Thứ Năm, 15 tháng 11, 2018

Lào: Nạn nhân tiếp theo của ‘ngoại giao bẫy nợ’ của Trung Quốc?

     Lào là một trong 8 quốc gia trên thế giới bị liệt vào “mối quan ngại đặc biệt” vì khủng hoảng nợ. Đây là nhận định được đưa ra trong báo cáo gần đây của Trung tâm Phát triển Toàn cầu (CGD), một cơ quan nghiên cứu về kinh tế có trụ sở ở Washington. Căn nguyên chính của mối quan ngại là các kế hoạch đầy tham vọng của quốc gia nhỏ bé này cho dự án đường sắt tốc độ cao trị giá 6,7 tỷ USD mà Trung Quốc đang muốn biến thành một phần của sáng kiến “Vành đai và Con đường”. Chi phí cho dự án này chiếm 1/4 giá trị GDP hiện nay của Lào. 1/3 trong số đó sẽ do công ty liên doanh Trung-Lào chi trả, trong đó, chính phủ Lào sẽ đóng góp khoảng 30%, tức khoảng 700 triệu USD. Thế nhưng, khoảng 480 triệu USD trong số đó lại là khoản vay từ Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc. Chỉ có khoảng 220 triệu USD còn lại là từ ngân sách Lào.
     Báo cáo của CGD lưu ý: “Các điều khoản tài chính đối với nhiều yếu tố của dự án đường sắt này vẫn là bí mật”. Những điều khoản mập mờ về 6 tỷ USD còn lại đang gây ra mối quan ngại rằng Bắc Kinh có thể đòi hỏi những nhượng quyền sở hữu từ phía Lào trong trường hợp vỡ nợ. Trung Quốc lâu nay đã trói buộc nhiều nhượng quyền sở hữu đất đai trong dài hạn đối với các dự án canh tác nông nghiệp và các dự án thương mại khác nhằm thúc đẩy quá trình di cư nhanh chóng của người lao động và giới chủ Trung Quốc. Tuyến đường tàu cao tốc này, nhằm kết nối Trung Quốc với Lào sau đó đến khu vực Đông Nam Á lục địa thông qua Thái Lan, sẽ mở đường cho sự di cư nhanh chóng hơn của người Trung Quốc đến phía Nam.
     Trong khi đó, tình hình tài chính của Lào chẳng khác nào “ngọn lửa trước gió”, với tổng mức nợ ước tính chiếm 67,8% GDP trong năm 2016 và theo CGD có thể tăng lên 70,3% vào cuối năm 2018. Trong khi đó, báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho biết gần 65% nợ nước ngoài của Lào đến từ các chủ nợ mang tên Trung Quốc. Đầu năm 2017, IMF cảnh báo nợ nước ngoài của Lào vốn ở tình trạng “báo động” đã tăng từ “trung bình lên mức cao”. Bản thân Bắc Kinh cũng biết rõ về khả năng khó trả nợ của Lào khi Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc năm 2014 tuyên bố sẽ giảm nợ cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, ngoại trừ các dự án liên quan lĩnh vực kinh tế chiến lược như khai khoáng và thủy điện.
     Cũng trong năm 2014 chứng kiến sự ra đời của ngân hàng liên doanh Lào-Trung. Lúc đó, tin tức đồn thổi về sự ra đời của ngân hàng liên doanh này là do “động cơ” của một số doanh nghiệp Trung Quốc đang hoạt động ở Lào nhưng lại “khát vốn” từ các ngân hàng của Trung Quốc. Chính sự khát vốn này cũng đã khiến các nhà đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng Trung Quốc trì hoãn các kế hoạch xây dựng đập thủy điện trên các phụ lưu sông Mekong. Điều này đã làm nẩy sinh các câu hỏi tương tự về khả năng tồn tại và phát triển thương mại cũng như những cơ sở hợp lý cho dự án tàu cao tốc nói trên, nhất là khi Thái Lan ngừng thi công đoạn đường chạy qua lãnh thổ của mình mà ban đầu nhằm kết nối biên giới Lào-Thái. Theo giới phân tích tài chính giám sát dự án này, nếu không có đoạn đường kết nối với Thái Lan và rộng hơn với Đông Nam Á, tính khả dụng về mặt kinh tế của dự án này đặt ra mối nghi ngờ.
     Các khoản vay từ Trung Quốc thường được đảm bảo bằng doanh thu từ những dự án đầu tư, đồng nghĩa với việc sẽ phải mất hàng chục năm sau Lào mới có thể thực sự thu được lợi nhuận để “bỏ túi” mình. Điều Viêng Chăn cần làm lúc này là quan ngại về khả năng các đại dự án, nhất là trong lĩnh vực thủy điện, không tạo ra lợi nhuận được kỳ vọng trong tương lai. Bởi trên thực tế, những quan ngại này đang hiện diện ngày một rõ nét. Đơn cử, hồi tháng 2/2018, Thái Lan cho biết đang đánh giá lại khả năng có mua điện sản xuất từ dự án đập thủy điện của Lào nữa hay không. Con đập này do Trung Quốc tài trợ và dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2019 hoặc 2020. Trước đó, Lào kỳ vọng sẽ bán đến 90% năng lượng điện sản xuất từ con đập này cho Thái Lan.
     Trong bối cảnh các đại dự án ở Lào đều thuộc diện “đầu tư kín”, hiện không rõ chính phủ Lào đã “xoay” được chi phí xây dựng cho các đại dự án này hay chưa. Khi các ngân hàng lớn của Trung Quốc chỉ sẵn lòng cấp vốn phần lớn cho các dự án lớn về thủy điện và khai khoáng, Lào không có lựa chọn nào ngoài việc phải hút vốn mới cho các đại dự án này. Và vì vướng vào những khoản nợ hiện tại với Trung Quốc, Viêng Chăn không thể dễ dàng đi ngược lại những kỳ vọng và mong muốn của Bắc Kinh.
     Lào đã từng rơi vào cảnh “lấy đất nhà” để trả nợ Trung Quốc. Đó là khi Viêng Chăn không thể trả khoản nợ 80 triệu USD cho Trung Quốc để xây sân vận động trong thời gian Lào là nước chủ nhà tổ chức Thế vận hội Đông Nam Á 2009. Kết quả là Lào đã “trả” cho công ty nhà thầu của Trung Quốc một mảnh đất rộng 300 hecta. Đến cuối năm 2016, Thủ tướng Lào Thongloun Sisoulith nói rằng ông không muốn những thỏa thuận nhượng đất kiểu này lặp lại một lần nữa vì không muốn ảnh hưởng cuộc sống của người dân địa phương. Thế nhưng, vẫn không rõ là chính quyền Viêng Chăn đã đưa ra bất kỳ luật lệ hoặc biện pháp nào để ngăn chặn vấn đề này hay chưa. Trong khi đó, nhiều ý kiến đồn thổi rằng dự án đường cao tốc đề cập ở trên với khoản vay 480 triệu USD từ ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc đã được đảm bảo thế chấp bằng 2 mỏ khoáng sản của Lào, ngoài lợi nhuận thu được sau khi dự án đi vào hoạt động.
     Nếu dự án đường sắt cao tốc này không đem lại lợi ích kinh tế, người dân Lào sẽ phải gồng mình gánh nợ Trung Quốc. Đó là lý do vì sao một số nhà phân tích cho rằng Lào sắp trở thành một nạn nhân tiếp theo của ngoại giao “bẫy nợ” của Trung Quốc, một hiện tượng đã xảy ra ở các nước khác vốn bị buộc phải trả nợ Trung Quốc bằng cách gán nợ gây hại chủ quyền. Jean-Christophe Carret, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Lào, khuyến nghị Lào cần “củng cố tài khóa” để tăng khả năng trả nợ. Thế nhưng, dự án đường cao tốc đã được triển khai và dường như không có đường lùi cho “con nợ Lào”.
Nguồn: David Hutt, Laos on a fast track to a China debt trap,Asia Times, 28.03. 2018.
Biên dịch: Anh Thư






NGHỆ SĨ NHIẾP ẢNH VISARUTE ANGKATAVANICH VỚI NHỮNG “VŨ CÔNG CÁ CHỌI”



    Sử dụng ống kính siêu tốc, chọn máy có độ nhạy tương phản màu sắc cao cấp, khiến cho hiệu ứng ánh sáng đủ độ phơi nét. Như vậy, nghệ sĩ nhiếp ảnh gia Visarute Angkatavanich người Thái đã ghi được những hình ảnh cá chọi dường như bay lượn giữa không trung, mà thực chất đó chỉ là những khúc xạ ánh sáng. Hình ảnh những chú cá cảnh được nuôi trong bể kính đang uốn mình, khoe vây như những vũ công điêu luyện, nhảy múa trong bể kính như hòa nhập luồng không khí trong lành êm ái. Chất thực, duyên dáng với vẻ đẹp tự nhiên làm cho nhận thức thẩm mỹ của người xem được nâng cao; làm cho ai cũng ngắm nhìn không chán mắt, ai cũng phải đắm say, ai cũng muốn gửi gắm một tình yêu thiên nhiên đã tạo ra một loài sinh vật cảnh vừa mạnh mẽ về tính cách, vừa quyến dũ lạ thường bởi điệu bộ mềm dẻo, chứa đựng yếu tố thần tiên giữa ảo và thực.
     Using super high-speed lenses, select the camera with color contrast sensitivity, which makes the light effect have enough light exposure. Thus, the Thailand photographer VisaruteAngkatavanich has captured images of fish that seem to fly in the air, which in fact is just light refraction. Pictures of the fishes behind the glass of fish tank bending themselves, showing off as skilled dancers, dancing in the glass tank as the integration of fresh air smoothly. Truly, charming with natural beauty makes the viewer's aesthetic sense is enhanced; For anyone who is not tired of eyes, everyone must be passionate, everyone wants to send a love of nature that has created a species of ornamental animals that have strong personalities and strange charm by the soft manner containing both fantasy and reality elements.(Prof. TRUONG SY HUNG)
     Một bài viết trên mạng cho biết, tác giả ảnh “vốn xuất thân từ dân kinh doanh. Sau 20 năm làm việc trong lĩnh vực này, ông bắt đầu chụp ảnh cá chọi xiêm - những sinh vật để lại nhiều kỷ niệm trong ông thời thơ ấu.”
   Nguyên mẫu những “vũ công dưới nước” trong tác phẩm nghệ thuật của Visarute Angkatavanich cũng gợi cho người thưởng thức cái đẹp biết rõ hơn công sức, trí tuệ của biết bao nhà khoa học đã dày công lai tạo loài cá cảnh độc đáo. TMT xin tái xuất một số ảnh. 





                                          Phiên bản ảnh theo Bored Panda







Thứ Tư, 14 tháng 11, 2018

PHẢN BIỆN KẾT LUẬN VỀ NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT CỦA DỰ ÁN “1000 BỘ GEN NGƯỜI VIỆT NAM.”



                                                         HÀ VĂN THÙY
     Nhờ khoa học thế giới xác định được con đường di cư của loài người tiền sử, từ châu Phi tới châu Á; suốt 15 năm qua nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Hà Văn Thùy đã dành toàn bộ thời gian tâm lực đi tìm cội nguồn dân tộc Việt Nam. Kết quả là ông đã công bố sáu cuốn sách chuyên đề và hàng trăm bài viết.
     Toàn bộ những công trình khảo cứu ấy cho thấy, tổ tiên người Việt đã có mặt hơn 70.000 năm trước ở chính quê hương, nay thuộc Việt Nam rồi lan tỏa ra Đông Nam Á, lên chiếm lĩnh Hoa lục, mở rộng địa bàn cư trú. Sau thời gian dài sống trên đất Đông Á, tổ tiên ta làm nên lịch sử vĩ đại với nền văn minh nông nghiệp Việt tộc rực rỡ. Điều bí ẩn hàng nghìn năm được sáng tỏ: một bộ phận người Trung Hoa là hậu duệ của người Lạc Việt và khá nhiều thành tựu văn hóa Trung Hoa được xây dựng trên cơ sở văn hóa Lạc Việt. Phát hiện quan trọng này giúp dân tộc ta giành lại chủ quyền văn hóa và thoát khỏi mặc cảm bị nô lệ văn hóa Hán.Mới đây, khi đọc bài báo công bố kết quả khảo sát 1000 bộ gen người Việt, Hà Văn Thùy thấy các tác giả đã sai lầm khi đưa ra giả thuyết về sự hình thành dân tộc Việt. Đây là vấn đề rất hệ trọng, vì nhân danh "khoa học" các tác giả ấy đã khẳng định người Việt Nam bị Hán hóa từ 800 năm trước. Như vậy sẽ có kẻ nắm lấy kết luận "khoa học" này,sử dụng hệ thống tuyên truyền bá đạo chống lại nền văn hóa hiện đại, cướp đoạt văn hóa cổ truyền của tộc người Bách Việt.
                                                                                        TMT trân trọng giới thiệu
     Ngày 03 tháng 10 năm 2017, tạp chí Scientific Reports công bố nghiên cứu  “CÁC CUỘC ĐIỀU TRA ĐỊA LÝ VÀ BỘ GEN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM CHO THẤY SỰ BIẾN ĐỘNG NHÂN KHẨU HỌC LỊCH SỬ PHỨC TẠP”[1] của chín tác giả: S. Pischedda, R. Barral-Arca, A. Gómez-Carballa, J. Pardo-Seco, M. L. Catelli, V. Álvarez-Iglesias, J. M. Cárdenas, N. D. Nguyen, H. H. Ha, A. T. Le, F. Martinón-Torres, C. Vullo & A. Salas. Đây là công trình khảo sát di truyền dân cư Việt Nam có quy mô lớn đầu tiên. Do đó nó có ý nghĩa đặc biệt trong việc     tìm hiểu nguồn gốc và quá trình hình thành dân tộc Việt Nam, mối quan hệ giữa các cộng đồng người Việt. Nó cũng giúp cho việc chẩn trị các bệnh về di truyền, công việc của pháp y... Vì vậy, công trình này sẽ được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm.   
     Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy Dự án đưa ra một số nhận định chưa thỏa đáng, cần được bàn lại như sau:
I. Về nguồn gốc dân tộc Việt Nam.
Về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, Dự án đưa ra hai kịch bản.
1.    Kịch bản thứ nhất:
“Theo quan điểm nhân chủng học, kịch bản tổng thể là người Việt Nam ngày nay có nguồn gốc dân tộc kép: một thành phần chính đến từ miền Nam Trung Quốc, chồng lên một thành phần nhỏ có nguồn gốc từ một hỗn hợp Thái-Indonesian. Quá trình Nam tiến có thể là chìa khóa cho việc cấu hình kiến trúc bộ gen của người Việt Nam ngày nay.” (From an anthropological point of view, the overall scenario is that present-day Vietnamese have a dual ethnic origin: a major component coming from South of China, superimposed to a minor component originating from a Thai-Indonesian composite. The Nam tiến has probably been key for the configuration of the genome architecture of present-day Vietnamese).
     Như vậy có nghĩa là, trong quá khứ đã có số lượng áp đảo người từ Hoa Nam xuống lai với số ít người bản địa Thái-Indonesian sinh ra người Việt Nam.Hậu quả tất yếu sẽ là: người Việt Nam là hậu duệ của người Trung Quốc. Theo nguyên lý di truyền học, độ đa dạng sinh học giảm dần nơi các thế hệ con cháu.Điều này có nghĩa là, người Việt Nam ngày nay phải có độ đa dạng sinh học thấp hơn người Trung Quốc.
     Tuy nhiên, trên thực tế, tất cả các nghiên cứu di truyền học dân cư châu Á, kể cả trong báo cáo này đều khẳng định người Việt Nam có độ đa dạng sinh học cao nhất trong các dân cư châu Á:
     Trong những năm gần đây, Đông Nam Á đã được khám phá rộng rãi trong các nghiên cứu di truyền. Một số nghiên cứu DNA ty thể (mtDNA) đã gợi ý rằng khu vực này tạo thành điểm khởi đầu của sự mở rộng của con người hiện đại từ châu Phi sang Trung Quốc, ĐôngÁ và Oceania.
(In recent years, SEA has been extensively explored in genetic studies. Some mitochondrial DNA (mtDNA) studies have suggested that this region constituted the starting point of the modern human expansions from Africa towards China, EA and Oceania8,9.Nhìn chung, sự biến đổi di truyền quan sát thấy ở Việt Nam phù hợp với các mô hình mtDNA được quan sát ở Đông Nam Á, được coi là vùng đa dạng và đa hình nhất của lục địa6. Theo dự kiến, sự đa dạng mtDNA rất cao trên lãnh thổ Việt Nam. Đa số người Việt Nam mang theo haplotypes mtDNA tập trung ở các nhánh M7 (20%) và R9'F (27%), hai dòng dõi chính của mẹ không chỉ thống trị Việt Nam mà Đông Nam Á nói chung. (Overall, the genetic variation observed in the Vietnamese fits well with mtDNA patterns observed in SEA, which is considered the most diverse and polymorphic region of the continent6. As expected, mtDNA diversity is very high across the Vietnamese territory.)
     Luận điểm này cũng được ủng hộ bởi S.W. Ballinger (1992): “Người Việt Nam có chỉ số đa dạnh sinh học cao nhất trong dân cư Đông Á.”(2)Chỉ số đa dạng sinh học của người Việt Nam cao hơn dân cư Trung Quốc chứng tỏ rằng, người Việt Nam sinh ra người Trung Quốc. Do vậykhông có việc số lượng lớn người từ Trung Quốc xuống làm nên dân cư Việt Nam.
Cố nhiên kết luận của Dự án đã sai lầm!
2.     Kịch bản thứ hai: “tuyến đường phía bắc phục vụ để nối các quần thể châu Âu và Đông Á”
Dự án viết: “The other hypothesis proposes at least two independent migrations: the same initial movement coming from Africa following a southern coastal route first, followed by a series of migrations along a more northern route that served to bridge European and EA populations6. According to the latter hypothesis, most Vietnamese ethnic groups today would be descendants from the ancient populations that spread from South of the Yangtze River towards Mainland SEA and the SEA islands1.”
(Giả thuyết khác đề xuất ít nhất hai di cư độc lập: cùng một phong trào ban đầu đến từ châu Phi sau một tuyến đường ven biển phía nam đầu tiên, tiếp theo là một loạt các di cư dọc theo một tuyến đường phía bắc phục vụ để nối các quần thể châu Âu và Đông Á. Theo giả thuyết sau, hầu hết các dân tộc Việt Nam ngày nay sẽ là hậu duệ của các quần thể cổ đại trải dài từ phía Nam sông Dương Tử về phía Biển Đông và các đảo Đông Nam Á.)
Giả thuyết này ra đời khi những khảo sát di truyền phát hiện dòng dịch chuyển của người tiền sử từ châu Âu qua Trung Á rồi tới Đông Á khoảng 15.000 năm trước, có lẽ bắt đầu từ đề xuất của Spencer wells trong tài liệu The Journey of Man: A Genetic Odyssey. Tuy nhiên, những khảo cứu sau đó cho thấy, 40.000 năm trước, người Lạc Việt đã từ Việt Nam chiếm lĩnh Hoa lục sau đó từ Hoa lục sang Trung Á rồi  xâm nhập châu Âu. Tại đây họ gặp người Europid từ Trung Đông tới.Hai dòng người hòa huyết sinh ra người Europian tổ tiên người châu Âu. 15.000 năm trước, một dòng người từ châu Âu qua Trung Á sang Đông Á muốn xâm nhập Trung Quốc. Nhưng lúc này dân cư Trung Quốc đông và mạnh, ngăn cuộc xâm nhập, đẩy người Europian xuống Tây Nam Trung Quốc, nay thành người thiểu số Uighur.Một bộ phận đi tới Đông Bắc Trung Quốc, trở thành những sắc dân thiểu số gốc Âu hiện nay.(3)
     Nếu con đường di cư như thế diễn rathành công thì người Trung Quốc cũng như người Việt Nam phải mang mã di truyền Europians (giống như người thiểu số Uighur hay Turkys trên đất Trung Quốc). Trong khi thực tế, người Hán (93% dân cư Trung Quốc) và toàn bộ người Việt Nam mang mã di truyền Mongoloid phương Nam, đều được hình thành trên địa bàn Đông Á. Khảo cổ và di truyền học xác nhận:  cả người Australoid và người Mongoloid đều từ Việt Nam đi lên Đông Á và làm nên toàn bộ đân cư châu Á.
     Tuyến di cư phía Bắc là một giả thuyết chưa được chứng minh. Việc đưa một giả thuyết chưa được chứng minh để xác định nguồn gốc người Việt Nam là sai về phương pháp luận: khi đã xác định con đường phía Nam đưa đại đa số người từ Đông Nam Á lên Trung Quốc thì không thể có con đường phương Bắc đưa đa số người từ Trung Quốc tới Việt Nam.
           3. Sự hình thành người Việt Nam: Nhiều khảo cứu nguồn gốc dân cư Việt Nam cho thấy: 70.000 năm trước, hai đại chủng người tiền sử Australoid và Mongoloid từ châu Phi, đi theo ven biển Ấn Độ, tới Việt Nam. (4) Tại đây, họ hòa huyết sinh ra người Việt cổ gồm hai chủng Indonesian (sau này được gọi là Lạc Việt) và Melanesian, cùng thuộc mã di truyền Australoid. 50.000 năm trước, người Việt cổ di cư ra các đảo Đông Nam Á và sang Ấn Độ. 40.000 năm trước, người Việt đi lên chiếm lĩnh Hoa lục và 30.000 năm trước từ Siberia qua eo Bering chinh phục châu Mỹ. Tại Tiên Nhân Động (Giang Tây) phát hiện di cốt người Lạc Việt 25.000 năm trước. Tại Điền Nguyên Động (Hà Bắc) phát hiện di cốt người Lạc Việt 40.000 năm trước.
     Khoảng 7000 năm trước, tại di chỉ Ngưỡng Thiều trung du Hoàng Hà, người Lạc Việt gặp gỡ hòa huyết với người Mông Cổ phương Bắc (North Mongoloid- cũng từ Việt Nam đi lên từ 40.000 năm trước), sinh ra người Mongoloid phương Nam (South Mongoloid).  Người Mongoloid phương Nam tăng nhân số, trở thành chủ thể dân cư lưu vực Hoàng Hà. Năm 2698 TCN, người Mông Cổ phương Bắc (North Mongoloid) do họ Hiên Viên dẫn đầu đánh chiếm vùng trung du Hoàng Hà của người Việt, lập nhà nước Hoàng Đế. Một bộ phận người Việt trong vùng trở thành dân cư vương triều Hoàng Đế. Những người bất hợp tác dãn ra xung quanh, tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Một số nhóm vượt Dương Tử di cư về phía Nam, theo thời gian chuyển dịch tới Việt Nam và Đông Nam Á, đem nguồn gen Mông Cổ hòa huyết với người Việt cổ địa phương, chuyển hóa đại bộ phận dân cư Việt Nam sang chủng Mongoloid phương Nam, được nhân chủng học gọi là người Việt hiện đại. Khảo cổ học xác nhận: khoảng 2000 năm TCN, sự chuyển hóa sang Mông Cổ phương Nam của dân cư Đông Nam Á hoàn tất. Hầu hết dân cư châu Á thuộc chủng Mongoloid phương Nam, được nhân chủng học gọi là chủng Nam Á.(5)
     Trong cuốn Nhân chủng học Đông Nam Á (6), khảo sát 70 sọ cổ người Việt Nam, khám phá hiện tượng này, Giáo sư Nguyễn Đình Khoa đặt câu hỏi: việc chuyển hóa thành người Việt hiện đại là do người Mongoloid phương Nam nhập cư hay do đồng hóa? Ông không trả lời được. Nhưng nay ta biết, sự chuyển hóa dân cư Đông Nam Á sang Mongoloid phương Nam là quá trình dài hơn nửa thiên niên kỷ, từ 2700 TCN tới 2000 năm TCN (di chỉ Mán Bạc Ninh Bình). Điều này cho thấy, một quá trình di cư lâu dài của người Mongoloid phương Nam làm thay đổi di truyền dân cư Việt Nam.Một nguyên nhân khác tác động đẩy nhanh quá trình này là: trong bộ gen của người Indonesian, có lượng máu Mongoloid cao nên khi nhận thêm gen Mongoloid dù nhỏ thì người Indonesian dễ dàng chuyển sang Mongoloid phương Nam. Sau đó con cháu họ lai tiếp với nhau, tạo thành dây chuyền, chuyển hóa dân cư Việt Nam từ Australoid sang Mongoloid phương Nam.
     Những bằng chứng này cho thấy: không hề có số lượng lớn người từ Nam Dương Tử xuống Việt Nam. Đồng thời, từ 2000 năm TCN, người Nam Dương Tử cùng mã di truyền với người Việt Nam nên việc người từ Trung Quốc tới Việt Nam từ đầu Công nguyên không làm thay đổi mã di truyền của người Việt Nam.
II. Một số điều bất cập khác
     Cũng nói về sự hình thành dân cư Việt Nam, Đề án còn những bất cập khác:
     1. Quan niệm cho rằng “Tiến trình Nam tiến có thể là chìa khóa cho việc cấu hình kiến trúc bộ gen của người Việt Nam ngày nay” (The Nam tiến has probably been key for the configuration of the genome architecture of present-day Vietnamese) tỏ ra thiếu cơ sở. Nam tiến là cuộc điều chuyển dân cư trong nội bộ Việt Nam, chủ yếu là cuộc di dân của người từ Thanh-Nghệ-Tĩnh vào Nam. Người Bắc Bộ hầu như không tham gia sự kiện này. Do vậy, sự kiện Nam tiến không hề có vai trò đáng kể đến cấu hình bộ gen người Việt Nam. Nhưng điều quan trọng hơn là, cổ nhân chủng học chỉ ra, từ 2000 năm TCN, dân cư Việt Nam đã như ngày hôm nay, gồm chủng Mongoloid phương Nam điển hình (Mường, Nùng, Tày, Thái…) và dạng Indonesian hiện đại của chủng Mongoloid phương Nam (Chăm, Khmer, các sắc dân Tây nguyên…) 
             2. Trong khi khẳng định dân cư Bắc Việt Nam có đa dạng sinh học cao nhất “Their data indicated that the Northern Vietnamese population has a high genetic diversity” thì tại phần Các kết quả (Results) lại nói: “Tuy nhiên, khi các mẫu được phân tích đến các vùng địa lý chính (Bắc, Trung và Nam), một mô hình phân tử đa dạng rõ ràng hơn cho thấy sự đa dạng tăng từ Bắc vào Nam của đất nước (Bảng 1; Hình 2A).” (However, when the samples were analyzed attending to main geographic regions (North, Center and South), a clearer pattern of molecular diversity is revealed, suggesting that the diversity increases from North to South of the country (Table 1; Fig. 2A).) 
     Rõ ràng hai nhận định trên là mâu thuẫn. Một khi đã xác định dân cư miền Bắc có độ đa dạng sinh học cao nhất, thì không thể có điều trái ngược là càng xuống phía nam đất nước, độ đa dạng di truyền của dân cư càng cao hơn! Bởi như vậy, độ đa dạng di truyền của dân cư phía Nam phải cao hơn phía Bắc! Điều trái ngược như vậy là vô lý nên không thể giải thích được! Chính sự mâu thuẫn này khiến cho bản Báo cáo trở nên bị hoài nghi.
       3. Sự suy giảm dân số đáng kinh ngạc của người Chăm cách đây 700 năm phù hợp quá trình Nam tiến từ trung tâm ban đầu của họ ở đồng bằng sông Hồng.  [The dramatic population decrease experienced by the Cham 700 years ago (ya) fits well with the Nam tiến (“southern expansion”) southwards from their original heartland in the Red River Delta.] 
     Có đúng đồng bằng sông Hồng là trung tâm cư trú ban đầu của người Chăm? Khảo cổ đồng bằng sông Hồng cho thấy, khoảng 300 năm TCN, khi nước biển rút, đồng bằng sông Hồng mới hình thành. Sớm nhất lúc này trung tâm đồng bằng sông Hồng mới có người đến ở. Trong khi đó 5000 năm trước, người Chăm là chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam. Do vậy, đồng bằng sông Hồng không thể là trung tâm cư trú ban đầu của người Chăm. Thời nhà Lý đã đưa 40.000 tù binh Chăm về an trí ở dồng bằng sông Hồng có thể là một trong những lý do làm giảm nhân số người Chăm?
     III Kết luận
     Dự sán 1000 bộ gen Việt cógiá trị như bức không ảnh chụp hiện trạng bộ gen của người Việt Nam. Nó phản ánh mối quan hệ di truyền giữa các cộng đồng người Việt, giúp cho việc chẩn trị các bệnh về di truyền, công việc của pháp y... Tuy nhiên, nó không đủ cơ sở để xác định nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Vì vậy, khi đưa ra nhận định về nguồn gốc người Việt, tác giả Dự án đã lồng ghép cả hai con đường di cư phương Nam và phương Bắc cùng làm nên dân cư Việt Nam, đưa ra kết quả mâu thuẫn, phủ định lẫn nhau. Mặt khác đã suy đoán sự hình thànhdân cư Việt Nam theo các tài liệu lịch sử hiện có. Đáng tiếc là những cuốn sử này đã trình bày hoàn toàn sai về quá trình hình thành dân tộc Việt Nam. Do vậy, những suy đoán của các tác giả đề tàicũng sai theo.
     Hậu quả nghiêm trọng là, dưới danh nghĩa khoa học, Dự án ủng hộ quan điểm cho rằng người Việt Nam bị Hán hóa, một ý tưởng sai lầm, xuyên tạc cội nguồn và lịch sử của dân tộc Việt. Nguy hại hơn là học giả Trung Quốc sẽ dựa vào tài liệu này để vùi dập lịch sử văn hóa Việt Nam.
     Chúng tôi lưu ý những ai tham khảo tài liệu trên cần cẩn trọng với những kết luận sai lầm của dự án này.
                                                                                                          Sài Gòn, 14.5. 2018
                                                     Tài liệu tham khảo.
1.    Phylogeographic and genome-wide investigations of Vietnam ethnic groups reveal signatures of complex historical demographic movements -https://www.nature.com/articles/s41598-017-1. 
3.    Hà Văn Thùy. Tìm cội nguồn qua di truyền học. NXB Văn học, H. 2011
4.    J.Y. Chu et al. Genetic relationship of populations in Chinahttps://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC21714/
5.    Hà Văn Thùy. Góp phần nhận thức lại lịch sử văn hóa Việt. NXB Hội Nhà văn, 2016
6.    Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. NXB DH&THCN. H, 1983.

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2018

Sắc màu non nước Hồng Lam trong “Võ Hồng Huy - tác phẩm”

   
     Sau hơn 30 năm đam mê, kiên nhẫn, miệt mài, ông đã để lại một di sản hàng ngàn trang viết về địa chí, lịch sử, văn hóa, con người… của vùng đất Nghệ An - Hà Tĩnh; đặc biệt đã hình thành, khẳng định một phong cách sống, làm việc vừa khảng khái, cẩn trọng nhưng cũng hết sức khiêm nhường, chia sẻ; nhiều người đã tôn gọi ông là “Kẻ sĩ Ngàn Hống”
     Nhà nghiên cứu văn hóa Võ Hồng Huy sinh ngày 2/5/1925 tại làng Yên Điềm, xã Thịnh Lộc, huyện Can Lộc (nay là huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh); tạ thế ngày 25/3/2016 tại TP Hà Tĩnh. Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước, cha mẹ mất sớm, ông phải bỏ dở trường lớp, đi dạy học để mưu sinh, vừa tự học thêm và tham gia hoạt động Việt Minh bí mật. Sau 40 năm hoạt động chính trị, từ cấp xã, tổng, lên huyện, ra Khu ủy Khu IV rồi trở lại Tỉnh ủy Hà Tĩnh, Nghệ Tĩnh, ông đã kiên trì học thêm và lặng lẽ tích góp, thu nhặt vốn tri thức trong dân gian, sách vở, bạn bè. Khi được nghỉ hưu ở tuổi 60 (1984), ông đã “dấn thân” ngay vào “nghiệp” khảo cứu, sưu tầm, biên dịch…
     Dù là “tự học” và làm “tay ngang” như nhà nghiên cứu văn hóa Võ Hồng Huy từng tự thuật, nhưng sau hơn 30 năm đam mê, kiên nhẫn, miệt mài, ông đã để lại một di sản hàng ngàn trang viết về địa chí, lịch sử, văn hóa, con người… của vùng đất Nghệ - Tĩnh; đặc biệt đã hình thành, khẳng định một phong cách sống, làm việc vừa khảng khái, cẩn trọng nhưng cũng hết sức khiêm nhường, chia sẻ; nhiều người đã tôn gọi ông là “Kẻ sĩ Ngàn Hống”...
     Qua hơn 20 đầu sách đã xuất bản (trong đó có 5 cuốn in riêng) và hàng trăm trang bản thảo ông đã hoàn thành nhưng chưa xuất bản hoặc còn dang dở, có thể phân thành 4 mảng chủ yếu: (1) Khảo cứu, giới thiệu về núi sông, danh thắng, phong thổ, lễ hội, làng xã, dòng họ, danh nhân, sự kiện… tiêu biểu của xứ Nghệ; (2) Địa chí, lịch sử… của các địa phương; (3) Tác phẩm Hán Nôm (viết bằng văn xuôi, thơ, phú, câu đối) về địa chí, phong thổ, núi sông... (sưu tầm, biên dịch và khảo chú); (4) Thơ, câu đối, trướng mừng… bằng Hán, Nôm và quốc ngữ.


     Điều dễ nhận biết nhất ở các tác phẩm của ông là sự phong phú, tính phát hiện và sự chính xác của tư liệu, cứ liệu. Ngồn ngộn tư liệu, tri thức về núi sông, sự kiện, văn hóa, làng xã, con người… hiện không còn hoặc đã mai một, biến dạng đã được ông kiểm định, khảo chứng và “trưng bày” qua từng trang viết, trong đó có những tư liệu quý hiếm, độc bản, riêng có. Trong một cuộc gặp để bàn thảo đề cương cuốn sách Đồng vọng tiếng Kiều của “Ba ông đồ Nghệ” (Vũ Ngọc Khánh - Võ Hồng Huy - Thái Kim Đỉnh), Gs. Vũ Ngọc Khánh nói vui: Mình và ông Đỉnh biết gì thì đã viết ra gần hết, còn ông Huy vẫn đang cất riêng cả một “kho” non nước Hồng Lam trong đầu! Quả là rất đáng tiếc vì ông vốn cẩn trọng, cầu toàn nên khá nhiều tư liệu quý về vùng đất, con người Xứ Nghệ được ông nhớ, thuộc lòng hoặc ghi chép tản mát đâu đó chưa kịp giới thiệu đã vĩnh viễn theo ông thoát khỏi cõi trần… Những ai từng và sẽ đọc tác phẩm của ông, có thể cảm nhận được giá trị thực sự của những tư liệu, tri thức được trình bày, thầm đặt giả thiết nếu không có ông và số ít những bạn đồng niên lớp giao thời giữa Nho học - Tây học - Tân học ở Hà Tĩnh, liệu có ai còn biết để viết ra? Khi ông và nhà nghiên cứu văn hóa Thái Kim Đỉnh ra đi, đã có nhiều bài viết nhắc đến hình ảnh những cây cổ thụ ngã xuống để lại cả một khoảng trời trống vắng…
     Hầu hết các bài viết của ông đều khúc chiết, gọn ghẽ, có hướng đích khi nêu và giải quyết vấn đề, khác với phong cách thường thấy của người viết địa chí, lịch sử địa phương là tuần tự trình bày, kể chuyện, diễn giải theo tư liệu... Rất nhiều câu hỏi, gợi mở được đặt ra; có những vấn đề ông quả quyết đã “xử lý” cơ bản, có những điều còn tồn nghi chưa thể kết luận được thì để ngỏ cho người khác nhưng vẫn khơi gợi ra những hướng đi có thể. Có lẽ đó cũng là lý do ông viết ít, suy nghĩ rất kỹ trước khi đặt bút, có những bản thảo gạch xóa, sửa chữa hàng chục lần. Ngoài việc phải có đủ hoặc gần đủ tư liệu, chứng cứ, rồi thẩm định qua tàng thư, thực tiễn một cách chính xác, tỉ mỉ, bài viết của ông thường cố gắng lý giải được một vài vấn đề nào đó mà lịch sử để lại, hoặc trả lời được những câu hỏi khó của tự nhiên, quá khứ, hiện tại.
     Núi Hồng ai đắp mà cao/ Sông Lam ai xới, ai đào mà sâu? Nhiều khi, những câu hỏi tưởng chừng vu vơ “hỏi để mà hỏi” trong dân gian lại thành những gợi ý cho các bài viết. Gọi lại được bao tên núi, tên sông đã chìm lặn vào ký ức; rửa sáng lại bao sự kiện, gương mặt đã lẩn khuất, lu mờ hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm quả là điều không dễ, vì như ông và một số bè bạn giờ hầu hết đã xa cõi tạm, lúc sinh thời thường nói đùa với nhau: Sao chúng ta lại “lẩn thẩn” đi chọn cái nghề “đáy biển mò kim”, “bắc thang lên hỏi ông trời”…
     Văn phong thanh nhã, nhẹ nhàng mà chính xác…, một văn phong khoa học lại đậm chất trữ tình, đọc không thấy ngán - đó là nhận xét của nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh về hành văn của ông. Gần đây, đọc lại các tác phẩm của ông để làm tuyển tập, nhiều lúc tôi cũng ngạc nhiên trước cách lập luận, “lý sự” rất sắc bén và việc dùng câu chữ vừa dung dị, chính xác, nhiều lúc pha chút mượt mà, sinh động, khác hẳn thói quen phải nghiêm cẩn, sang trọng của những người am tường Hán Nôm. Nhớ lại kỷ niệm cách đây gần 20 năm, lúc gia đình chúng tôi còn ở Nghi Xuân, ông đưa một bài viết nhờ tôi gửi báo tỉnh; cậy mình “dân văn chương”, thấy ông viết các địa danh là “DaLách”, “cầu ”, tôi nghĩ chắc viết sai nên chữa lại “Gia Lách”, “cầu Già”; khi báo đăng, ông đọc và tức giận lắm, dứ tờ báo ra trước mặt tôi và lẩm bẩm: Cái bọn biên tập này cứ tưởng người ta dốt, viết sai chính tả chăng… Tôi ngồi im nghe ông giải thích về nguồn gốc và tên gọi các địa danh mới “ngộ” ra sự nông cạn của mình. Mới biết, chữ nghĩa văn chương dù đã được đào tạo bài bản qua khoa cử cũng chỉ đang dừng ở lớp thao tác kỹ thuật bên ngoài; nền tảng, hồn cốt vẫn phải là vốn tri thức dày dặn bên trong, càng “thâm hậu” càng tự tỏa sáng, hay như câu nói của người xưa - hữu xạ tự nhiên hương
     Chắc chắn là một số công trình, bài viết của ông cũng không tránh khỏi những khiếm khuyết; đến cả việc chú giải địa điểm một đền/chùa khi biên dịch sách địa chí cổ đôi lúc còn gây ra những hiểu nhầm khác nhau…
     Cách đây khoảng 4-5 năm, sau khi có chủ trương giao Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Tĩnh chủ trì thành lập một ban chỉ đạo và ban biên tập làm tuyển tập Thái Kim Đỉnh, một số anh em văn nghệ sỹ cũng đề xuất kế hoạch làm tuyển tập Võ Hồng Huy, ông nói rằng, nên ưu tiên làm cho cụ Đỉnh trước. Cuối năm 2015, cuốn đầu tiên trong Tuyển tập Thái Kim Đỉnh được xuất bản, cụ mang tặng ông và chính thức thảo luận về việc làm tuyển tập Võ Hồng Huy. Đầu năm 2016, ông lặng lẽ về với trời xanh mây trắng núi Hồng... Nhà văn Đức Ban đã trao đổi với cụ Đỉnh về việc nên làm sớm sách tuyển cho ông, cụ đồng ý nhận chủ trì. Không ngờ, đầu năm 2017, cụ Đỉnh cũng đột ngột ra đi…
     Được sự cổ vũ, góp ý của nhà văn Đức Ban, tôi tranh thủ mọi thời gian lục tìm, tập hợp các ấn phẩm, bản thảo, tư liệu của ông, nhập từng phần vào máy tính để lưu trữ và xây dựng một đề cương tổng thể - “Võ Hồng Huy - tác phẩm”, gồm khoảng 3 đến 4 tập.
     - Tập I: Non nước Hồng Lam, tuyển chọn 45 bài viết, chia làm 2 phần: (1) Núi sông – Danh thắng; (2) Phong thổ - Lễ hội. Đây là các bài khảo cứu về núi, sông, danh thắng, di tích, làng xã, địa danh, lễ hội… tiêu biểu của Xứ Nghệ. Ngoài ra, lược trích một phần trong 2 cuốn Địa chí huyện Can Lộc, Địa chí huyện Đức Thọ đã xuất bản (những phần do tác giả Võ Hồng Huy trực tiếp biên soạn) và cuốn Địa chí xã Cương Gián(chưa xuất bản).
     - Tập II: Danh sỹ Hồng Lam, gồm 2 phần: (1) Tuyển chọn khoảng 30 bài nghiên cứu, giới thiệu chân dung một số danh nhân, nhân vật ở Nghệ Tĩnh; (2) Hoa trình tiêu khiển tiền, hậu tập của Hoan Nam sứ giả Nguyễn Đề (tức Quế Hiên công Nguyễn Nễ, anh trai Nguyễn Du) - công trình hiệu đính, phiên dịch, chú thích làm chung cuối cùng của hai ông Võ Hồng Huy - Thái Kim Đỉnh (Võ Hồng Huy chủ biên) nhưng chưa kịp xuất bản.
     - Tập III, IV: Tuyển chọn những tác phẩm sưu tầm, biên dịch và khảo chú (chủ yếu là Hán Nôm) đã xuất bản và chưa xuất bản, như Nghi Xuân địa chíThơ Bùi Dương Lịch, An Tĩnh sơn thủy vịnh, Thơ núi Hồng (chưa xuất bản), Niên lịch Việt Nam (khảo cứu; chưa xuất bản), Dịch thuật trong văn hóa dân gian Xứ Nghệ (chưa xuất bản)…
     Nhân lễ giỗ đại tường của nhà nghiên cứu Võ Hồng Huy, trân trọng giới thiệu bộ sách  Võ Hồng Huy - tác phẩm đến với độc giả.

(Theo baohatinh.vn) 

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2018

NGUYỄN CÔNG TRỨ - NHÂN VẬT LỊCH SỬ ĐỘC ĐÁO

                                                                                                     Tiến sĩ VÕ HỒNG HẢIVõ Hồng Hải

                                                                        Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Hà Tĩnh
     Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, Hà Tĩnh là một trong những địa bàn chiếm vị trí chiến lược và thường được mệnh danh là “địa linh - nhân kiệt”, bởi hầu như thời nào cũng có những con người, cự tộc, làng xã, sự kiện... đóng góp xứng đáng cho đất nước, quê hương. Đặc biệt nhất là giai đoạn cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, vùng đất này như bừng hẳn lên với sự xuất hiện hàng loạt những danh nhân mà cuộc đời, sự nghiệp của họ sẽ mãi song hành cùng lịch sử văn hóa dân tộc, trong đó, chỉ riêng mảnh đất Nghi Xuân đã đóng góp 2 tên tuổi lớn: Danh nhân văn hóa thế giới - Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du và Uy Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ - một nhân vật lịch sử độc đáo, kiệt xuất trên nhiều lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, quân sự cho đến nghệ thuật, văn chương…


      Quê cha làng Uy Viễn, quê mẹ xứ Sơn Nam (nay thuộc địa bàn Hà Nội); lại sinh ra ở Thái Bình, lớn lên bên dòng Lam, dưới chân Ngàn Hống, Nguyễn Công Trứ như là sự kết tinh của văn minh Thăng Long - sông Hồng, văn hóa Hồng Lĩnh - Lam Giang. Sinh thời, ông đã nổi tiếng là một người đa tài, một kẻ sĩ Xứ Nghệ độc đáo. Hăm hở lập danh nhưng mãi đến 42 tuổi, ông mới đỗ đạt; trong 28 năm làm quan – giữ đến trên 50 loại chức vụ và thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, lại cũng nhiều lần bị trù dập, giáng chức…
     Cách đây hơn 80 năm, khi đánh giá về Nguyễn Công Trứ, Giáo sư Lê Thước nhận xét: “Ở đời có 3 điều bất hủ: Một là lập công. Hai là lập đức. Ba là lập ngôn… Trong 3 điều ấy, có được một vẫn đã khó, mà gồm được cả 3 chưa dễ mấy ai. Thường xét nước ta, có một bậc vĩ nhân. Nói về công thời rất lớn. Nói về đức thời đức rất dày. Mà nói về ngôn thời ngôn luận văn chương rất có giá trị. Nước nhà có được một bậc vĩ nhân như vậy, quốc dân ta há không nên tôn sùng, nên tượng đồng bia đá hay sao?”.
     Ngày nay, mặc dù vẫn còn những ý kiến khác nhau, nhưng nhiều nhà nghiên cứu vẫn thống nhất đánh giá Nguyễn Công Trứ là một nhà yêu nước, một trí thức lớn và là nhà thơ độc đáo của dân tộc, một người có đầy đủ phẩm cách của con người sáng tạo lịch sử trên 4 phương diện:
     Thứ nhất: Đề xuất và giải quyết vấn đề di dân lập ấp, phá thế trói buộc cố hữu hàng ngàn năm của đồng bằng sông Hồng; công lao tiêu biểu nhất là đã khai phá đất hoang, tổ chức hệ thống thủy lợi, giao thông, hình thành nên vùng đồng bằng ven biển nay thuộc 2 huyện Tiền Hải (Thái Bình), Kim Sơn (Ninh Bình) và một số xã ở Nam Định.
     Thứ hai: Đề xuất việc rút lui chiến lược ở Chân Lạp để củng cố, phát triển đồng bằng sông Cửu Long.
     Thứ ba: Trong văn học, là người mở hành lang mới vào thi ca quốc âm hiện đại với thể thơ hát nói bình dân và được coi như một ông tổ của nghệ thuật ca trù.
     Thứ tư, bằng chính cuộc đời mình, ông dựng lên một phong cách sống sục sôi hành động, xả thân vì lý tưởng, nói là làm và quyết làm bằng được, rất hùng tâm tráng chí, hồn nhiên, nhưng cũng pha nhiều nét ngông nghênh, phá cách của lớp nhà Nho tài tử…
     Tại cuộc hội thảo quốc gia do tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức vào ngày 19 tháng 12 năm 2008 để kỷ niệm 230 năm năm sinh của ông, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định: Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ không chỉ là vấn đề hôm qua, hôm nay, mà còn cả ở mai sau… Trong giờ nghỉ trưa, GS.TS Mai Trọng Nhuận (nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội) đã vui vẻ khởi xướng một cuộc tranh luận “mi-ni”: Hãy nói ngắn gọn nhất bằng một từ về Nguyễn Công Trứ? Người thì cho rằng, đó sẽ là ngông; ngất ngưởng; người lại đưa ra từ phong tình, hành lạc v.v...; giáo sư Nhuận và nhiều người tán đồng từ thật - ông là người nói thật, làm thật và cũng chơi... thật!
     Đối với quê hương Hà Tĩnh, Nguyễn Công Trứ đã gắn bó sâu nặng và có thể nói cũng đã chịu ảnh hưởng, tác động lớn nhất so với nhiều danh sỹ cùng thời. Ngoài 11 năm trẻ thơ ở Thái Bình và 28 năm trải chốn quan trường nay đây mai đó, cuộc đời ông lúc trưởng thành cũng như khi về già đều sống ở quê, chủ yếu là Uy Viễn - Nghi Xuân và Rú Nài - Cảm Sơn, nay thuộc thành phố Hà Tĩnh. Truyền thống yêu nước, văn hóa, phong tục, tập quán cũng in đậm trong con người ông, nhất là các sinh hoạt nghệ thuật truyền thống như ca trù Cổ Đạm, phường vải Trường Lưu… Phải chăng vì vậy nên nhiều người đã nhận xét cốt cách Nguyễn Công Trứ rất đậm đà chất Nghệ? Lúc tuổi đã cao, sức đã yếu, nhưng nghe tin quân Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, ông còn dâng sớ xin ra trận – còn một chút hơi thở, xin được lên đường lập tức... Con cháu ông có nhiều người là thủ lĩnh trong phong trào Cần vương. Nhân dân địa phương thường gọi ông bằng một cái tên nôm na là Cố Lớn và đã thêu dệt huyền thoại cuộc đời ông bằng rất nhiều giai thoại…
     Sinh thời, nhân dân Tiền Hải, Kim Sơn cũng đã lập sinh từ thờ ông. Các đền thờ liên quan đến ông ở Thái Bình, Ninh Bình, Hà Tĩnh đều đã được xếp hạng… Quần thể di tích Nguyễn Công Trứ ở Nghi Xuân đã được quy hoạch tổng thể và từng bước trùng tu, tôn tạo; trong khu di tích có hẳn một đình ca trù, vừa là địa điểm hoạt động, tập luyện của câu lạc bộ Ca trù Nghi Xuân, vừa là nơi biểu diễn phục vụ du khách... Tuy nhiên, so với những di sản mà ông để lại, chỉ chừng ấy thôi vẫn chưa tương xứng. Hy vọng, trong dịp kỷ niệm 240 năm năm sinh của Uy Viễn Tướng công (1778-2018), các địa phương nên xem xét triển khai xây dựng thêm các công trình lưu niệm (dựng tượng ông ở núi Nài hoặc công viên TP Hà Tĩnh, hoàn thành nâng cấp đường Nguyễn Công Trứ...) và tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa để quảng bá, vinh danh xứng đáng một nhân cách, một tài năng mà càng ngẫm, càng soi, càng thấy sáng...

                                                                                    


Thứ Tư, 7 tháng 11, 2018

TRI THỨC TRUNG QUỐC PHÊ PHÁN TẬP CẬN BÌNH


http://nghiencuuquocte.org/wp-content/uploads/2018/08/Xi.jpg

     Đầu năm nay, quốc hội Trung Quốc quyết định hủy bỏ giới hạn số nhiệm kỳ chủ tịch nước, xem ra việc đó đã làm cho quyền lực của nhà lãnh đạo tối cao Tập Cận Bình trở nên cực kỳ vững chắc. Thế nhưng chưa đầy 5 tháng sau, một loạt rắc rối như vụ bê bối vắc-xin, chiến tranh thương mại với Mỹ … đã làm cho lòng dân Trung Quốc hoang mang sợ hãi. Điều này khiến các nhân sĩ phê bình ở Bắc Kinh thêm bạo gan hơn, họ bắt đầu nghi vấn về khả năng kiểm soát toàn diện tình hình của Tập Cận Bình.
     Sáu năm trước, Tập Cận Bình lên cầm quyền, từ đó tới nay các biện pháp kiểm duyệt và trừng phạt luôn bịt miệng mọi ý kiến bất đồng ở Trung Quốc. Tuần qua, GS Hứa Chương Nhuận ở đại họcThanh Hoa Bắc Kinh bất chấp rủi ro lớn đã lên tiếng phê bình chính sách cứng rắn của Tập Cận Bình và việc ông phục hồi quan niệm chính thống của chủ nghĩa cộng sản, cho phép công tác tuyên truyền được dùng cách nịnh nọt lấy lòng lãnh đạo. Đây là lời khiển trách nghiêm khắc nhất của giới học giả Trung Quốc thời gian qua.[1] 

     “Giờ đây toàn thể quốc dân, kể cả toàn bộ tập đoàn quan liêu, lại lần nữa cảm thấy hoang mang sâu sắc, ngày càng lo lắng về phương hướng phát triển đất nước và sự an nguy tính mạng cá nhân. Điều đó đã gây ra tình trạng hoảng sợ trên mức độ nhất định trong phạm vi toàn dân.” Hứa Chương Nhuận viết như vậy trên trang mạng của Viện Nghiên cứu Kinh tế Thiên Tắc. Viện này là một think-tank độc lập ở Bắc Kinh, mới đây bị buộc phải rời khỏi nơi làm việc của họ.

Ông Khương Hạo, một cán bộ của Viện Thiên Tắc nói khi trả lời phỏng vấn: “Phát biểu ấy thật dũng cảm. Nhiều nhà trí thức có thể có cùng suy nghĩ như vậy nhưng họ không dám nói ra.”

     Hứa Chương Nhuận thúc giục các nhà lập pháp Trung Quốc hủy bỏ kết quả biểu quyết hồi đầu tháng 3 năm nay, theo đó Quốc hội đã thủ tiêu hạn chế hai nhiệm kỳ Chủ tịch nước của Tập Cận Bình. Cơ quan lập pháp do Đảng CSTQ lãnh đạo đã hầu như 100% thông qua sửa đổi Hiến pháp, dọn đường cho Tập Cận Bình tiếp tục đảm nhiệm các chức vụ Chủ tịch nước, nhà lãnh đạo ĐCSTQ và Chủ tịch Quân ủy Trung ương trong 10 năm tới hoặc trong thời gian lâu hơn.

     Khi bài viết của Hứa Chương Nhuận xuất hiện, một loạt rắc rối đã khiến cho phương thức cai trị bàn tay sắt của Tập Cận Bình trở thành tiêu điểm phê bình. Mặc cho bài viết bị cơ quan kiểm duyệt ngăn cản nhưng rốt cuộc bài này đã truyền lan trên mạng xã hội Trung Quốc. Một số phê bình và thỉnh nguyện khác không gay gắt như vậy và những lời châm biếm chính sách của Tập Cận Bình cũng đã phát tán trên mạng, thông thường trên các mạng xã hội phổ biến và nhất là mạng WeChat.

     Geremie R. Barmé, một học giả Australia đang dịch ra tiếng Anh bài viết trên nhận xét: “Bài của Hứa Chương Nhuận với nội dung như thế và với văn phong mạnh mẽ sẽ gây ra sự cộng hưởng sâu sắc trong toàn bộ chế độ Đảng-Nhà nước Trung Quốc, thậm chí trong xã hội nói chung.”

    Mấy tháng qua Trung Quốc đang không ngừng cố gắng đối phó cuộc tranh chấp thương mại ngày càng gay go với Mỹ. Một số chuyên gia chính sách ngoại giao Trung Quốc từng ngầm tỏ ý: Nếu phía Bắc Kinh áp dụng lập trường linh hoạt hơn, hành động nhanh chóng hơn trong việc dẹp những lời lẽ khoa trương khoác lác về mục tiêu của Trung Quốc thì có thể đã kiểm soát được cuộc chiến tranh thương mại với Chính phủ Trump.

     “Trong việc xử lý các vấn đề quốc tế, Trung Quốc nên hạ giọng,” giáo sư ngành quan hệ quốc tế Đại học Bắc Kinh Giả Khánh Quốc mới đây nói tại một diễn đàn ở Bắc Kinh. “Không thể tạo ra bầu không khí [khiến người ta nghĩ rằng Trung Quốc] muốn thay thế mô hình Mỹ.”

     Sự kiện tiêm loại vắc-xin có vấn đề cho mấy trăm nghìn trẻ em đã gây nên làn sóng phẫn nộ và biểu tình của công chúng, nhất là vì trước kia, sau những bê bối tương tự, Chính phủ Trung Quốc từng hứa sẽ làm trong sạch ngành sản xuất vắc-xin.

     Tâm trạng bất mãn hiện nay không gây ra bất kỳ đe dọa trực tiếp nào với quyền lực trong tay Tập Cận Bình. Đảng CS và Chủ tịch Tập vẫn khống chế vững chắc toàn bộ. Nhiều người Trung Quốc ủng hộ phong trào chống tham nhũng của Tập Cận Bình, cũng ủng hộ lời thề của ông sẽ xây dựng Trung Quốc thành một cường quốc không thỏa hiệp trên vấn đề tranh chấp lãnh thổ.

     Nhưng các nhân sĩ trong Đảng và chuyên gia nước ngoài cho biết: Sau mấy sự kiện gần đây, trong giới trí thức, giới cựu quan chức có đầu óc cởi mở và trong tầng lớp trung lưu dường như đang hình thành một số lo lắng đối với chính sách cứng rắn của Tập Cận Bình. Một cựu quan chức giấu tên nói, rất nhiều đồng nghiệp cũ đều đang truyền tay nhau đọc bài của Hứa Chương Nhuận. Ông này cùng một số người cho rằng cùng với thời gian, ý kiến phê bình đó sẽ có thể dồn nén lại thành tâm lý bất mãn sâu sắc hơn, tiến tới ăn mòn quyền uy của Tập Cận Bình, khiến các quan chức cấp cao khác sẽ có thêm dũng khí để nghi vấn các quyết định của Tập.

     “Mấy tuần gần đây, các mầm mống tẩy chay quyền lực tuyệt đối của Tập Cận Bình đã bắt đầu hiện rõ,” Richard McGregor, người từng là phóng viên tại Trung Quốc, nay là nghiên cứu viên cấp cao của Lowy Institute, viết.

     Chiến tranh thương mại Trung – Mỹ đã châm ngòi cho một số phát biểu phê phán Tập Cận Bình. “Vấn đề khó trả lời hơn là các phê phán đó trên thực tế có ý nghĩa gì,” McGregor viết trên E-mail trả lời phỏng vấn. “Nếu điều đó có nghĩa là cuộc đấu tranh nội bộ chính trị thân hữu đang trở nên gay cấn thì sẽ có thể dẫn đến sự tê liệt chính sách và mất ổn định chứ không đơn thuần là một cuộc tranh cãi tự do hơn, cởi mở hơn.”

     Trong bài viết của mình, Hứa Chương Nhuận còn thách thức một cấm kị chính trị khác: ông thúc giục chính phủ xóa án cho vụ mồng bốn tháng sáu, tức hoạt động kháng nghị ủng hộ dân chủ, chống tham nhũng nổ ra tại nhiều đô thị Trung Quốc năm 1989; hoạt động này đã chấm dứt sau vụ đàn áp ở quảng trường Thiên An Môn. Năm 2019 sẽ là dịp kỷ niệm 30 năm vụ động loạn đổ máu này; đó sẽ là một thời kỳ căng thẳng đối với chính phủ Trung Quốc.

     Các nhà trí thức và các cựu quan chức có thái độ nghi ngờ Tập Cận Bình cũng có thể nắm lấy cơ hội kỷ niệm 40 năm Hội nghị Trung ương ĐCSTQ họp năm 1978, được coi là mở đầu thời đại “Cải cách mở cửa” của Đặng Tiểu Bình. Cho dù Tập đã từ bỏ một số chính sách thực dụng của Đặng nhưng các nhà lãnh đạo Đảng vẫn sùng kính Đặng. Các cựu quan chức có đầu óc cởi mở vẫn coi Đặng Tiểu Bình là thần tượng, thấy ở ông hình ảnh một nhà lãnh đạo ôn hòa hơn, qua đó làm nổi bật thói tự cao tự đại ngông cuồng mà họ cho rằng do Tập Cận Bình đem lại.

     “Mặc dù tình hình hiện thực rất phức tạp nhưng hình tượng công chúng của Đặng Tiểu Bình thông thường có thể gói gọn bằng một từ: Nhà cải cách,” học giả Julian Gewirtz ở Trung tâm Weatherhead về Nghiên cứu các Vấn đề Quốc tế nói. Ông đang nghiên cứu sự thay đổi xảy ra ở Trung Quốc những năm 1980.

“Hiển nhiên Tập Cận Bình đang xa rời một số điều cơ bản mà Đặng Tiểu Bình ủng hộ, như tranh luận tư tưởng cởi mở hơn, tách rời Đảng với Nhà nước ở mức độ lớn hơn và biện pháp “Giấu mình chờ thời” trong quan hệ quốc tế,” Gewirtz nói. “Đối với những người phê bình Tập Cận Bình thì Đặng Tiểu Bình có thể là một vũ khí tượng trưng hữu dụng, bởi lẽ ông mang hình ảnh nhà cách mạng đặc biệt.”

     Một số dấu hiệu cho thấy, sự căng thẳng trong thương mại quốc tế và sự phê bình trong nước có thể đã làm cho chính phủ của ông Tập tỏ ý làm dịu thái độ trước công chúng. Một loạt bài đăng trên tờ “Nhân dân Nhật báo” đã châm biếm những học giả và chuyên gia Trung Quốc tuyên bố nước này đã vượt Mỹ, trở thành cường quốc công nghệ, và khuyên nhủ giới truyền thông ngăn chặn cách làm tự thổi phồng mình.

     “Hãy còn quá sớm để làm rõ việc những lời phê bình ấy có thể ràng buộc được tầng lớp lãnh đạo hay không, song điều thú vị là ở chỗ lời lẽ [của quan chức Trung Quốc] nói về chính sách ngoại giao đã xuất hiện một số điều chỉnh,” Susan Shirk nói – bà là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc thế kỷ 21 thuộc phân hiệu San Diego của Đại học bang California, từng làm Phó Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ. Bà nói: Điều đó “ngầm cho thấy một số năng lực tự sửa sai, ít nhất là về mặt luận điệu chính sách đối ngoại.”

     Một số người lại quan sát thấy các dấu hiệu Đảng CSTQ đang giảm dần việc tôn vinh Tập Cận Bình. Bài báo của Hứa Chương Nhuận viết: Những lời lẽ tuyên truyền có liên quan tới Tập Cận Bình rất giống sự sùng bái cá nhân vây quanh Mao Trạch Đông; bài báo kêu gọi phải “lập tức hãm phanh lại”. “Bộ máy tuyên truyền [của Trung Quốc] đã bị chỉ trích vì gây ra sự sùng bái cá nhân ấy, cũng như đã làm nhiễu các thông điệp liên quan đến tranh chấp thương mại Trung – Mỹ,” ông Dương Đại Lợi, nhà chính trị học chuyên nghiên cứu chính trị Trung Quốc tại Đại học Chicago nói.

     Tuy vậy, dường như không có cơ sở để tin vào đồn đoán của các nhà chỉ trích ông Tập và trên mạng internet rằng sự giận dữ của các quan chức Đảng và các cán bộ lão thành đã khiến việc tôn vinh ông Tập bị giảm bớt. Tên của Tập Cận Bình vẫn thường xuyên xuất hiện trên trang nhất tờ “Nhân dân Nhật báo” như trước.

     Giờ đây tương lai của Hứa Chương Nhuận có thể trở thành phép thử xem phải chăng Tập Cận Bình sẽ tỏ ra khoan dung hơn đối với sự phê bình hay không. Hứa Chương Nhuận hiện đang làm giáo sư thỉnh giảng ở Nhật. Có thể ông sẽ bị Bắc Kinh khiển trách.

     “Tôi đã nói những điều tôi phải nói, và tôi phó thác cho số phận,” ông viết ở cuối bài báo của mình. “Trời sẽ quyết định sự hưng vong của chúng ta.”[2]

Nguyễn Hải Hoành lược dịch, có tham khảo bản tiếng Trung Quốc của Cindy Hao.

——————-

[1] Bài của Hứa Chương Nhuận có tiêu đề: “Nỗi sợ và mong đợi của chúng ta hiện nay” (许章润:我们当下的恐惧与期待) đăng trên mạng  Unirule ngày 24/7/2018.

[2] Nguyên văn: Sống chết tại số, mà hưng vong tại trời

Nguồn: Chris Buckley, “As China’s Woes Mount, Xi Jinping Faces Rare Rebuke at Home”, \The New York Times, 31/07/2018.

Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2018

VỀ THIÊN ĐÀI NƠI TẾ CÁO CỦA VUA MINH




 Nhà văn Trần Đại Sỹ 

     Đây là tư liệu điền dã quý hiếm do ông Trần Đại Sỹ được chứng kiến và ghi nhận. Các chi tiết như tác giả thuật lại cho thấy, vào thời Đường (năm 627) ở vùng Nam Dương Tử truyền thuyết về Đế Minh, Kinh Dương Vương vẫn truyền khẩu. Điều này chứng tỏ truyền thuyết đã gắn bó lâu đời với người dân, đồng thời hoàn toàn bác bỏ ý tưởng của Liam C. Kelley cho rằng, câu chuyện về họ Hồng Bàng chỉ là sự ngụy tạo của trí thức Việt thời trung đại. Tiếc rằng trước đây các nhà Nho Việt Nam không tìm được sách này nên để mất một chứng tích bằng văn tự quý giá về tổ tiên người Việt. (BTMT)

Tương truyền vua Minh lập đàn tế cáo trời đất trên núi Quế Dương, phân chia lãnh thổ Lĩnh Bắc tức Trung Quốc, Lĩnh Nam tức Đại Việt.Đàn tế đó gọi là thiên đài. Nhưng dãy núi Quế Dương có mấy chục ngọn núi nhỏ không biết ngọn Thiên Đài là ngọn nào ?Trên bản đồ không ghi.Sau tôi hỏi thăm dân chúng thì họ chỉ cho tôi thấy núi Thiên Đài nằm gần bên bờ Tương Giang.Điều này dễ hiểu, tỷ như ngày nay, du khách nhìn bản đồ sẽ không thấy địa điểm Sài Gòn, nhưng trong dân chúng vẫn nhớ tên cũ.

Đi thăm Thiên Đài :

Thiên Đài là ngọn đồi nhỏ, cao 179m, đỉnh tròn có đường thoai thoải đi lênTrên đỉnh có ngôi chùa nhỏ, nay để hoang.Tuy chùa được cấp huyện bảo tồn nhưng không có người trụ trì.Chùa xây bằng gạch nung, mái lợp ngói.Lâu ngày chùa không được tu bổ, nhiều chỗ ngói bị lở, bị khuyết.Tường mất hết vữa, gạch bị mòn nhiều chỗ gần như lún sâu.Duy nền với cổng bằng đá là còn nguyên, tuy nhiều chỗ đá bị bong ra.Bên trong cột kèo bằng gỗ đã nứt nẻ khá nhiều.Những câu đối, chữ còn, chữ mất.

Tại thư viện Hồ Nam tôi tìm được một tài liệu rất cũ, giấy hoen ố, nhưng chữ viết như phượng múa rồng bay, gồm 60 trang. Đầu đề ghi: Thiên Đài di sự lục.Trinh Quán tiến sĩ Chu Minh Văn soạn. Trinh Quán là niên hiệu của vua Đường Thái Tông, từ năm Đinh Hợi (627) đến Đinh Mùi (647) nhưng không biết Chu đỗ tiến sĩ năm nào ? Tuy sách do Chu Minh Văn soạn, nhưng dường như bản nguyên thủy không còn. Bản này do người sau sao chép lại vào đời Thanh Khang Hy. Nội dung sách có ba phần. Phần của Chu Minh Văn soạn, phần chép tiếp theoChu Minh Văn, của một sư ni tên Đàm Chi, không rõ chép vào bao giờ. Phần thứ ba chép pháp danh các vị trụ trì từ khi lập chùa tới thời Khang Hy (1662-1772). Chu Minh Văn là tiến sĩ đời Đường, nên văn của ông thuộc loại văn cổ rất súc tích, đầy những điển cố cùng thành ngữ lấy trong Tứ thư, Ngũ kinh cùng kinh Phật. Nhân viên quản thủ thư viện thấy tôi đọc dễ dàng, chỉ lướt qua là hiểu ngay, ông ta ngạc nhiên khâm phục vô cùng. Nhưng nếu ông ấy biết rằng, tôi chỉ được học loại văn đó vào hồi sáu, bảy tuổi thì ông sẽ hết phục. Tài liệu Chu Minh Văn cũng nhắc lại việc vua Minh đi tuần thú phương Nam, kết hôn với nàng tiên sinh ra Lộc Tục. Vua lập đàn tại núi này để tế cáo trời đất. Vì vậy đài cũng mang tên Thiên Đài, núi cũng mang tên Thiên Đài sơn, Minh Văn còn kể thêm: « Cổ thời trên đỉnh núi chỉ có Thiên Đài thờ vua Đế Minh, vua Kinh Đương. Đến thời ĐôngHán, một tướng của vua Bà tên Đào HiểnHiệu được lệnh rút khỏi Trường Sa. Khi rút tới Quế Dương ông cùng nghìn quân lên Thiên Đài lễ, nghe người giữ đền kể sự tích xưa.Ông cùng quân sĩ nhất định tử chiến, khiến Lưu Long thiệt mấy vạn người mới chiếm được núi. Về đời Đường để xóa vết tích Việt Hoa cùng Nam Bắc, các quan được sai sang đô hộ LĩnhNam mới cho xây chùa tại đây ».

Tôi biết vua Bà là vua Trưng, còn tướng Đào HiểnHiệu là em con chú của Bắcbình vương Đào Kỳ. Ngài Đào Kỳ lĩnh chức Đại Tưmã thời vua Trưng. Còn tướng Đào Hiển Hiệu tước phong quốc công, giữ chức Hổnha đại tướng quân. Nữ tướng Hoàng Thiều Hoa chỉ huy trận rút lui khỏi Trường Sa, hồ Động Đình, đã sai Hiển Hiệu đi cản hậu, đóng nút chặn ở Thiên Đài, đợi quân Lĩnh Nam rút hết, sẽ rút sau. Nhưng Hiển Hiệu cùng chư quân lên núi thấy di tích thời quốc tổ, quốc mẫu, đã không chịu lui quân, tử chiến, khiến quân Hán chết không biết bao nhiêu mà kể tại đây. Ngoài cổng chùa có hai đôi câu đối :

Thoát thân Nam thành xưng sư tổ,

Thọ pháp Tây thiên diễn Phật kinh.

Hai câu này ngụ ý ca tụng thái tử Tất Đạt Đa đang đêm ra khỏi thành đi tìm lẽ giải thoát sau đó đắc pháp ở Tây thiên, đi giảng kinh.

Tam bảo linh ứng, phong điều vũ thuận,

Phật công hiển hách quốc thái dân an.

Hai câu này là ngụ ý nói: Tam bảo linh thiêng, khiến cho mưa thuận, gió hòa đó là công lao của nhà Phật khiến quốc thái dân an.

Nơi có dấu vết Thiên Đài còn đôi câu đối khắc vào đá :

Thiên Đài đại đại phân Nam, Bắc.

Lĩnh địa niên niên dữ Việt Thường.

Nghĩa là : Từ sau vụ vua Minh tế cáo ở đây, đài thành Thiên Đài, biết bao đời phân ra Nam, Bắc. Núi Ngũ Lĩnh năm này qua năm khác với giòng giống Việt Thường. Chỗ miếu thờ của Đào Hiển Hiệu có đôi câu đối :

Nhất kiếm Nam Hồ kinh Vũ đế,

Thiên đao Bắc Lĩnh trấn Lưu Long.

Nghĩa là:

Một kiếm đánh trận ở phía Nam hồ Động Đình làm kinh tâm vua Quang Vũ nhà Hán.Ý chỉ nữ tướng Phật Nguyệt đánh bại Mã Viện ở phía Nam hồ Động Đình. Một nghìn tay đao do Hiển Hiệu thủ ở Bắc núi Ngũ Lĩnh trấn Lưu Long.

Kết luận:

 Như vậy việc vua Minh tế cáo trời đất là có thật.Vì có Thiên Đài nên thời Lĩnh Nam mới có trận hồ Động Đình.Hai sự kiện đó chứng tỏ lãnh địa thời vua Trưng cũng như Văn Lang xưa quả tới Ngũ Lĩnh, hồ Động Đình»

. Trần Đại Sĩ. Về Thiên-đài nơi tế cáo của vua Minh. - http://www.vietnamvanhien.net/NuiNguLinh.pdf