nhốt sẽ chết bất thình lình! Vừa đếm tiền, chủ của một lều hàng cuối chợ vừa cười hềnh hệch: “Như thế thì lỗ vốn mà có thịt thì chả đủ vài cái gắp!”



Mới đây, bài học về sự mất tích gần 30 năm của loài cheo cheo lưng bạc đã gióng lên hồi chuông cảnh bảo về nạn săn bắt động vật hoang dã trái phép. Và nếu không có biện pháp can thiệp hay bảo vệ kịp thời thì ở một tương lai gần, những loài được bày bán ở chân cầu vượt Sài Sơn kia rồi cũng sẽ biến mất. Đừng để con đường dẫn vào Thủ đô lại là địa ngục đối với những loài chim trời.


Vũ Mừng
_________________

Chau Doan
·

Ngang nhiên đánh bẫy, hành hạ, bán chim tự nhiên mà cơ quan chức năng bảo vệ môi trường như bị câm điếc không xử lý. Ấy thế mà có việc gì là bắt nạt dân lành là nhanh.

Tôi kêo gọi báo chí, công luận quan tâm đến việc này nếu không con cháu chúng ta sẽ sống trong một đất nước nghèo nàn, cạn kiệt về sinh thái, môi trường.

Tôi yêu cầu những cơ quan chức năng phải ngăn chặn những việc này lại. Cứ ăn không thuế của dân rồi thành một lũ ăn hại là sao?
Cán bộ đi tham quan nước ngoài nhiều mà không học được điều gì tốt đẹp về áp dụng cho đất nước.

Chim trời thì cứ thờ ơ
Chim quần cưng nứng cho ăn hàng ngày
Cán bộ có mắt như mù
Ngang tai trái mắt cứ lờ như không


Thêm câu thơ để bọn DLV không chê là mình chửi thiếu văn hoá.

TỄU 1/12/2019

Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2020

HỘI THẢO KHOA HỌC ĐỀN HẠNH LÂM XÃ HIỂN KHÁNH VÀ CÁC DI TÍCH THỜI HÙNG VƯƠNG TRÊN ĐẤT VỤ BẢN



   Sáng ngày 14 tháng 11 năm 2019 Trung tâm nghiên cứu văn hóa Minh Triết, thuộc Hội liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam, phối hợp với huyện ủy, UBND huyện Vụ Bản, tổ chức hội thảo khoa học Đền Hạnh Lâm xã Hiển Khánh và các di tích thời Hùng Vương trên đất Vụ Bản, tại trụ sở UBND xã Hiển Khánh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
    Dự hội thảo có đồng chí Nguyễn Văn An - Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội tổ chức Việt Nam; đồng chí Đỗ Xuân Tú - Phó Bí thư Thường trực huyện ủy; đồng chí Đỗ Văn Kỳ - Ủy viên ban thường vụ huyện ủy, phó chủ tịch UBND huyện; các đại biểu đại diện cục Di sản văn hóa thuộc bộ VH-TT&DL, đại diện một số cơ quan của sở VH-TT&DL, lãnh đạo một số cơ quan, ban ngành, đoàn thể của huyện; lãnh đạo các xã trong huyện, cùng đông đảo các nhà nghiên cứu, đại diện Ban chấp hành dòng họ Trần và một số ban quản lý di tích thời Hùng Vương trên địa bàn huyện.
 
                                                                         Đoàn chủ tịch hội thảo


                                                                          Các đại biểu dự hội thảo

   Trong diễn văn khai mạc Hội thảo, đồng chí Đỗ Văn Kỳ - Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Phó Chủ tịch UBND huyện đã khẳng định tầm quan trọng của hội thảo này nhằm làm rõ hơn về di tích Đền Hạnh Lâm xã Hiển Khánh – nơi thờ hai vị Thiên tử Minh Gia và Minh Tôn thời Hùng Vương thứ VI cũng như các di tích, di sản văn hóa thời Hùng Vương trên vùng đất Thiên Bản xưa, Vụ Bản ngày nay; từ đó khẳng định bề dày truyền thống văn hóa của huyện Vụ Bản và định hướng cho công tác bảo tồn, tôn tạo, phát huy các di tích văn hóa trên địa bàn huyện.
   Tại hội thảo khoa học Đền Hạnh Lâm xã Hiển Khánh và các di tích thời Hùng Vương trên đất Vụ Bản các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa đã trình bày nhiều tham luận về nghiên cứu về di tích lịch sử Đền Hạnh Lâm, lịch sử các địa danh huyện Vụ Bản, về trống đồng núi Gôi, các truyền thuyết và thần tích thời đại Hùng Vương trên địa bàn huyện…




                                       Tác giả Trương Sỹ Hùng đọc tham luận 



  Thôngqua các tham luận tại hội thảo đã khẳng định Vụ Bản là mảnh đất địa linh nhân kiệt, là vùng đất có lịch sử văn hóa lâu đời, bắt nguồn từ thời Hùng Vương với tên gọi là huyện Bình Chương thuộc Bộ Lục Hải, nhà Hán đô hộ thuộc Quận Giao Chỉ, tiếp đó đổi tên là huyện Thiên Bản và đến thời Nguyễn đổi thành huyện Vụ Bản như ngày nay. Trên địa bàn huyện có tới 75 đền miếu thờ hơn 40 vị thần và nhiều di vật, di sản văn hóa thời Hùng Vương dựng nước, tiêu biểu là Đền Hạnh Lâm của xã Hiển Khánh thờ hai vị tộc Trần có công cùng Phù Đổng Thiên vương đánh giặc giữ nước













                                         

                                   Tác giả Trịnh Sinh đọc tham luận 





                                       Tác giả Bùi Văn Tam đọc tham luận 



                      Tác giả Trần Thị Băng Thanh đọc tham luận 

        Theo đánh giá của Ban tổ chức, Hội thảo khoa học “Đền Hạnh Lâm xã Hiển Khánh và các di tích thời Hùng Vương trên đất Vụ Bản” đã quy tụ được nhiều nhà nghiên cứu từ Trung ương đến địa phương với nhiều bản tham luận có ý nghĩa cao về mặt khoa học, lịch sử. Đây là cơ sở để các cơ quan chức năng của tỉnh và huyện Vụ Bản tiếp tục nghiên cứu, khảo sát và xây dựng kế hoạch trùng tu, tôn tạo, gìn giữ và phát huy các di tích, di sản quý giá thời Hùng Vương trên địa bàn huyện nói chung và di tích Đền Hạnh Lâm xã Hiển Khánh nói riêng, hướng tới công nhận đây là một di tích lịch sử văn hóa của quê hương.


                                    Quốc Huy Trung tâm Văn hóa – Thông tin và Thể thao Vụ Bản


Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2019

THÊM MỘT CUỐN SÁCH VỀ THĂNG LONG HÀ NỘI


LÊ HỒNG LÝ

 


Có một hình ảnh mà tất cả hội viên Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội thường thấy, đó là mỗi khi có dịp hội họp, sinh hoạt  hay đi thực tế địa phương tại các di sản văn hóa hay các vùng đất ngoài Hà Nội, nhà nghiên cứu Hồ Sĩ Tá luôn hăng hái, say sưa tìm hiểu, phỏng vấn, ghi chép, chụp ảnh những di tích,những hoạt động trình diễn dân gian hay tất cả các hiện tượng văn hóa đang diễn ra tại đó. Với dáng cao to, nhìn có vẻ hơi chậm chạp, song sự năng động, tích cực và hăng hái của anh thì mọi người đều phải nể phục.

Sinh ra trong một gia đình truyền thống cách mạng, một dòng họ nổi tiếng bậc nhất trong các dòng họ khoa bảng ở Việt Nam, dòng họ Hồ Quỳnh Đôi, Nghệ An, song anh lại gắn bó lâu năm với Hà Nội. Anh chưa bao giờ tỏ ra là người dựa dẫm vào danh tiếng của dòng họ và gia đình để thể hiện mình, mà luôn luôn khiêm nhường và chân thành hết mực. Một điều đáng quý hơn là nghề nghiên cứu và viết báo của anh hoàn toàn là nghề tay trái, bởi vì xuất thân anh làm nghề thợ tiện thuộc nhà máy Cơ khí trung quy mô Hà Nội, sau đó chuyển sang Công ty xe đạp Vi Ha.

Từ đây anh phấn đấu vào học đại học Bách Khoa Hà Nội– khoa Cơ khí chế tạo máy rồi trở lại nhà máy cũ làm kỹ sư phòng kỹ thuật, Công ty xe đạp Vi Ha. Thời khói lửa của cuộc chiến tranh ở cả hai biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ Quốc, với truyền thống của một gia đình cách mạng, anh nhập ngũ tham gia đóng góp cho quân đội bảo vệ đất nước. Trong quân đội anh đã được phong đến cấp trung úy, đai đội phó đại đội kỹ thuật - D26 thuộc phòng kỹ thuật, sư 312, quân đoàn I, quân đội nhân dân Việt Nam. Khi tiếng súng tạm thời lắng xuống, năm 1982 anh lại trở về nhà máy cũ của mình là công ty xe đạp Vi Ha. Ít ai có thể ngờ rằng, một người con trưởng trong một gia đình cách mạng của một dòng họ trâm anh thế phiệt lại phải trải qua nhiều vất vả trong cuộc sống mưu sinh. Lúc khó khăn của thời kỳ bao cấp giữa những năm 80 của thế kỉ trước, anh đã tham gia lao động xuất khẩu ở nước ngoài, làm đội trưởng quản lý lao động hợp tác tại nhà máy sản xuất ô tô YOZ  tại thành phố Ulianop thuộc CHLB Nga, trong gần 10 năm rồi lại trở về nhà máy cũ làm việc và nghỉ hưu từ đây.

     Kể lại tất cả những trích ngang lý lịch trên để nói  một điều: tác giả của cuốn sách này đã có một cuộc đời từng trải không phải dễ dàng. Hơn thế, cái trích ngang tiểu sử ấy cho thấy anh hoàn toàn không được đào tạo gì về việc viết lách, vậy mà anh đã có được một công trình mà bạn đọc đang cầm trên tay, đó là điều rất đáng được khâm phục. Có lẽ cái nguồn mạch của gia đình, dòng họ cùng với những năm tháng bươn trải, lăn lộn với cuộc sống đã làm nên cái hồn nghệ sĩ, sự từng trải làm cho anh đồng cảm, lòng trắc ẩn với số phận con người, niềm yêu quý, trân trọng và ham mê tìm hiểu các di sản văn hóa của cha ông. Hơn thế, Hà Nội dù không phải là quê hương anh, nhưng lại là nơi làm nên con người anh, tạo cho anh vốn sống, niềm say mê như nhiều người xứ Nghệ khác ra đây sinh sống. Bởi vậy anh đã yêu mến nó một cách nhiệt thành vô bờ bến, cho nên thôi thúc anh khám phá, tìm hiểu và viết về nó.

     Để bù lại kiến thức “ngoại đạo” trong nghề viết, anh đã cố gắng học hỏi: ngày 7/3/1996 anh đã tốt nghiệp “Lớp hướng dẫn sáng tác văn học khóa 4” của Hội Liên Hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội và Hội Nhà Văn Hà Nội tổ chức. Chủ nhiệm kiêm phụ trách lớp là nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn, giáo viên gồm những nhà văn nổi tiếng như: Tô Hoài, Lê Lựu, Vũ Cao, Anh Ngọc, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Hữu Nhàn… Ngay trong khi đang ở khóa học, tài năng viết của anh đã bộc lộ với hai bài báo : Những mẩu chuyện viết văn của Lê Lựu , đăng trên báo Thanh Niên và: Nhà thơ Vũ Cao với xuất xứ bài thơ Núi đôi đăng trên báo Hà Nội mới cuối tuần ngày 2/4/2014 anh đã tốt nghiệp khóa  “Bồi dưỡng kỹ năng sáng tác VHNT Khóa III” do Trung tâm Bồi dưỡng sáng tác VHNT Đất Việt tổ chức. Trong Lời mời đón đọc Hà Nội ngàn năm Xuân Kỷ sửu 2009, báo Hà Nội mới chủ nhật ngày 11/1/2009 đã viết : “Nhân dịp đón xuân Kỷ Sửu năm 2009, báo Hà Nội mới ra mắt ấn phẩm Hà Nội ngàn năm số dặc biệt, khuôn khổ 20  x 28,5cm. 100 trang, trình bày đẹp hấp dẫn, với nhiều bài viết đặc sắc của các giáo sư, nhà báo tên tuổi: GS Tương Lai, Đại đức Thich Mạnh Hiền, Nguyễn Văn Dương, Hồ Sĩ Tá, Nguyễn Vinh Phúc, Lê Văn Long, Đỗ Hoàng Giang, Đỗ Minh, Nguyễn Lưu,  Trương Văn Căn, và các Nhà thơ: Lê Bình, Trần Ninh Hồ, Hồng Quang, Đặng Huy Giang, Trần Quang Quý…Trong số báo này bài Đền Kim Ngưu và các sự tích Trâu Vàng là của anh viết.

     Dấu ấn Thăng Long  là một thành tựu mới, ghi nhận sự trưởng thành về chuyên môn nghiên cứu, sưu tầm của anh. Những ghi chép về đình, đền, chùa, lễ hội, ẩm thực, chợ, phong tục tập quán, danh thắng và những giá trị văn hóa khác của Hà Nội chưa được đưa vào đây còn là những suy tư, trăn trở và là tình yêu thầm lặng, thiết tha của anh đối với Hà Nội. Tất nhiên, với một người không phải chuyên nghiệp, có thể đây đó trong công trình người đọc có thể chưa thỏa mãn, song thiết nghĩ những gì có được trong cuốn sách này là một sự làm việc miệt mài, say mê và đặc biệt là sự chân thành của tác giả trong suốt một thời gian dài với mảnh đất Thăng Long ngàn năm văn hiến.

     Xin chức mừng tác giả và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.







                                                                                           

Thứ Hai, 23 tháng 12, 2019

SỰ CẦM NHẦM VĨ ĐẠI



 SỰ CẦM NHẦM VĨ ĐẠI
Hà Văn Thùy
                                                                    và...


TIẾP NHẬN THÔNG TIN & ĐA CHIỀU NHẬN THỨC


Bất hòa nhận thức: Cách người bán thay đổi niềm tin người mua qua marketing

Con người luôn cảm thấy khó chịu khi đón nhận những thông tin trái chiều, tuy nhiên, các bậc thầy bán hàng đã tìm được cách “len lỏi” vào tâm trí người dùng, khiến họ tự thuyết phục bản thân để đưa ra quyết định mua sắm qua "Bất hòa nhận thức".

Khi niềm tin bị lung lay

Bất hòa nhận thức (Cognitive dissonance) là một lý thuyết được nhà tâm lý học Leon Festinger đưa ra vào năm 1957.

Bất hòa nhận thức được hiểu đơn giản là cảm giác khó chịu khi một người nhận thức được hai hoặc nhiều hơn các niềm tin, ý tưởng hoặc giá trị trái ngược nhau.

Vì những gì đang tiếp thu trái ngược hẳn với niềm tin vốn có của họ, con người ngay lập tức bị tấn công bởi những suy nghĩ mâu thuẫn và nghi ngờ nội tâm. Để thoát khỏi cảm giác khó chịu, não bộ ngay lập tức tìm cách giải quyết mâu thuẫn bằng cách tự trấn an, "lọc" thông tin theo hướng có lợi cho bản thân hoặc tránh tiếp xúc với thông tin "trái chiều".

Trong thử nghiệm nổi tiếng vào năm 1959, một nhóm tình nguyện viên bị nhốt từng người trong phòng và thực hiện nhiều hoạt động chán chường trong suốt một tiếng. Sau khi kết thúc thử nghiệm, các tình nguyện viên được "nhờ vả" truyền đạt lại với người đến sau (một nhà khoa học đóng giả tình nguyện viên) rằng thí nghiệm vừa rồi rất là thú vị, hoàn toàn ngược lại với niềm tin đang có của họ.

Trước khi truyền đạt, số tình nguyện viên được chia ra làm 2 nhóm, một nhóm chỉ nhận được 1 USD "tiền công", trong khi nhóm còn lại được cho tới 20 USD.

Đúng với dự đoán của Festinger, nhóm nhận được 1 USD đánh giá hoạt động vừa rồi thú vị hơn hẳn. Vì họ đã chấp nhận lời đề nghị của các nhà khoa học, chế độ chống lại "bất hòa nhận thức" trong tâm trí họ được bật lên, khiến họ nghĩ ra mọi lý do để trấn an hoạt động vừa thực hiện.

Đối với nhóm nhận được 20 USD, số tiền lớn trên khiến họ không còn cảm thấy "bất hòa" nữa, mất luôn động lực nghĩ ra cách trấn an cho một tiếng vừa rồi.


Trên thực tế, mỗi khi bất hòa nhận thức xuất hiện, tâm trí con người sẽ có 4 cách "giải quyết" khác nhau:

- Thay đổi hành vi nhận thức.

- Bào chữa bằng cách thay đổi xung đột.

- Bào chữa bằng cách thêm nhận thức mới.

- Phớt lờ hoặc từ chối thông tin xung đột.

Chẳng hạn như một người đang cố gắng giảm cân, nhưng trước mắt họ là chiếc bánh kem ngon lành, họ sẽ bắt đầu "giải quyết bất hòa" theo những cách sau:

- Mình quyết tâm không ăn một miếng bánh nào cả, đây là miếng cuối cùng.

- Giảm cân là một quá trình, mình chỉ ăn nốt miếng bánh này thôi.

- Miếng bánh có là bao, sau khi ăn thì tối nay mình sẽ tập thể dục.

- Trên thực tế, bánh ngọt cũng không có quá nhiều đường và calo.

Marketing thay đổi niềm tin

Nắm được những "bất hòa" trong tâm trí người dùng, nhiều chiến dịch marketing đã sử dụng thông tin làm trọng tâm để người dùng dễ dàng "tự trấn an" bản thân và đưa ra quyết định mua sắm.

Chẳng hạn như mẫu quảng cáo trên, ai cũng biết uống bia nhiều có hại cho sức khỏe, nhất là những người đang cố gắng giảm cân.

Hãng bia Miller liền tung ra sản phẩm "Miller Lite", đảm bảo ít calories, ít carb mà lại có hương vị ngon hơn hẳn Bud Light - hãng bia nhẹ đang đứng đầu thị trường. Từ đó, tâm trí của người dùng sẽ nhanh chóng trấn an rằng "Miller Lite ít calories mà, lâu lâu uống một lon có sao đâu."

"Bất hòa nhận thức" cũng là lý do các nhãn hiệu mới luôn cố gắng tung ra những đoạn quảng cáo có sự chứng thực của người dùng đi trước, hoặc đầu tư một khoản tiền không nhỏ để "làm" ra các báo cáo khoa học có lợi cho sản phẩm.

Những bước đi trên dễ dàng thuyết phục người dùng thay đổi niềm tin hiện tại của họ sang những sản phẩm & dịch vụ mới nhưng có vẻ tốt hơn.

Nếu không có những thông tin "có cánh" để trấn an, các nhãn hàng sẽ chuyển sang sử dụng người nổi tiếng hoặc một đoạn quảng cáo hài hước.

Những yếu tố "tích cực" tuy không cung cấp thêm thông tin để người dùng giải quyết bất hòa, nhưng nó sẽ gia tăng hưng phấn của người xem, giúp họ vui vẻ tự nghĩ ra lý do để thuyết phục bản thân.

Những bậc thầy bán hàng

Nhưng bất hòa nhận thức được sử dụng thành công nhất trong trao đổi trực tiếp.

- Đạt là một doanh nhân mới nổi, nhưng anh ấy vẫn sử dụng chiếc xe 2 bánh cho công việc hằng ngày. Sau khi biết được câu chuyện trên, chuyên viên bán xe ngay lập tức chia sẻ rằng không phải ai cũng "có gan" sử dụng xe 4 bánh, và xe hơi không phải là một gánh nặng tài chính mà là động lực để người chạy tiếp tục tiến những bước xa hơn trong sự nghiệp.

Những lời nói trên liên tục "củng cố" và giải quyết bất hòa trong tâm trí của Đạt, giúp anh nhanh chóng tiến tới quyết định mua xe, dù có trả góp đi chăng nữa.

- Tuấn là một người đàn ông của gia đình, anh luôn tự hào khi thấy vợ mình hạnh phúc. Khi thấy hai vợ chồng vui vẻ đi ngang tủ kính trưng bày trang sức, người bán hàng ngay lập tức mời họ xem những sản phẩm mới nhất, kèm theo những lời có cánh như: "Chiếc nhẫn này sẽ thể hiện tình yêu của anh đối với vợ", hay "Những ông chồng "soái ca" ngày nay toàn dành 2 tháng lương để mua trang sức tặng vợ, cầu hôn người vợ của mình hết lần này đến lần khác".

Tuy đang cảm thấy "bất đồng" với mức giá khá cao, nhưng các lời quảng cáo trên nhanh chóng làm cho Tuấn bớt khó chịu, dễ dàng tự nghĩ ra những suy nghĩ tự trấn an tiếp theo cho quyết định mua sắm.

Kết luận

Bất chấp niềm tin hiện có của người dùng, nếu như các chuyên gia marketing nắm được tâm lý và tạo điều kiện cho họ tự nghĩ ra các phương án giải quyết bất hòa nhận thức, đơn hàng mới chắc chắn sẽ xuất hiện.

Nhưng nếu để khách hàng cảm thấy không hứng thú, bất hòa nhận thức ngay lập tức gia tăng cảm giác tội lỗi, hối hận, hồi hộp… khiến họ giữ vững niềm tin hiện có của mình và từ chối "xuống tiền".

Không những thế, người tiêu dùng còn có kinh nghiệm phát sinh bất hòa nhận thức một thời gian sau khi mua sản phẩm/ dịch vụ, dẫn tới việc cẩn trọng hơn trước khi ra quyết định. Đó là lý do bên bán hàng ngay lập tức sử dụng các chiến thuật "trấn an" qua chương trình hậu mãi, bảo hành, 1 đổi 1…

Thanh Sang

(Theo Tri thức trẻ)





 SỰ CẦM NHẦM VĨ ĐẠI
Hà Văn Thùy

Việc Kỹ sư Chu Văn Tiệp tìm ra “con số vàng” (1) trong việc đẻ nhánh và ra lá của cây lúa là khám phá lớn của nông học Việt Nam. Tôi đánh giá nó ngang với giải Nobel khoa học. Tuy nhiên cho đó là sản phẩm của “nhà thiết kế vĩ đại”lại là chuyện tầm phào, hay đúng hơn là sự cầm lầm vĩ đại. Xin trình bày như sau.

1.Khảo cổ học khám phá, 13.000 năm trước, người Việt tại Tiên Nhân động và Ngọc Thiềm nham, nay thuộc tỉnh Giang Tây Trung Quốc, đã ăn một lượng đáng kể hạt của loài lúa hoang Oryza nivara. Và 12.400 năm trước, người Việt cũng đã ăn cơm từ loài lúa trồng Oryza sativa. Lúa trồng khác lúa hoang không chỉ ở hạt lúa tròn hơn, lông trên hạt thưa hơn, râu ngắn bớt mà quan trọng nhất là ở cấu tạo tế bào của phytolic, mà thành phần chủ yếu là silic, làm nên vỏ trấu. Chính nhờ yếu tố này, khoa học phân biệt được lúa hoang và lúa trồng. Do chọn lọc liên tục hơn 12.000 năm vì mục đích có giống lúa cho năng suất cao và chất lượng tốt nhất nên đến nay dân châu Á có hai chủng lúa Oryza sativa indica và Oryza sativa japonica.

Trong quá trình trồng  lúa lâu đời, người nông dân Việt rút ra kinh nghiệm: nhất nước, nhị phân, tam cần, tứ giống. “Tứ phương” nêu trên thể hiện kinh nghiệm truyền thống. Tuy nhiên nó cũng phản ánh hạn chế trong tư duy của người Việt, khi không coi trọng khâu giống. Dù vẫn hiểu “tốt giống tốt má, tốt mạ tốt lúa”nhưng đặt giống ở cuối các biện pháp thâm canh đã kìm hãm tiến bộ của nông nghiệp. Nền nông nghiệp hiện đại, đặt vai trò của giống lên hàng đầu, từ đó đưa tới cuộc cách mạng xanh, tăng nhanh sản lượng cũng như chất lượng lúa gạo. Chính giống mới đã phát huy tác dụng của tổ hợp biện pháp canh tác.

Trong các biện pháp canh tác, thì lựa chọn mật độ gieo cấy là nỗi trăn trở thường trực của người nông dân. Nông nghiệp truyền thống xác định “cấy thưa thừa thóc, cấy dầy cóc ăn.”Những năm 1960, miền Bắc Việt Nam,“học Đại Trại” theo bước nhảy vọt của Trung Quốc nên có khẩu hiệu “Cấy thưa thừa đất, cấy dầy thóc chất đầy kho.”Từ thất bại của mô hình này, ra đời khẩu hiệu “Cấy dầy vừa phải thóc rải đầy sân.”Nhưng thế nào là “cấy dầy vừa phải”lại là chuyện mày mò của hàng triệu nông dân để tìm ra công thức cấy thích hợp. Và rồi từ đó, điều kỳ diệu đã xảy ra: “KS Chu Văn Tiệp phát hiện ra: Cần thay đổi cách cấy lúa, giảm sâu số khóm chỉ còn 8 – 16 khóm/m2 với khoảng cách cấy dễ dàng tính được nhờ vào biểu thức toán học đơn giản dựa vào đặc điểm của giống (chiều cao cây, dạng hình tán lá… có điều chỉnh cho phù hợp với loại đất…). Công nghệ cấy lúa hàng biên còn làm thay đổi quan điểm bảo thủ di truyền của số hạt/bông khi sự phân hóa đòng đã làm tăng mạnh số hạt nhờ cây hưởng hiệu ứng ánh sáng hàng biên. Công nghệ cấy này đã tác động đến các yếu tố chính cấu thành năng suất lúa như: số dảnh/khóm, số bông/m2, số hạt/bông, trọng lượng nghìn hạt và đã gây hiệu quả kinh tế đáng ngạc nhiên cho không ít cán bộ kỹ thuật, nông dân (tăng năng suất dù giảm sâu giá thành) và đã nhanh chóng được nông dân ứng dụng rộng rãi.”(1)

Phân tích trên cho thấy, từ chọn ra loài lúa trồng và sử dụng biện pháp thâm canh thích hơp để tạo ra dòng lúa đẻ nhánh và ra lá theo tỷ lệ vàng là chọn lọc nhân tạo, công việc của con người. Hoàn toàn không có ở lúa hoang mọc tự nhiên. Vì vậy việc gắn thành tích này cho nhà thiết kế vĩ đại là không thỏa đáng. Hay nói cách khác, đó lại là sự vơ vào, sự cầm nhầm vĩ đại!

2. Dường như văng vẳng bên tai tiếng “khì” đắc chí của mấy vị “sát thủ thuyết Tiến hóa” khi “bắt chết”dân “tiến hóa” phải trưng ra bằng chứng về “sự sống đầu tiên.”Một đòi hỏi không chỉ phi khoa học mà còn bất cận nhân tình. “Mầm sự sống” là gì nếu không phải là những giọt vật chất đơn sơ nhất, nhỏ nhoi nhất, yếu đuối nhất? Cái giọt vật chất mong manh ấy làm thế nào mà tồn tại được qua hàng tỷ năm để hôm nay trưng ra trước bàn dân thiên hạ? Gần suốt thế kỷ XX, chúng ta chỉ biết đến cốt sọ cổ nhất của người Sơn Vi 32.000 năm tuổi. Rồi khi di truyền học công bố: “Con người có mặt ở Việt Nam 70.000 năm trước,”ta mới hiểu rằng có tới 40.000 năm tổ tiên bị chôn vùi, không để lại cho con cháu dù chỉ một mẩu xương! Vậy thì làm sao mà hôm nay có được cái giọt coaseva hình thành từ hàng tỷ năm trước?!

Để thoát khỏi tình trạng bế tắc, tôi bèn nghĩ ra thuyết mới, gọi là Thuyết tiến hóa nhị nguyên. Nội dung như sau: Thiên chúa giáng thế. Người cầm trong tay một nắm hạt mầm sự sống và nói: “Ta sinh ra các con trong tình yêu thương. Nay ta đưa các con vào đời. Trong tự nhiên khắc nghiệt, các con phải sống và vươn lên mãi cho xứng đáng với lòng thương yêu của Chúa.”Nói rồi người tung nắm hạt mầm ra trước gió. Gió đưa mỗ hạt đến một nơi. Có những hạt rơi vào đá vào bãi cát khô nóng liền bốc hơi, tiêu tán. Có những hạt rơi vào nơi ẩm ướt. Chúng hút dưỡng chất và lớn lên. Trong số chúng, có những hạt đạt tới độ lớn thì chia thành hai hạt. Sự sinh sản bắt đầu… Cứ như thế, trong thử thách dài lâu của chọn lọc tự nhiên và đấu tranh sinh tồn, một thế giới sống kỳ diệu hình thành. Hẳn có người chê tôi là duy tâm, là cơ hội, là đi hàng hai… Nhưng tôi cảm thấy tâm đắc với lý thuyết này. Dù là đấng sáng tạo với lòng lành nhưng Chúa chỉ là người gieo hạt ban đầu. Còn sự sự sống hôm nay là công việc của tự nhiên, trong đó có nỗ lực tự thân của mỗi sinh vật góp phần tạo nên bản thân mình. Dù sao tôi cũng thích một tự nhiên vận động có sự tham gia tích cực của chủ thể hơn là một thế giới của định mệnh, tất cả được an bài theo một lập trình tiền định.

Chỉ âm thầm suy nghĩ một “thuyết” như vậy mà do dự chưa dám bật mí với ai thì lại có bản tin nói rằng, người ta phát hiện trên phiến đá 3,5 tỷ năm hóa thạch của sự sống đầu tiên. Một bản tin quá ngắn so với tầm trọng đại của vấn đề nó nêu lên. Tin được không? Tôi không biết nữa vì bây giờ óc hoài nghi quá lớn. Hãy chờ xem! Nếu tin này chính xác thì quá mừng, dù cho cái “thuyết tiến hóa nhị nguyên” của tôi chưa kịp ra đời đã chết!

3. Làm fan của một đội banh thì chỉ việc tới sân banh vẽ mặt, phất cờ và la hét. Nhưng làm fan hay phản đối một lý thuyết khoa học không đơn giản vậy. Chí ít, phải học theo Tôn tử tri kỷ tri bỉ. Có nghĩa là phải hiểu thật sâu cái lý thuyết mình ủng hộ hay phản đối để ít nhất cũng hiểu được mình ủng hộ hay phản đối cái gì! Lại nữa, khi chôm những thông tin mới để ủng hộ thần tượng của mình thì cũng cần có tri thức thực sự, hiểu đúng bản chất của thông tin đó. Nếu chỉ ăn theo nói leo thì khó tránh khỏi họa dở khóc dở cười mang tiếng cầm nhầm và cái đau gậy ông đập lưng ông!

                                                          

                                                                               Sài Gòn, cuối năm con Heo



1.    Phạm Việt Hưng. BÍ MẬT CỦA TẠO HÓA – TỶ LỆ VÀNG TRONG QUY LUẬT ĐẺ NHÁNH CỦA CÂY LÚA.      

 Thôn Minh triết. com

       2.  Scientists find the earliest signs of life from 3.5 billion years ago

               https://www.cnet.com › news › scientists-find-the-earliest-si...

Các nhà khoa học đã phát hiện ra dấu tích vi sinh vật trong những tảng đá 3,5 tỷ năm tuổi, cho thấy một số dấu hiệu sớm nhất của sự sống trên hành tinh. Các chất hữu cơ được phát hiện trong stromatolites, hóa thạch lâu đời nhất của Trái đất, ở khu vực Pilbara ở Tây Úc, các nhà khoa học tại Đại học New South Wales cho biết hôm thứ Năm.

Mặc dù stromatolites đã được tìm thấy vào những năm 1980, nhưng các nhà khoa học chỉ có thể chứng minh chúng là vi khuẩn. "Lần đầu tiên, chúng ta có thể cho thế giới thấy rằng những stromatolite này là bằng chứng rõ ràng cho sự sống sớm nhất trên Trái đất", trưởng nhóm nghiên cứu Raphael Baumgartner nói.

Để kiểm tra, các nhà khoa học đá đã lấy các mẫu lõi khoan, không bị phong hóa. Họ đã kiểm tra các mẫu bằng kính hiển vi điện tử công suất cao, quang phổ và phân tích đồng vị. Baumgartner phát hiện ra rằng stromatolites được làm từ pyrite, có chứa chất hữu cơ "được bảo quản đặc biệt".








































Thứ Năm, 19 tháng 12, 2019

LẠM BÀN VỀ TÍNH GHI Ý CỦA CHỮ HÁN


(Nhân đọc Nghiên cứu chữ Hán hiện đại của thế kỹ XX)

NGUYỄN HẢI HOÀNH




Ngôn ngữ** gồm tiếng nói và chữ viết. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “chữ viết là hệ thống ký hiệu bằng đường nét đặt ra để ghi tiếng nói”. Chúng tôi thiển nghĩ Chữ viết là hệ thống ký hiệu thị giác dưới dạng văn bản dùng để ghi tiếng nói và ý nghĩ của loài người. Ở đây thêm “ghi ý nghĩ” vì người ta nghĩ nhiều hơn nói, không nói được vẫn có thể dùng chữ để biểu thị ý nghĩ. Thêm “dưới dạng văn bản” để phân biệt với loại ngôn ngữ bằng tay mà người câm điếc dùng, cũng là hệ ký hiệu thị giác ghi tiếng nói và ý nghĩ nhưng không phải là chữ viết. Chữ viết gắn bó chặt chẽ với tiếng nói, khi nghiên cứu chữ viết phải xem xét mối quan hệ cực kỳ quan trọng này.

Do nguyên nhân lịch sử, người Việt Nam luôn quan tâm tới chữ Hán. Vả lại đây là loại chữ viết độc đáo và có nhiều người dùng; nghiên cứu chữ Hán có thể giúp làm rõ các vấn đề về ngôn ngữ học, một lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn cực kỳ phức tạp.

Tính chất chủ yếu của chữ Hán

Khác với các loại chữ viết còn lại, chữ Hán được cấu tạo chủ yếu dựa vào ý nghĩa mà chữ thể hiện chứ không dựa vào ngữ âm; mỗi chữ biểu thị một ý nghĩa, nhìn chữ không đọc được âm; thông tin chủ yếu mà tự hình đem lại là ý nghĩa của chữ, không phải âm đọc; nghĩa là chữ không có quan hệ trực tiếp với ngôn ngữ nói. Đặc tính này làm cho chữ Hán có một số phận đặc biệt.

Căn cứ vào phương thức chữ viết dùng để biểu đạt ngôn ngữ, tổ sư ngôn ngữ học thế giới Ferdinand de Saussure (1857-1913) chia chữ viết của loài người làm hai hệ thống lớn là chữ biểu ý (chữ ghi ý, ideogram) và chữ biểu âm (chữ ghi âm, phonogram), và xác định chữ Hán là loại chữ biểu ý. Quan điểm đúng đắn này được nhiều nhà ngôn ngữ học Trung Quốc (TRUNG QUỐC) tán thành. Nhưng có người cho rằng từ “chữ biểu ý” dễ gây nhầm lẫn [xem Tô Bồi Thành…Sđd, trang14].


Năm 1957, Châu Hữu Quang (1906-2017) nêu quan điểm: Chữ viết trải qua ba giai đoạn phát triển là chữ hình ý, chữ ý âm và chữ biểu âm. Các loại chữ nguyên thủy đều dùng phương pháp biểu hình và biểu ý để biểu đạt ngôn ngữ, gọi là chữ hình ý (ví dụ chữ tượng hình), chưa biểu âm; về sau phát triển thành chữ ý âm (ideo-phonogram), vận dụng tổng hợp hai phương thức biểu ý và biểu âm để biểu đạt ngôn ngữ. Chữ Hán, chữ Ai Cập cổ, chữ hình nêm, chữ Maya thuộc loại chữ ý âm. Chữ biểu âm là giai đoạn phát triển cuối cùng. Chữ Ai Cập cổ và chữ hình nêm trải qua 2000 năm thai nghén sinh ra chữ cái, hình thành chữ biểu âm.[SĐD tr. 20].     
Triệu Nguyên Nhiệm (1892-1982) coi chữ Hán là chữ ngữ tố (logogram); ở đây ngữ tố (morpheme) là đơn vị nhỏ nhất kết hợp ngữ âm với ngữ nghĩa; đơn vị của chữ ngữ tố là chữ (tự, không phải là chữ cái), mỗi chữ đều có ý nghĩa; mỗi chữ Hán thể hiện một ngữ tố đơn âm của Hán ngữ, ghi một âm tiết, là một từ. Chữ biểu âm không thể hiện ngữ tố, nó là chữ âm tố, nói chung mỗi chữ cái chỉ thể hiện một âm tố, không thể hiện nghĩa; âm tố còn gọi âm vị; có thể ghép các âm tố (chữ cái) thành một âm tiết. Lã Thúc Tương (1904-1998) tán thành Triệu, và nói Chữ Hán là sự kết hợp hình, âm, nghĩa; tất cả các loại chữ khác đều chỉ là sự kết hợp hình và âm. Như vậy thực ra chẳng khác gì nói chữ Hán là chữ biểu ý. [SĐD tr.9]

Tóm lại, dù xếp vào loại nào thì chữ Hán chủ yếu vẫn chỉ là ký hiệu ghi ý của ngôn ngữ. Ngay cả chữ hình thanh (chiếm hơn 80% tổng số chữ Hán) tuy có thành phần biểu âm gọi là “thanh bàng” nhưng không thể dựa vào thanh bàng để đọc âm của chữ. Như vậy, biểu ý là đặc tính chủ yếu của chữ Hán. Vì thế chữ Hán thích hợp với tình trạng Hán ngữ có quá ít âm tiết và quá nhiều phương ngữ. Nhờ dùng chữ Hán, người TRUNG QUỐC khác vùng nghe không hiểu tiếng của nhau nhưng vẫn có thể giao tiếp với nhau bằng chữ viết. Tính biểu ý làm cho chữ Hán có những ưu điểm độc đáo cùng các nhược điểm nghiêm trọng: khó hiểu, khó học, khó viết, khó nhớ, khó dùng1. Cho tới nay vẫn có các đánh giá khác nhau về chữ Hán. Việc chấp nhận quan điểm “Chữ Hán là báu vật của văn minh cổ đại, lại là gánh nặng của văn minh hiện đại” được coi là một bước tiến của giới NNH TRUNG QUỐC [SĐD tr.626].    

Vì sao chữ Hán thời cổ không biến đổi, tiến hóa?

Theo định nghĩa, chữ viết là một loại công cụ của tư duy; mà đã là công cụ thì phải luôn cải tiến nhằm nâng cao tính tiện dụng. Tất cả các loại chữ viết đều sớm cải tiến theo hướng ngày càng tiện sử dụng. Chữ Quốc ngữ do các giáo sĩ châu Âu sáng tạo vốn là công cụ để họ truyền bá đạo Ki-tô cho dân ta, qua nhiều cải tiến đã đạt yêu cầu ghi được 100% âm tiếng Việt và sau mấy trăm năm đã trở thành công cụ kỳ diệu giải phóng trí tuệ người Việt (lời học giả Phạm Quỳnh).



Chữ Hán thích hợp với tình trạng Hán ngữ có quá ít âm tiết và quá nhiều phương ngữ. Nhờ dùng chữ Hán, người TRUNG QUỐC khác vùng nghe không hiểu tiếng của nhau nhưng vẫn có thể giao tiếp bằng chữ viết. Nguồn bản đồ: chinahighlights.com

Riêng chữ Hán mới ra đời đã bị thần thánh hóa, bị sùng bái, coi là kết tinh của văn minh Trung Hoa, trở thành thứ vật thiêng chẳng ai dám động chạm2. Là sở hữu riêng của tầng lớp trên, chữ Hán thời xưa chủ yếu ghi thứ “văn ngôn” cực khó hiểu, khác xa ngôn ngữ nói và không có những chữ ghi tiếng nói của dân, gây ra tình trạng “hữu âm vô tự”. Chế độ phong kiến lợi dụng sự thần bí, khó hiểu của chữ Hán để thực thi chính sách ngu dân nhằm bảo vệ ách độc tài chuyên chế. Những điều đó đã cản trở sự phát triển chữ Hán và đóng góp của nó cho tiến bộ xã hội.

Do thiếu động lực biến đổi, chữ Hán cổ không đi lên con đường tiến hóa chung như các loại chữ viết khác. Châu Hữu Quang nhận xét: Từ chữ Giáp Cốt cho tới chữ Hán hiện đại, nguyên tắc tổ chức chữ là như nhau [Sđd tr.35]. Người TRUNG QUỐC nói việc ngày nay họ vẫn đọc hiểu loại chữ Hán viết ở đời Tần đã chứng tỏ văn minh Trung Hoa là nền văn minh cổ duy nhất tồn tại tới nay, và điều đó làm họ vô cùng tự hào. Đúng là các loại chữ cổ khác hiện rất ít người đọc được, vì chúng đều đã biến mất trong quá trình tiến hóa thành loại chữ tiên tiến hơn.

Phong trào cải cách chữ Hán

Tình trạng chữ viết ít biến đổi, ít tiến hóa thực ra là điều đáng chê trách. Nó làm cho các nhược điểm nghiêm trọng của chữ Hán tồn tại quá lâu dài, kìm hãm sự phát triển văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật... Hậu quả là cuối thế kỷ XIX, sau khi tiếp xúc với văn minh Âu Mỹ, giới tinh hoa TRUNG QUỐC đã lôi chữ Hán ra khỏi điện thờ, phê phán, lên án nó là loại chữ lạc hậu và đòi sửa đổi, thay bằng chữ biểu âm. Từ đó trở đi các đời chính quyền TRUNG QUỐC đều ra sức tiến hành cải cách chữ Hán.

Tháng 12/1954 Nhà nước TRUNG QUỐC thành lập Ủy ban Cải cách chữ viết trực thuộc Chính phủ. Ủy ban này đã triển khai cải cách chữ Hán với quy mô lớn nhất trong lịch sử ngôn ngữ học thế giới và đã thu được một số kết quả khả quan.

Luật ngôn ngữ văn tự thông dụng Nhà nước TRUNG QUỐC thi hành từ 1/1/2001 đã luật hóa việc sử dụng ba thành tựu cải cách: 1 - Thay hơn 2200 chữ phồn thể bằng chữ giản thể; 2 - Phương án ghép âm (Pinyin) Hán ngữ dùng chữ Latin (Scheme for Chinese phonetic alphabet); 3 - Chuẩn hóa cấu hình và âm đọc chữ, sàng lọc bỏ một số chữ.

Các cải cách trên đã giảm bớt khó khăn khi học và dùng chữ Hán, nhờ thế nâng cao được trình độ biết chữ của dân, phổ cập tiếng Phổ thông, thống nhất tiếng nói trong cả nước, đưa được chữ Hán vào bàn phím máy tính. Phương án Pinyin Hán ngữ trở thành công cụ ghi âm chữ Hán thuận tiện, năm 1982 được công nhận là Tiêu chuẩn quốc tế ghi âm Hán ngữ (ISO 7098), góp công đầu cho việc quốc tế hóa Hán ngữ. TRUNG QUỐC hiện áp dụng chế độ gọi là “Song văn”, tức đồng thời sử dụng chữ Hán và chữ Pinyin Hán ngữ; chữ Pinyin không phải là loại chữ mới, chỉ là công cụ biểu âm có tính hỗ trợ nhằm bù đắp khiếm khuyết của chữ Hán là nhìn chữ mà không đọc được âm. Học sinh tiểu học phải học chữ Pinyin Hán ngữ trước khi học chữ Hán. Hầu hết dân TRUNG QUỐC hiện đã nắm vững “Song văn”, sử dụng thành thạo chữ Pinyin Latin trên máy tính và smartphone.



Tuy vậy các cải tiến trên vẫn chưa khắc phục được những nhược điểm lớn của chữ Hán như số lượng chữ quá nhiều không ai có thể nhớ hết; chữ đồng âm, chữ đa âm quá nhiều gây nhầm lẫn khi sử dụng; khó có thể tạo ra chữ mới... Ngoài ra một số người TRUNG QUỐC chưa tán thành chữ giản thể. Người Đài Loan chưa chấp nhận các cải cách chữ Hán do đại lục TRUNG QUỐC thực hiện. Chữ Hán vẫn khó quốc tế hóa, cản trở nâng cao sức mạnh mềm của TRUNG QUỐC. Ví dụ chữ Hán được 20% nhân loại sử dụng nhưng tỷ lệ dùng để soạn văn bản ở Liên Hợp Quốc lại dưới 1%, kém xa Anh ngữ (80%). 15 năm qua TRUNG QUỐC mở cả nghìn viện và lớp Khổng Tử dạy Hán ngữ miễn phí trên toàn cầu nhưng hiệu quả thu được còn là dấu hỏi.

Các cải cách chưa đạt yêu cầu của Chủ tịch Mao: Phải đi theo phương hướng chung của chữ viết thế giới là pinyin hóa. Lý do: các nghiên cứu cho thấy đi theo hướng đó sẽ thất bại. Rốt cuộc dự án “Latin hóa chữ Hán” đã bị gác lại, tức không còn đặt vấn đề thay chữ Hán nữa  – đây được coi là một tiến bộ [SĐD tr.626]. Từ 16/12/1985 Ủy ban Cải cách chữ viết đổi tên thành Ủy ban Công tác ngôn ngữ chữ viết, từ 1998 đưa về Bộ Giáo dục, quyền lực thu hẹp.



Chữ Hán từ khi mới ra đời đã bị thần thánh hóa, sùng bái, được coi là kết tinh của văn minh Trung Hoa. Tranh lụa về Phục Hy, người được cho là phát minh ra chữ viết ở TRUNG QUỐC. Nguồn: wikipedia.

Tóm lại, chữ Hán sau nhiều thăng trầm về cơ bản vẫn giữ nguyên vai trò cũ. Cải cách chữ Hán đành dừng lại ở mức chấp nhận chế độ “song văn” chắp vá; từ nay trở đi người TRUNG QUỐC tiếp tục dùng chữ Hán với các cải tiến đã được luật hóa.

Có lẽ hiện nay TRUNG QUỐC đã không còn cơ hội thay chữ Hán. Họ bắt đầu cải cách chữ viết quá muộn, giả thử có tạo ra một loại chữ mới thì cũng khó làm cho 1,5 tỷ người chấp nhận sử dụng, bởi lẽ họ đã quen dùng thứ chữ tổ tiên để lại từ mấy nghìn năm trước.

Nhưng các nước thuộc vành đai Hán ngữ lại sớm mạnh dạn cải cách chữ Hán. Thế kỷ XII, Việt Nam phát triển chữ Hán thành chữ Nôm ghi được tiếng mẹ đẻ, làm nên nền văn học tiếng Việt rực rỡ một thời. Thế kỷ XV người Triều Tiên sáng tạo hệ chữ Hangul có tính biểu âm thay cho chữ Hán. Thế kỷ VIII người Nhật làm ra hệ chữ Kana biểu âm, nhờ thế giảm được 5/6 số chữ Hán cần dùng (còn 1850 chữ). Cuối thế kỷ XIX họ lại đi đầu hiện đại hóa Hán ngữ3. Thiết nghĩ hiện nay do người TRUNG QUỐC đã quen dùng chữ Pinyin Latin, nên họ có thể áp dụng kinh nghiệm của Nhật là dùng thật nhiều từ ngoại đã quốc tế hóa thay cho chữ vuông, ví dụ computer, internet, fan, v.v… như vậy có thể giảm lượng chữ Hán và lượng chữ/từ đồng âm, đa âm.

Chữ biểu ý thích hợp với Hán ngữ

Kết quả cải cách chữ viết ở TRUNG QUỐC cho thấy Chữ biểu ý là loại chữ viết thích hợp với Hán ngữ; mọi loại chữ biểu âm đều không thích hợp.

Tuy vậy giới NNH TRUNG QUỐC chưa ngừng tranh cãi. Phái theo “Thuyết chữ Hán ưu việt” vẫn đòi “sửa sai” các cải cách chữ Hán... Đúng là còn quá nhiều vấn đề cần bàn. Từ góc nhìn của người sống trong môi trường chữ viết Việt Nam giàu tính biểu âm, chúng tôi thiết nghĩ chính là do có tính biểu ý mà chữ Hán thích hợp với Hán ngữ - vấn đề này xem ra cần nhấn mạnh. Thậm chí có nhà NNH TRUNG QUỐC nói chữ Hán là chữ biểu âm! Phải chăng họ ngại chữ Hán bị gọi là “chữ biểu ý”, loại chữ bị coi là lạc hậu? Ví dụ Tằng Tính Sơ nói“Xưa nay chưa từng có loại chữ viết nào thực hiện được chức năng nhìn chữ mà biết âm đọc của chữ” [SĐD tr.597]Nhận xét này vơ đũa cả nắm hạ thấp năng lực biểu âm của chữ biểu âm, như thế là không đúng. Chữ Quốc ngữ Việt Nam nói thế nào viết thế ấy, bất cứ âm tiếng Việt nào cũng viết được thành chữ, nhìn chữ là đọc được âm.         

Có nhiều trở ngại lớn về mặt tâm lý, xã hội, lịch sử cũng như về NNH khiến cho hiện nay không thể nào sửa chữ Hán thành chữ biểu âm. Dưới đây chỉ bàn về mặt NNH.

Trở ngại không thể vượt qua là chữ Hán có quá nhiều chữ đồng âm. Đây là hậu quả của tình trạng Hán ngữ có quá ít âm tiết – vấn đề này chưa được bàn nhiều. Âm tiết (syllable) là đơn vị kết cấu tự nhiên nhất trong ngữ âm, là đơn vị phát âm ngắn nhất. Hán ngữ, Việt ngữ là ngôn ngữ đơn âm tiết, mỗi từ chỉ có một âm tiết, tức mỗi âm tiết là một từ. Anh, Pháp, Nga ngữ… là ngôn ngữ đa âm tiết cho nên hầu như không có vấn đề từ đồng âm.

Thống kê chữ đồng âm khác nghĩa trong Tự điển Tân Hoa bản thứ 10, chúng tôi thấy 10.000 đơn tự trong sách chỉ có cả thảy 415 âm tiết (không xét thanh điệu), trong đó 22 âm tiết có 1 chữ4; còn lại 393 âm tiết có nhiều chữ khác tự hình, khác nghĩa. Tổng số chữ Hán khoảng 80-100 nghìn; đem chia cho 393, suy ra mỗi âm tiết có hàng chục chữ đồng âm. Như [yi] có 135 chữ, [xi] – 123, [ji] – 122, [yu] – 118, [fu] – 98… Nếu dùng “Từ Hải” để thống kê, do sách có gần 20 nghìn đơn tự nên riêng âm [yì] (thanh điệu huyền) đã có 195 chữ đồng âm [SĐD tr.442]. Thật bất tiện khi nghe hoặc khi đánh máy một âm [yì], phải từ 195 chữ chọn ra một chữ cần thiết.   

Nhiều chữ đồng âm dẫn đến nhiều từ đồng âm. Như các từ chính thị, chính thức, chính sự, chính thất,… đều cùng một âm [zhèng shì]; từ công kích và công kê (gà trống) cùng âm [gong ji]; âm [mủ ji] có thể hiểu là gà mái hoặc gà trống; tên các loài vật tê giác, đỉa, dế, đều cùng âm [xi]… Chữ/từ đồng âm quá nhiều làm cho khi nghe thì dễ hiểu nhầm, khi viết thì dễ viết sai. Có khi người nói buộc phải viết ra chữ cho người nghe xem thì mới hiểu; như khi nói tên người tên đất.         

Giả thử sửa chữ Hán thành chữ biểu âm thì khi đọc chữ sẽ lẫn lộn các khái niệm cần diễn tả. Triệu Nguyên Nhiệm từng viết một đoạn “kỳ văn” gồm 95 chữ Hán5, tất cả đều đọc cùng một âm [shi]; nhìn chữ Hán thì có thể hiểu nhưng nếu nghe đọc thì sẽ chẳng thể hiểu gì; khi nhìn chữ Pinyin Latin cũng vậy, vì tất cả đều viết bằng một từ shi.

Ngoài ra chữ Hán còn có nhiều chữ đa âm đa nghĩa, nhìn chữ không biết đọc theo âm nào, hiểu theo nghĩa nào. Có chữ đọc theo 5 âm! Chữ đa âm chiếm khoảng 10% tổng số chữ Hán, chiếm 17% trong 2000 chữ thường dùng. Chữ biểu âm không có vấn đề rắc rối này.

Thực ra ngôn ngữ nào cũng có từ đồng âm, bởi lẽ số lượng ngữ âm mà thanh quản con người phát ra được là có giới hạn, trong khi số lượng từ cần dùng lại nhiều hơn; nếu từ đồng âm ít thì có thể phân biệt theo ngữ cảnh; nếu quá nhiều thì khó phân biệt.

Nói cho đến cùng, chữ/từ đồng âm quá nhiều hoặc âm tiết quá ít cũng chẳng phải là lỗi của Hán ngữ. Thiển nghĩ vấn đề này liên quan tới cấu tạo thanh quản của người Hán: Không rõ vì sao họ không phát âm được một số âm và âm tiết, như âm “b”, “đ”, “v”, “r” rung, “ng”, “nh” v.v… cùng nhiều âm tiết có trong ngôn ngữ khác. So sánh lượng âm tiết trong hai ngôn ngữ đơn âm tiết là Việt ngữ và Hán ngữ cho thấy, ở các âm tiết bắt đầu bằng âm a, Hán ngữ có 5 (a, ai, an, ang, ao), Việt ngữ có 29 (kể cả âm tiết bắt đầu bằng âm ă, â); âm tiết bắt đầu bằng âm o: Hán ngữ có 2, Việt ngữ có 32 (kể cả ô, ơ)…



Hiện chưa có số liệu chính thức về tổng số âm tiết của tiếng Việt. Theo Luong Hieu Thi’s blog, tiếng Việt có 17.974 âm tiết6. Do giàu âm tiết nên tiếng Việt hầu như không có vấn đề từ đồng âm. Hán ngữ vì quá nghèo âm tiết nên có nhiều chữ/từ đồng âm; chỉ chữ biểu ý mới phân biệt được ý nghĩa của các chữ/từ đó. Ít âm tiết có thể do người Hán thời xưa ít đi lại, ít giao tiếp; chính quyền lại chủ trương đóng cửa đất nước. Nhật là đảo quốc giữa biển, thời xưa ít giao tiếp với các nước khác nên tiếng Nhật cũng rất ít âm tiết; cho tới nay họ chưa bỏ được chữ Hán biểu ý. Tiếng Hàn cũng ít âm tiết do đó tuy đã dùng chữ Hangul biểu âm nhưng vẫn phải dùng thêm chữ Hán để ghi chú khi viết các từ ngữ cần độ chính xác cao, như khi viết văn bản pháp lý, viết danh từ riêng, ví dụ tên họ trong thẻ căn cước.

Phải chăng có thể tạm kết luận: Ngôn ngữ có nhiều âm tiết thì thích hợp dùng chữ biểu âm; ngôn ngữ có quá ít âm tiết không thích hợp dùng loại chữ này. Cải cách chữ viết phải làm rất sớm, từ khi nó chưa chín muồi và cần hàng trăm, hàng nghìn năm.

Dựa vào lý lẽ trên có thể giải thích vì sao tổ tiên người TRUNG QUỐC tạo ra loại chữ viết biểu ý để ghi Hán ngữ; vì sao chữ Hán không tiến hóa thành chữ biểu âm như các chữ viết khác; do đâu không thể thay chữ Hán bằng loại chữ biểu âm. Cũng vậy, có thể hiểu vì sao chữ Hán tuy từng là chữ viết chính thức của nước ta suốt 2000 năm song không thể nào ghi được tiếng Việt giàu âm tiết.

Lời kết

– Chữ Hán có tính biểu ý, vì thế thích hợp với Hán ngữ ít âm tiết và nhiều phương ngữ.

– Do xa rời nhân dân, chữ Hán thời cổ không tiến hóa thành chữ biểu âm; ngày nay chữ Hán không còn cơ hội biến đổi căn bản. Nếu muốn biến đổi thì phải cải cách Hán ngữ.

– Các cải cách chữ Hán TRUNG QUỐC đã thực hiện và việc sử dụng chế độ Song văn là hợp lý.

– Các nhược điểm về mặt NNH chứng tỏ Thuyết chữ Hán ưu việt không có cơ sở tồn tại.

– Nhận định “Chữ Hán là báu vật của văn minh cổ đại lại là gánh nặng của văn minh hiện đại” là hợp lý; người TRUNG QUỐC có đủ ý chí và sức mạnh để giảm tác động tiêu cực của gánh nặng ấy. 

Ghi chú:

텬냥廖랗枷各셩돨君덜볶俚桔씩。蝎베놔경2001.8. Tác giả  Tô Bồi Thành. Nxb Thư Hải, 8.2001, sau đây ký hiệu là SĐD (Sách đã dẫn).

** Từ tiếng Việt “ngôn ngữ” ứng với từ chữ Hán “  (ngữ ngôn)”, khác nghĩa với “喇刀 (ngôn ngữ)”;  từ “chữ viết” ứng với “匡俚 văn tự”.




4 Đó là 22 âm tiết: [chua], [dei], [den], [dia], [ei], [eng], [fo], [gei], [hm], [hng], [kei], [lia], [lo], [neng], [nin], [nou], [nuan], [ri], [sen], [seng], [shei], [zhei].

5 “嘉幹稼哥袈, Chuyện ông Thi ăn sư tử”, tên gốc “柯杆嘉却稼哥袈” (Story of Stone Grotto Poet: Eating Lions”) công bố tại Mỹ năm 1930, có ghi trong Encyclopedia Britannica.   柯杆家却嘉幹,閣哥,珏稼枷哥。嘉幹珂珂刊懇柬哥。枷珂,刊枷哥刊懇。角珂,刊嘉幹刊懇。嘉幹柬角枷哥,揀訶覺,賈角枷哥脚各。幹歌角枷哥暇,刊柯杆。柯杆嫁,幹賈奸殼柯杆。柯杆殼,幹迦桿稼角枷哥暇。稼珂,迦街角枷哥暇,茄枷柯哥暇。桿姦角

6 All syllables in Vietnamese language.  (http://www.hieuthi.com/blog/2017/03/21/all-vietnamese-syllables.html). Mạng hoctiengnhatcungakira.wordpress.com  cho biết Anh ngữ có 15.831 âm tiết, Nhật ngữ có 112 âm tiết.