Thứ Hai, 21 tháng 1, 2019

BẢN ĐỒ GEN VỀ SỰ ĐA DẠNG SINH HỌC DÂN CƯ CHÂU Á*


                                                   HÀ VĂN THÙY

     Từ đầu thế kỷ XXI, giới khoa học quốc tế, trong khi đồng thuận cao cho rằng, con người xuất hiện tại nơi duy nhất là châu Phi lại chia rẽ ở chỗ xác định con đường ra khỏi châu Phi của người tiền sử. Nhóm của J.Y. Chu Đại học Texas cho rằng “Con người từ châu Phi, qua cửa Hồng Hải sang bán đảo A Rập rồi theo ven biển Ấn Độ tới Đông Nam Á60.000 năm trước.” Trong khi những “đại gia” di truyền khác làCavalli-Sforza LL. củaMax Planck Institute in Leipzig và Spencer Wells của Hội Địa lý quốc gia Hoa Kỳ tuyên bố: “Có con đường phương Nam 60.000 năm trước nhưng đợt di cư thứ hai xảy ra 45.000 năm trước, từ châu Phi qua Trung Đông tới Trung Á rồi tiến về phía Đông mới là quan trọng. Đợt di cư này đã làm nên hầu hết loài người ngoài châu Phi.”Do uy tín của những trung tâm nghiên cứu lớn nên, giả thuyết “con đường phương Bắc”được nhiều học giả ủng hộ… Là kẻtay ngang đi vào khảo cứu lịch sử, chúng tôi rất bối rối trước “ngã ba đường” diệu vợi này. Nhưng rồi, từ tham khảo nhiều tài liệu khảo cổ học của khu vực,  một phần cũng do linh cảm, thấy rằng, đang thời băng hà như vậy, con người không dại gì lao vào núi cao băng lạnh mà sẽ theo con đường ven biển, ấm áp, bằng phẳng và dễ kiếm thức ăn hơn.Vì vậy, mặc cho bị nhiều lần phản bác, chúng tôi vẫn kiên trì con đường phương Nam cho khảo cứu của mình.Thời gian đã chứng tỏ đó là sự lựa chọn đúng.
Nay nhân đọc công trình giá trị nghiên cứu về gen người châu Á của liên minh 90 nhà khoa học từ hơn chục nước châu Á,xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Một nỗ lực khoa học quốc tế đã tiết lộ đặc tính di truyền đằng sau sự đa dạng sinh học của người châu Á.

 Liên minh SNP Pan-Asian của Tổ chức bộ gen người (HUGO) đã thực hiện một nghiên cứu trên gần 2.000 người trên khắp lục địa. Phát hiện của họ ủng hộ giả thuyết rằng dân cư châu Á được hình thành chủ yếu thông qua một sự kiện di cư duy nhất từ phía Nam.Các nhà nghiên cứu đã công bố những phát hiện của họ trên tạp chí Science.

Họ đã tìm thấy sự tương đồng về di truyền giữa các quần thể trên khắp châu Á và sự gia tăng đa dạng di truyền từ các vĩ độ phía Bắc xuống phía Nam.Nhóm nghiên cứu đã sàng lọc các mẫu di truyền từ 73 quần thể châu Á để tìm ra hơn 50.000 đa hình đơn nucleotide (SNPs). Đây là các biến thể trong các đoạn của mã DNA, có thể được so sánh để tìm hiểu mức độ liên quan chặt chẽ giữa hai cá thể với nhau về mặt di truyền.

Đây là nghiên cứu đầu tiên đưa ra câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi về nguồn gốc của dân cư Đông Á. Shuhua Xu Học viện Khoa học Trung Quốc nói. Nghiên cứu cho thấy, như mong đợi, những cá nhân ở cùng khu vực hoặc có chung ngôn ngữ cũng có nhiều điểm chung về mặt di truyền. Nhưng nó cũng trả lời một câu hỏi về nguồn gốc dân cư châu Á. Nó cho thấy rằng dân cư lục địa có khả năng chủ yếu thông qua một sự kiện di cư duy nhất từ phía Nam.

 Các tuyến di cư chính thức của người tiền sử châu Á

Trước đây, đã có một số tranh luận về việc liệu châu Á có bị chia thành hai đợt - một đến Đông Nam Á, và đợt sau đến từ Trung và Đông bắc châu Á hay chỉ một cuộc di cư duy nhất xảy ra?

Giải thích sự đa dạng

Edison Liu từ Viện Di truyền Singapore, là thành viên hàng đầu của Liên minh.Ông giải thích rằng tuổi của dân cư có ảnh hưởng lớn hơn đến sự đa dạng di truyền so với quy mô dân số."Có vẻ như từ dữ liệu của chúng tôi chứng tỏ rằng họ đã vào Đông Nam Á trước tiên - làm cho các quần thể này già hơn [và do đó đa dạng hơn]," ông nói. "[Nó tiếp tục] sau đó và có lẽ đi chậm hơn về phía Bắc, với sự đa dạng bị mất trên đường đi trong những dân số 'trẻ hơn' này. "Vì vậy, mặc dù dân cư Trung Quốc rất đông, nhưng nó có ít sự thay đổi hơn so với số lượng cá nhân ít hơn sống ở Đông Nam Á, bởi vì sự mở rộng của Trung Quốc xảy ra rất gần đây, theo sự phát triển của nông nghiệp lúa gạo - chỉ trong vòng 10.000 năm qua."

Tiến sĩ Liu nói rằng "tin tốt" là dân cư khắp châu Á giống nhau về mặt di truyền.Kiến thức này sẽ hỗ trợ các nghiên cứu di truyền trong tương lai ở lục địa và giúp thiết kế các loại thuốc để điều trị các bệnh mà dân cư châu Á có thể có nguy cơ cao hơn. Và việc phát hiện ra di sản di truyền chung này, ông nói thêm, là một "thông điệp trấn an xã hội ", rằng "đã xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc từ những hỗ trợ sinh học". Điều này cung cấp một phần quan trọng khác cho câu đố ghép hình về sự đa dạng của con người toàn cầu. Peter Underhill, Đại học Stanford nói.

Shuhua Xu từ Học viện Khoa học Trung Quốc, thành viên của nhóm, nói rằng đây là "nghiên cứu toàn diện đầu tiên về đa dạng di truyền và lịch sử của dân cư châu Á". "Đây là nghiên cứu đầu tiên đưa ra câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi về nguồn gốc của dân cư Đông Á", tiến sĩ Xu nói thêm. Vincent Macaulay, một nhà di truyền học thống kê tại Đại học Glasgow ở Anh nói với tạp chí Science rằng nhóm nghiên cứu đã tạo ra "một bộ dữ liệu tuyệt vời". Bằng chứng cho tuyến đường di cư ven biển phía Nam, ông nói dường như "rất mạnh".

Liên minh có sự tham gia của 90 nhà khoa học từ 11 quốc gia bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Singapore, Đài Loan, Thái Lan và Mỹ. Peter Underhill, một nhà di truyền học từ Đại học Stanford, người không tham gia vào nghiên cứu này, nói rằng nó thể hiện sự đầu tư của một "lượng lớn thời gian, công sức và sự hợp tác giữa các tổ chức".

Ông nói với BBC News: "Điều này cung cấp một phần quan trọng khác cho trò chơi ghép hình về sự đa dạng của con người toàn cầu."

                                                                                          ***

Như bạn đọc đã thấy. Bài báo trình bày hai điều quan trọng: 1. Con đường phương Nam làm nên chủ thể cư dân châu Á và 2. Người châu Á có chung bộ mã di truyền.

Như vậy là, công trình nghiên cứu lớn đầu tiên của các học giả hàng đầu châu Á đã ủng hộ đề xuất của chúng tôi từ hơn chục năm trước: Người tiền sử từ châu Phi tới Việt Nam sau đó người từ Việt Nam đi lên chiếm lĩnh Hoa lục, sinh ra người Trung Quốc. Do đóngười Việt và người Hán cùng một chủng tộc! Toàn thể dân cư châu Á là hậu duệ của những người được sinh ra ở Việt Nam 70.000 năm trước. Điều này khẳng định sự đúng đắn trong các khám phá về cội nguồn và lịch sử của dân cư phương Đông cũng như dân tộc Việt Nam.

                                                                              Sài Gòn, tháng Giêng 2019



* http://news.bbc.co.uk/2/hi/8406506.stm

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2019

TẠI SAO TẬP CẬN BÌNH MUỐN PHỤC HỒI KHỔNG TỬ ?











Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Số phận long đong của học thuyết Khổng Tử

Khổng Tử và học thuyết của ông – Nho giáo – từng trải một cuộc đời long đong lận đận tại Trung Quốc (TQ). Với tư tưởng cốt lõi là Nhân, mới đầu Nho giáo chỉ là một học thuyết tu thân dưỡng tính, chưa được tiểu quốc nào dùng làm đạo trị quốc, cho dù Khổng Tử từng đích thân tới thuyết phục họ. Thời Chiến Quốc, Mạnh Tử kế thừa và phát triển học thuyết đó thành lý luận Nhân chính.

Đời Hán, Đổng Trọng Thư (179-104 TCN) kết hợp với thuyết Âm dương Ngũ hành và các thuyết khác, sửa đổi Nho giáo thành hệ tư tưởng có khuynh hướng thần học (nhấn mạnh quan hệ giữa thần quyền với quân quyền). Hệ thống này dựa trên bạo lực của chế độ phong kiến nhưng lại được mô tả thành Đạo Trời, “Trời không đổi thì đạo cũng không đổi”.

Nho giáo trở thành lý luận hợp pháp hóa chế độ phong kiến chuyên chế, cung cấp cho nó một vũ trụ luận tồn tại vĩnh hằng (nhận định của Lưu Hiểu Ba). Đổng nêu ra đạo lý trị quốc của Nho giáo, kiến nghị bãi bỏ mọi học thuyết, độc tôn Nho giáo. Hán Vũ Đế chấp nhận kiến nghị đó. Kết quả Nho giáo được chính trị hóa và nâng cấp thành cương lĩnh trị quốc, công cụ văn hóa bảo vệ chế độ phong kiến – Lưu Hiểu Ba coi đây là bi kịch lớn nhất của nền văn minh Trung Quốc.

Đời Tống, Trình Di, Trình Hạo, Chu Hi tiếp thu các học thuyết khác, xây dựng nên hệ thống Lý Học Nho gia. Chu Hi (1130-1200) làm chú giải cho 4 bộ sách Đại học, Luận ngữ, Mạnh Tử, Trung dung, nhờ thế bộ Tứ thư (4 kinh điển Nho giáo) này trở thành sách giáo khoa các thí sinh dự thi khoa cử buộc phải học. Luận Ngữ chép lời Khổng Tử được coi là kinh thánh của Nho giáo. Tể tướng Triệu Phổ đời Bắc Tống từng nói “Chỉ dùng nửa bộ Luận Ngữ là có thể trị được cả thiên hạ”.

Từ đó Nho giáo trở thành hệ tư tưởng thống trị xã hội Trung Quốc và ảnh hưởng lớn tới Việt Nam, Bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản.

Sau khi tiếp xúc phương Tây, giới trí thức Trung Quốc hiểu ra Nho giáo là trở ngại chủ yếu kìm hãm sự phát triển của Trung Quốc, khiến cho Trung Quốc yếu hèn lạc hậu và bị phương Tây bắt nạt. Từ phong trào Ngũ Tứ (1921) học thuyết Khổng Tử bị chửi bới, vùi dập, đến phong trào “Phê Lâm phê Khổng” do Mao Trạch Đông phát động (1974) thì hầu như bị xóa bỏ.

Giới học giả quốc tế không đánh giá cao đức Khổng. Hegel nhận xét Trung Quốc không có triết học, lời Khổng Tử trong Luận Ngữ chỉ là những đạo lý thường thức không có gì mới. Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc viết: Nếu Khổng Tử sống ở thời đại chúng ta mà không thay đổi quan điểm thì ông sẽ trở thành phần tử phản cách mạng.

Sau cải cách mở cửa, Chính phủ TQ lặng lẽ cho phép phục hồi dần Khổng Tử dưới cái tên nghiên cứu Quốc học, tức nghiên cứu phục hồi văn hóa truyền thống Trung Quốc mà Nho giáo là cốt lõi. Từ đó Cơn sốt Khổng Tử bắt đầu nóng dần.

Năm 1988, Quỹ Khổng Tử Trung Quốc và UNESCO tổ chức Hội thảo kỷ niệm 2540 năm sinh Khổng Tử, có đại biểu 25 nước tới dự, không có đại diện chính quyền. Tháng 10/1994, nhân 2545 năm sinh Khổng Tử, Trung Quốc tổ chức lễ thành lập Hội Nho học quốc tế và Hội thảo quốc tế về Khổng Tử. Lý Thụy Hoàn – Ủy viên thường vụ Bộ CT ĐCSTQ kiêm Chủ tịch (CT) Hội nghị Hiệp thương chính trị Nhân dân Trung Quốc (Chính Hiệp) toàn quốc đến dự và phát biểu. CT nước Giang Trạch Dân tiếp các đại biểu. Sau đó cứ 5 năm một lần Hội này lại tổ chức kỷ niệm Khổng Tử, lãnh đạo cao nhất tới dự chỉ là CT Chính Hiệp.

Tại kỳ họp Quốc hội Trung Quốc 3/2005, có đại biểu đề nghị phục hồi đạo đức nhân-nghĩa-lễ-trí-tín, đưa Tứ thư Ngũ kinh vào chương trình trung-tiểu học và thi công chức. Từ 10/2006, bà Vu Đan thuyết trình nhiều buổi trên truyền hình về “Thu hoạch đọc Luận ngữ”, “Thu hoạch đọc Trang Tử”, được dân hoan nghênh. Hai cuốn sách cùng tên của bà in lần đầu 4 triệu bản bán hết ngay. Tháng 9/2008, Bộ Văn hóa Trung Quốc và chính quyền tỉnh Sơn Đông lần đầu tổ chức Đại hội Nho học thế giới tại Khúc Phụ quê Khổng Tử.

Cơn sốt Khổng Tử từng bước tăng nhiệt. Tuy vậy trên vấn đề đánh giá Nho giáo, giới học giả Trung Quốc vẫn chia hai phái chống nhau: phái tự do và phái bảo thủ văn hóa, chủ yếu đả kích nhau về lý luận. Điển hình là cuốn Chó không nhà – Tôi đọc Luận ngữ của Lý Linh (5/2007) – gáo nước lạnh dội lên những cái đầu đang sốt Khổng Tử. Lý Linh chứng minh Khổng Tử không phải là thánh nhân, ngài có cống hiến chính về mặt giáo dục và đạo đức; Đức Khổng ngày nay ta biết chỉ là Khổng Tử “nhân tạo”, được tâng bốc tới mức không thể giả tạo hơn. Năm 2010, Trung tướng Lưu Á Châu Chính ủy ĐH Quốc phòng Trung Quốc nói Nho giáo có tội với Trung Quốc. Lưu Hiểu Ba nhận xét các lời dạy của đức Khổng chỉ là trí thông minh nhỏ, không chứa đựng trí tuệ lớn.

Từ năm 2010, CT Hồ Cẩm Đào bắt đầu dè dặt sử dụng một số lời Khổng Tử, như xã hội hài hòa, dĩ nhân vi bản... Tuy vậy đa số dân Trung Quốc chưa ủng hộ phục hồi Khổng Tử. Điển hình là việc Viện Bảo tàng Quốc gia Trung Quốc dựng pho tượng lớn đức Khổng bằng đồng đen trên quảng trường Thiên An Môn (1/2011) bị dư luận phản đối tới mức hơn 3 tháng sau phải lặng lẽ cất tượng vào trong Viện. Việc này chính quyền Trung Quốc không nói gì, điều đó cho thấy “cơn sốt Khổng Tử” đang hạ nhiệt dần.

Gió đổi chiều

Sau Đại hội 18 ĐCSTQ (12/2012), tình hình bắt đầu thay đổi. Tân Tổng Bí thư kiêm CT nước là Tập Cận Bình, một người rất yêu và coi trọng văn hóa truyền thống Trung Quốc, hiểu biết Quốc học, khi nói, viết thường vận dụng các từ ngữ cổ. Năm 2006 ông nói tinh thần cốt lõi của Nho giáo là xã hội hài hòa.

Tháng 11/2013 CT Tập tọa đàm với Viện Nghiên cứu Khổng Tử tại Khúc Phụ, quê hương Đức Khổng. Dịp lễ hội Ngũ Tứ 2014, ông đến thăm nhà Quốc học lão thành Thang Nhất Giới tìm hiểu việc biên soạn sách “Nho Tàng” (Tổng tập các trước tác Nho giáo).

Ngày 24/9/2014, ông đến dự và phát biểu tại Hội thảo Nho học với nền hòa bình và sự phát triển thế giới nhân kỷ niệm 2565 năm sinh Khổng Tử. Đây là lần đầu tiên lãnh đạo cao nhất Trung Quốc dự hoạt động trên. Sự kiện chưa từng có này cho thấy CT Tập là nhà lãnh đạo TQ quan tâm nhất việc phục hồi Khổng Tử.

CT Tập nói:  Cần kế thừa nền văn hóa truyền thống của dân tộc, không được phủ nhận lịch sử, không quên lịch sử thì mới có thể mở ra tương lai, giỏi kế thừa thì mới giỏi sáng tạo, chỉ có kiên trì đi từ lịch sử tới tương lai thì mới có thể làm tốt sự nghiệp ngày nay. Ông nhấn mạnh: Tư tưởng triết học phong phú, tinh thần nhân văn, tư tưởng giáo hóa, ý tưởng đạo đức của Văn hóa truyền thống ưu tú Trung Quốc có thể có gợi ý hữu ích cho việc trị quốc. Nho giáo là bộ phận quan trọng của văn hóa truyền thống Trung Quốc, có sức sống lâu dài. Một số người hiểu biết trên thế giới cho rằng văn hóa truyền thống ưu tú của Trung Quốc chứa đựng các gợi ý quan trọng giúp giải quyết những khó khăn của loài người hiện đại. Như các tư tưởng Đạo pháp tự nhiên, thiên nhân hợp nhất, thiên hạ vi công, thế giới đại đồng, dĩ dân vi bản, an dân phú dân lạc dânVi chính dĩ đức, Chính giả chính dã, Nhân giả ái nhân, Dĩ đức lập nhân, … Liêm khiết tòng chính, Cần mẫn phụng công,… Cần kết hợp điều kiện thời đại để kế thừa và phát huy các tư tưởng đó. Phải kiên trì Cổ vi kim dụng, Dĩ cổ giám kim, phát huy nhân tố tích cực, vứt bỏ nhân tố tiêu cực, không trọng xưa nhẹ nay, phải cố gắng chuyển hóa sáng tạo văn hóa truyền thống.

Ông nói, nghiên cứu Khổng Tử và Nho giáo là để hiểu đặc tính dân tộc của người Trung Quốc. Nên ứng xử một cách khoa học với văn hóa truyền thống, với văn hóa các nước khác, người cầm quyền cần hấp thu sức mạnh truyền thống, việc quản trị quốc gia cần có sự nâng đỡ của văn hóa.

Ngày 9/9/2014 khi đến thăm ĐH Sư phạm Bắc Kinh, nghe báo cáo nói ba môn ngữ văn, lịch sử và chính trị tư tưởng đã tích hợp làm một môn, ông phát biểu rất không tán thành việc sách giáo khoa loại bỏ các môn tản văn và thi từ kinh điển cổ đại, ông nói như thế là “xóa nhân tố Trung Quốc”, là việc rất đáng buồn
Vì sao Tập Cận Bình cần Khổng Tử

Tập Cận Bình lên cầm quyền với lời hứa sẽ thực hiện Giấc mơ Trung Quốc, tức sự phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa, mục tiêu đến năm 2021 phải xây dựng xong xã hội khá giả có mức sống cao gấp đôi năm 2010. Muốn thế phải tiến hành cải cách sâu rộng tất cả mọi lĩnh vực. Nhưng cải cách gặp nhiều trở lực, vì nó động chạm tới quyền lợi của nhiều cán bộ đương chức và các nhóm lợi ích, các phái đối lập. Bất đồng và phản kháng tăng lên, đe dọa sự ổn định của chính quyền Tập Cận Bình. Ông cần tìm cách đoàn kết dân chúng lại, nhưng chủ nghĩa cộng sản không còn sức hút với người Trung Quốc hiện nay nữa, thứ duy nhất có thể gắn kết họ là nền văn hóa truyền thống. Vì thế ông cần khôi phục văn hóa truyền thống, thực chất là khôi phục Nho giáo.

Nho giáo dạy người ta tuân theo quy tắc đạo đức Tam cương Ngũ thườngTam cương là trật tự của ba mối quan hệ xã hội: vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, yêu cầu bề tôi phải tuyệt đối phục tùng vua, con tuyệt đối phục tùng cha, vợ tuyệt đối phục tùng chồng. Ngũ thường là 5 phép ứng xử Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, trong đó Nhân và Lễ được coi là cốt lõi. Theo giải thích, chữ Nhângồm “nhân”(, người) ghép với “nhị”(, hai), có nghĩa là quan tâm mọi người hơn quan tâm bản thân, tức đề cao chủ nghĩa tập thể, đả phá chủ nghĩa cá nhân (ngược với giai cấp tư sản). Lễ là nói phép giao tiếp, chủ yếu giao tiếp với người trên, tức quy củ trật tự trên dưới, phải nghe theo người trên.

Thực tế cho thấy Tam cương Ngũ thường của Nho giáo tạo ra một xã hội toàn những người chỉ biết làm nô lệ, mù quáng vâng lời tầng lớp cai trị, không dám đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình. Nhờ vậy Nho giáo đã đem lại sự ổn định cho xã hội phong kiến, giúp tầng lớp thống trị tha hồ áp bức bóc lột nhân dân, vì thế xưa nay các chế độ độc tài chuyên chế ở Trung Quốc đều tin dùng Nho giáo. Lý Linh nói: Một khi được nhà cầm quyền tin dùng thì Khổng Tử từ thân phận con chó lang thang sẽ trở thành con chó gác cửa cho kẻ cầm quyền.

Người Trung Quốc luôn tôn trọng kinh nghiệm của tiền nhân, tức những cái thuộc về truyền thống, coi là chỗ dựa tốt nhất để tránh mọi rối loạn xã hội, nhất là truyền thống trung hiếu. Trung thành với cấp trên, giữ trật tự trên dưới là điều kiện tiên quyết cho xã hội ổn định. Trung quân, hiện nay là trung với ĐCSTQ, được coi là ái quốc; ngược lại là phản quốc.

Sau mấy chục năm cải cách mở cửa, người Trung Quốc đã tiếp nhận không ít quan niệm giá trị của phương Tây như dân chủ, tự do, bình đẳng, nhân quyền, ngày càng mạnh dạn đấu tranh chống bất công xã hội, chống mọi vi phạm nhân quyền và dân chủ tự do. Internet tạo điều kiện để họ công khai tố cáo, phê phán các sai trái của chính quyền. Nhưng chính quyền lại cho rằng điều đó làm giảm uy tín của ĐCSTQ, ảnh hưởng tới vai trò lãnh đạo của Đảng, gây mất ổn định xã hội, vì thế cần tìm mọi cách hạn chế tiếng nói của người dân. Ngoài các biện pháp trấn áp và cấm đoán hành chính (như cấm các blog “lề trái”), CT Tập thấy cần sử dụng Nho giáo – học thuyết từng giữ cho xã hội Trung Quốc ổn định mấy nghìn năm – để giáo dục dân chúng tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của ĐCSTQ, vì thế ông kiên quyết phục hồi Khổng Tử. Thực ra xã hội bất ổn là do phân hóa giàu nghèo ngày càng gay gắt, đạo đức xã hội liên tục suy thoái, nạn tham nhũng tràn lan làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn mới.

Phản ứng của dư luận

Người Trung Quốc có truyền thống “sùng thánh”, bởi vậy khi CT Tập muốn phục hồi Khổng Tử thì truyền thông chính thống cả nước liền nhiệt liệt hưởng ứng. Cơn sốt Khổng Tử nóng trở lại. Cán bộ Đảng và chính quyền thi nhau phát biểu ý kiến giải thích và chứng minh quan điểm của CT Tập là hợp lý nhất. Các đài truyền hình làm chương trình Giảng đường trăm nhà để các học giả giảng giải đạo Khổng. Bà Vu Đan (tháng 11/2012 bị sinh viên ĐH Bắc Kinh la hét phải rời diễn đàn) ngày 8/12/2015 lại ra mắt công chúng để quảng bá Khổng Tử. Chính phủ bỏ tiền tỷ đẩy mạnh xây dựng các Học viện Khổng Tử trên toàn cầu…

Giới học giả hăng hái nói về các ưu điểm của Nho giáo. Dương Triều Minh, Giám đốc Viện Nghiên cứu Khổng Tử, nói: 2000 năm qua trên thế giới chưa ai được quan tâm và bị đánh giá mâu thuẫn nhiều như Khổng Tử. Thời cận đại, người Trung Quốc cho rằng muốn thoát khổ thì phải vứt bỏ văn hóa truyền thống với hạt nhân là Nho giáo. Mới đây, sau 30 năm nghiên cứu, giới học giả Trung Quốc phát hiện Nho giáo ban đầu (thời Tiên Tần) có “sắc thái tính đạo đức” rõ rệt, còn Nho giáo sau đời Hán thì có “sắc thái quyền uy” rõ rệt. Nho giáo ban đầu với đại diện là Khổng Tử nhấn mạnh “chính danh”, chủ trương “Tu dĩ an nhân” và “nhân chính”, “đức trị” – là các giá trị quan cốt lõi của Khổng Tử thật. Nho giáo sau đời Hán thì thích ứng nhu cầu chế độ chuyên chế phong kiến, phiến diện nhấn mạnh quân quyền, phụ quyền, phu quyền. Nho giáo suy thoái dần, có đặc điểm “thiếu ý thức bình đẳng và ý tưởng tự do”, không thích hợp với xã hội hiện đại. Đó là giá trị quan của Khổng Tử giả. Nay mọi người nên nhận thức được tinh thần chân chính của Nho giáo nguyên thủy, nên phục hồi các giá trị quan của Khổng Tử thật.

GS Vương Kiệt ở Trường Đảng Trung ương nhấn mạnh: kể từ phong trào Dương Vụ đời Thanh, cách mạng tư sản của Tôn Trung Sơn cho tới việc ĐCSTQ thời kỳ đầu đi theo chủ nghĩa Mác, Trung Quốc đã du nhập không ít học thuyết của phương Tây nhưng thực tế chứng minh đều không thành công. ĐCSTQ dần dần nhận ra giá trị to lớn của văn hóa truyền thống Trung Quốc, hiểu rằng chỉ có kiên trì chủ nghĩa Mác, kế thừa có phê phán nền văn hóa truyền thống Trung Quốc, kiên trì nguyên tắc “cổ vi kim dụng”, “dương vi trung dụng” thì mới có thể vứt bỏ cái vỏ bọc cũ rích của truyền thống Trung Quốc, kế thừa nội hàm tinh thần và linh hồn sống động của văn hóa truyền thống ưu tú, qua đó thực hiện sự phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa. CT Tập đã tổng kết sơ bộ tác dụng của việc kế thừa Văn hóa truyền thống ưu tú của Trung Quốc đối với sự phục hưng đó, thống nhất được hai mặt phát triển cá nhân và quốc gia giàu mạnh. Sức mạnh cứng rất quan trọng, nhưng sức mạnh mềm, như văn hóa, đạo đức, tín ngưỡng, tinh thần, giá trị quan… cũng rất quan trọng.

GS Diêu Trung Thu nói: Việc kỷ niệm Khổng Tử với sự có mặt của lãnh đạo tối cao cho thấy Trung Quốc phải dựa vào tư tưởng Khổng Tử để đạt được sự đồng thuận. Tư tưởng này không giải quyết được mọi vấn đề nhưng có lợi cho việc giải quyết vấn đề cơ bản nhất là lòng người, là giá trị quan của quốc dân, là cơ sở tinh thần của đất nước. Ở tầng nấc đời sống cá nhân, Khổng Tử đề xuất phải “tu thân”, ở tầng nấc quản trị nhà nước, Khổng Tử đề xuất phải “Chính giả chính dã政者正也” (người làm chính trị phải chính trực công bằng), rất coi trọng xã hội tự trị. Ý tưởng Giấc mơ Trung Quốc thể hiện hình ảnh của tư tưởng Nho giáo. Hội nghị TƯ 3 khóa 18 ĐCSTQ nêu ra “đẩy mạnh hiện đại hóa hệ thống trị lý nhà nước và năng lực trị lý”, trong đó trị lý (cai trị, quản lý) là một khái niệm kiểu Nho giáo. Nho giáo coi trọng việc đào tạo người lãnh đạo xã hội, tức đào tạo sĩ quân tử 士君子.

Sử gia Chương Lập Phàm cho rằng phục hưng Nho giáo bắt nguồn từ một vấn đề vô cùng quan trọng là xã hội Trung Quốc hiện nay chịu ảnh hưởng nặng của tư tưởng chủ nghĩa vật chất, cần phải lấp đầy khoảng trống về ý thức hệ.

Triết gia Lê Minh nói toàn bộ văn nhân Khổng-Nho đều là lũ ngốc; sau hơn 2000 năm ngụp đầu trong cái hũ tương văn hóa Khổng-Nho người Trung Quốc đã đánh mất toàn bộ cái “tôi”, vì thế không thể xây dựng được triết học của Trung Quốc; tội ác hơn 2000 năm qua đều tập trung ở một chữ Lễ, tức chế độ mọi người mãi mãi không bình đẳng (Lễ chế).

Nhà Trung Quốc học người Đức Michael Schuman nói ĐCSTQ cần tới sự ủng hộ của Nho giáo, nhưng đề cao Nho giáo cũng có rủi ro, vì Khổng Tử bảo vệ chế độ đẳng cấp xã hội, chủ trương xã hội hài hòa và phản đối nổi loạn nhưng cũng yêu cầu chính quyền phải công bằng chính trực, minh bạch, suốt đời Khổng Tử phê phán quyền lực.

Báo Le Figaro (Pháp) phân tích: với việc khôi phục Khổng Tử, Nho giáo sẽ trở thành một công cụ hữu ích để Tập Cận Bình kiểm soát chặt xã hội và bóp nghẹt nguyện vọng dân chủ. Nhưng có thể lợi bất cập hại: chưa chắc sẽ làm nhụt được nguyện vọng dân chủ của dân mà ngược lại CT Tập có thể sẽ lấy làm tiếc là đã khôi phục đức Khổng, nếu người dân đòi hỏi ĐCSTQ phải trung thực và làm gương như Khổng Tử đã dạy.

Roderick MacFarquhar, GS ĐH Harvard và là nhà Trung Quốc học nổi tiếng nhận xét: Từ thời Mao đến nay, chưa một lãnh đạo Trung Quốc nào đẩy mạnh một chương trình trọn vẹn phục hồi các giá trị cũ và sức mạnh thô bạo của ĐCSTQ như Tập Cận Bình đang làm.

Rõ ràng việc CT Tập cố phục hồi Nho giáo dưới chiêu bài phục hồi Văn hóa truyền thống cho thấy ông đang muốn sử dụng Nho giáo để siết chặt quyền lực của mình, trấn áp mọi sự phản kháng từ những người đòi dân chủ, các phái đối lập, làn sóng phản kháng này đang dâng lên.

Đầu năm 2016, Trung Quốc ra luật mới về xuất bản. Sau đó blog của Nhiệm Chí Cường, một tiếng nói đòi dân chủ được gọi là Nhiệm đại pháo, bị cấm. Mới đây La Vũ, con của cố Đại tướng La Thụy Khanh viết thư cho bạn cũ là Tập Cận Bình, yêu cầu chấm dứt chế độ độc tài, chuyển Trung Quốc thành quốc gia dân chủ. Trước đó La Vũ còn công khai đòi giải tán ĐCSTQ.

Vài nhận xét bước đầu

Có thể thấy chiến dịch phục hồi Khổng Tử của CT Tập chưa đạt hiệu quả mong muốn. Tuy bộ máy Đảng và chính quyền ra sức hưởng ứng nhưng dân vẫn thờ ơ. Nguyên nhân sâu xa là do họ đã quá chán ngán với học thuyết của Khổng Tử và văn hóa truyền thống Trung Quốc. Dù có được tô son điểm phấn thế nào, Nho giáo vẫn bị coi là hệ tư tưởng của chế độ phong kiến độc tài chuyên chế và việc CT Tập viện đến Nho giáo để củng cố sự lãnh đạo của ĐCSTQ chỉ có thể gây phản cảm. Dư luận nước ngoài cho rằng việc lợi dụng chiến dịch chống tham nhũng để thanh trừng một loạt cán bộ tay chân của lãnh đạo tiền nhiệm đã làm tê liệt bộ máy ĐCSTQ, chiến dịch đàn áp làn sóng đòi dân chủ đã làm tăng sự bất đồng trong Đảng.

Trung Quốc hiện đã lớn mạnh nhiều về kinh tế, khoa học kỹ thuật, quân sự, sức mạnh cứng rất lớn, nhưng sức mạnh mềm thì vẫn còn quá yếu. Hơn 100 năm nay Khổng Tử bị chính người Trung Quốc vùi dập tới mức khó có thể sống lại. Văn hóa truyền thống Trung Quốc chẳng có gì để quá tự hào. Mao Trạch Đông nhận định văn hóa truyền thống Trung Quốc có tính chất phong kiến và phản động, cần loại bỏ. Suốt mấy chục năm qua, giới học giả Trung Quốc vẫn chưa phản bác được nhận định của bà Thatcher “100 năm nữa người Trung Quốc cũng không có tư tưởng mới nào”. Một nhà văn Trung Quốc nhận xét câu này điểm trúng huyệt của Trung Quốc, một triết gia Trung Quốc cảm ơn bà Thatcher đã nói như vậy. Lưu Á Châu nói Trung Quốc chưa hề có nhà tư tưởng. Cũng thế, giới nhà văn Trung Quốc chưa phản bác được ý kiến “Văn học đương đại Trung Quốc là rác rưởi” do một nhà Hán học người Đức nêu ra năm 2006.

Năm 2013, nhà văn nổi tiếng Trương Hiền Lượng nói hiện nay người Trung Quốc thiếu nơi quy y (ý nói thiếu niềm tin): chủ nghĩa cộng sản chỉ là lý tưởng chứ không phải là niềm tin; Trung Quốc  cần xây dựng tín ngưỡng và giá trị quan của mình, nếu không thì chẳng thể trở thành nước lớn, điều mà CT Tập mong ước hơn ai hết.

Xã hội Trung Quốc đang khủng hoảng đức tin, đời sống tinh thần và tâm linh trống rỗng, cần chấn chỉnh. Nhưng dựng dậy cái thây ma Khổng Tử sẽ chẳng giúp gì cho việc ấy, ngược lại có lẽ Tập Cận Bình sẽ chỉ càng ngày càng lúng túng hơn.


CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2018


Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2019

HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2018 CỦA TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VĂN HÓA MINH TRIẾT

     Sáng ngày 12 THÁNG 01 NĂM 2019, Trung tâm nghiên cứu văn hóa Minh Triết đã tổ chức hội nghị tổng kết hoạt động  năm 2018 và đề ra mục tiêu phấn đấu trong năm 2019 tại Hà Nội.

      Nhìn lại hai năm 2017 và 2018, Trung tâm nghiên cứu văn hóa Minh Triết đã tập trung đẩy mạnh nhiều hoạt động, trên một số lĩnh vực xây dựng đời sống văn hóa nông thôn và góp thêm những tiếng nói khoa học có giá trị. Nhằm khẳng định sức sống bền vững của truyền thống văn hóa Việt, đồng thời làm sáng tỏ những góc khuất trong lịch sử văn hóa dân tộc, ban giám đốc trung tâm đã tổ chức ba lần tọa đàm về vua Triệu Đà và một số vấn đề của cư dân Bách Việt từ tr.CN. Sau khi bàn luận khá kỹ, khảo sát lại tư liệu khảo cổ, thư tịch và điều tra dân tộc học, các nhà nghiên cứu KHXH đã khẳng định rằng; Triệu Đà là vị vua khai sáng, dựng lên vương triều đầu tiên của người Việt, chứ không phải là kẻ thù xâm lược như sách giáo khoa Việt Nam của mọi cấp học trước đây đã truyền giảng. Ca dao Việt Nam có câu:
                                              Thương dân dân lập đền thờ

Hại dân, dân đái ngập mồ thối xương.

       Để nói lên một quan niệm văn hóa minh triết dân gian trong quan hệ ứng xử giữa tầng lớp thống trị với muôn dân trăm họ. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên hay do bất cứ một thế lực nào áp đặt, Triệu Đà được người Việt ở khắp nơi - kể cả bộ phận nay đang sống và mang quốc tịch Việt Nam hay Trung Hoa -  đều lập đền thờ, mở hội theo chu kỳ năm tháng để ghi nhớ công đức. Có điều cần nhận chân lịch sử rằng; biên giới quốc gia hiện đại là do tổ chức nhà nước phong kiến thực dân tranh cướp, phân chia, tách, nhập rất nhiều lần, cho đến gần cuối thế kỷ XIX, đã gây ra một số lầm lẫn đáng tiếc. Dù đã bị phủ bụi thời gian hơn 2000 năm, biết bao biến cố thăng trầm của lịch sử bào mòn sự kiện nhưng với phương pháp nghiên cứu liên ngành, cuốn sách Nhà Triệu – Mấy vấn đề lịch sử vừa ra đời đã được số đông bạn đọc quan tâm. Tuy mới chỉ là tập hợp những bài nghiên cứu của nhiều tác giả theo cùng một chủ đề, nhưng với cách nhìn nhận bao quát nhiều lĩnh vực cơ bản của chủ biên, cách viết cặn kẽ, chi tiết tư liệu, cuốn sách thực sự là một công trình nghiên cứu khoa học có giá trị.
      Ngày 9 tháng 5 năm 2018, tại văn phòng trung tâmnghiên cứu văn hóa Minh Triết đã họp bàn việc chấn chỉnh tổ chức và thông qua một số hoạt động chủ yếu trong thời gian tới; thực hiện hội nghị bầu ban giám đốc và Tổng thư ký, chủ tịch hội đồng khoa học (2017- 2022) . Nhà nghiên cứu lão thành cách mạng Nguyễn Khắc Mai tiếp tục được bầu giữ chức vụ giám đốc trung tâm. Các phó giám đốc là Trương Sỹ Hùng (tổng thư ký, kiêm chủ tịch hội đồng khoa học), Ngô Sỹ Thuyết, Đinh Hoàng Thắng. Ban điều hành gồm các thành viên: Trần Băng Thanh, Phạm Khiêm Ích, Vũ Thế Khôi,Tô Duy Hợp, An Vi Lê Hữu Khánh (Chánh văn phòng) Nguyễn Hữu Tâm, Đặng Thị Hảo, Nguyễn Hải Hoành, Nguyễn Gia Thắng.
     Ngày 02 tháng 06 năm 2018 tại Hà Nội Trung tâm nghiên cứu văn hóa Minh Triết phối hợp với Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương tổ chức tọa đàm Người Việt với Kinh Dịch đã thành công tốt đẹp. Gần 50 nhà nghiên cứu, khoa học và những người quan tâm văn hóa Việt cổ đến đọc tham luận và trao đổi thảo luận; trình bày những luận cứ, phân tích khoa học để khẳng định chủ nhân của Kinh dịch là người Việt cổ. Một bộ phận tổ tiên của người Việt cổ sau khi bị Hán hóa thì sản phẩm văn hóa độc đáo này bị thất truyền dẫn đến hậu thế hiểu sai lạc, mặc nhiên coi Kinh dịch là của người Hán.Thực ra, phải nghiên cứu lại, làm rõ chứng cớ người Việt cổ là chủ nhân đích thực của Kinh dịch mới có cơ sở hiểu sâu sắc và tìm cách ứng dụng tinh hoa giá trị của phát kiến khoa học tối cổ này, đặng giải quyết rốt ráo những vấn đề của Việt Nam nói riêng và của cả nhân loại nói chung trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Những giá trị Minh Triết của Kinh dịch không chỉ là những nét đặc sắc của văn hóa phương Đông mà ngày nay nó đã trở thành tài sản tinh thần của văn hóa thế giới loài người. Kinh dịch là phương tiện đầy linh thiêng bí ẩn, là thứ ngôn ngữ giao tiếp trực quan giữa con người và thế giới tâm linh. Kỷ yếu Người Việt với Kinh dịch đã và đang được bạn đọc quan tâm. Nhiều nhà nghiên cứu tỏ ý tâm đắc.
  Được sự hỗ trợ về tài chính và cố vấn về khoa học của Trung tâm nghiên cứu văn hóa Minh Triết, ngày 15 tháng 12 năm 2018 một nhóm nghiên cứu trẻ đặt vấn đề khảo sát lại và bước đầu công bố những nhận thức, kết luận có ý nghĩa khoa học trong cuộc tọa đàm TÌM HIỂU GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA DI SẢN ĐÁ KHẮC SAPA tại Hà Nội. Với những thành tựu nghiên cứu cơ bản trước đây đã đặt nền tảng, gợi mở những hướng nghiên cứu trên  trên tất cả các khía cạnh xung quanh đề tài, cách khai thác, bổ sung tư liệu chuyên môn và từng bước hoàn thiện các báo cáo có nội dung chất lượng khoa học mới đã được công bố. Các báo cáo viên là nam nữ thanh niên trên dưới tuổi 30 đã có bằng cấp, học vị cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ được báo cáo trong buổi sinh hoạt khoa học thường xuyên .
     Điểm lại chương trình hoạt động khoa học, năm 2018 còn tồn tại một số báo cáo khoa học về Kinh tế xã hội Đại Việt thời Lê - Trịnh chưa hội đủ các điều kiện tọa đàm hoặc hội thảo. Hy vọng năm 2019 sẽ có tổ chức dòng họ hoặc đơn vị quan tâm tạo điều kiện cùng với trung tâm thực hiện đề tài rất có ý nghĩa này.
     Góp phần xây dựng nếp sống văn hóa nông thôn mới, năm 2018, Trung tâm nghiên cứu văn hóa Minh Triết đã đi khảo sát, tư vấn du lịch văn hóa tâm linh cùng lãnh đạo và cán bộ tỉnh Hà Tĩnh tại đền thờ Nguyễn Thị Bích Châu; tại Thái Bình ở đền Đồng Sâm, tại Hưng Yên ở Văn Giang, tại Hòa Bình ở mường Khến, tại Bắc Ninh ở chùa Dâu, đền thờ Sĩ Nhiếp và nhiều di tích lịch sử văn hóa khác tại thủ đô Hà Nội.
     Năm 2018 kỷ niệm 190 năm thành lập huyện Tiền Hải (1828 - 2018)   ngày sinh danh nhân văn hóa Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858), ban giám đốc trung tâm phối hợp với ban tuyên giáo huyện ủy Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tổ chức thành công tốt đẹp hội thảo Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ với quê hương Tiền Hải. Đó là “một trong những hoạt động có ý nghĩa thiết thực tri ân doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ và chào mừng kỷ niệm 190 năm thành lập huyện Tiền Hải”như bí thư  Nguyễn Minh Giang đánh giá. Nhằm cung cấp thêm những tư liệu mới cho việc tiếp tục nghiên cứu tư tưởng kinh tế, chính trị và văn hóa của Nguyễn Công Trứ, như các sử gia thời Nguyễn ghi nhận, ông là “con người trác lạc, có tài khí chẳng những có tài thơ văn mà còn lập công lớn nơi chiến trậnlĩnh chức doanh điền, mở mang ruộng đất, tụ họp lưu dân, gây thành mối lợi vĩnh viễn cho đất nước”. Tập kỷ yếu 190 NĂM THÀNH LẬP HUYỆN TIỀN HẢI – TƯỞNG NIỆM NGUYỄN CÔNG TRỨ đã lần đầu tiên công bố bản dịch Gia phả dòng họ Nguyễn Công Trứ. Và “với chủ trương thu hút bộ phận nghĩa quân vào công cuộc khẩn hoang, Nguyễn Công Trứ tạo ra lối thoát không những cho nông dân nghèo và giải quyết những khó khăn trong “kế sách an dân” của giai cấp thống trị đương thời. Những người từ chỗ là lực lượng đối kháng mạnh mẽ của triều đình đã trở thành nhân tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Đó là biện pháp thông minh và táo bạo mà Nguyễn Công Trứ thực hiện thắng lợi trên vùng đất Tiền Châu”.
   Chắc chắn năm 2019 Trung tâm nghiên cứu văn hóa Minh Triết sẽ có nhiều thành tựu mới, trong lĩnh vực hoạt động linh hoạt và kịp thời với những đòi hỏi thực tiễn đã và đang đặt ra với tinh thần thẳng thắn, dân chủ và MINH TRIẾT.

                                                                                                                                                                                                                                              GIANG ĐÔNG HẢI

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2019

BÁO CÁO ĐỀ DẪN HỘI THẢO TOÀN QUỐC BÀN VỀ NGUỒN GỐC CÁC DÒNG HỌ VIỆT NAM

                                                                   VŨ MẠNH HÀ
Chủ tịch lâm thời Cộng đồng các dòng họ Việt Nam

Chủ tịch Cộng đồng họ Vũ thủ đô Hà Nội

     Cách nay dăm năm, có vị GS TSKH lịch sử viết: “Không có gì phải nghi ngờ, hệ thống tên mà người Việt đang sử dụng rộng rãi hiện nay, là sự mô phỏng hệ thống tên họ của người Hán… Phải đến đầu thế kỷ thứ III, khi Sĩ Nhiếp sang làm thứ sử Giao Châu, những ảnh hưởng của văn hóa Hán tới người Việt, trong đó có hệ thống văn tự, phong tục tập quán và quan hệ xã hội, mới bắt đầu trở nên sâu rộng. Rất có thể hệ thống tên họ kiểu Hán lúc này mới trở nên phổ biến… ”[1]. Chẳng hạn về họ Vũ ở Việt Nam, cũng vị giáo sư sử học này xác quyết: “Có thể khẳng định rằng thời Hùng Vương chưa có họ Vũ - Võ. Những tên tuổi họ Vũ gắn với thời đại Hùng Vương được viết trong các thần phả, thần tích đều là sản phẩm từ thời Hậu Lê trở về sau, không thể dùng làm căn cứ để xác quyết về gốc tích dòng họ trước đó hàng thiên niên kỷ”[2].

Đây là quan điểm không mới, từ nửa đầu thế kỷ trước đã có một số học giả như các giáo sư Nguyễn Đổng Chi, Đào Duy Anh viết như vậy.  Gần đây nó dường như như trở thành quan điểm chính thống của giới sử học, của các nhà nghiên cứu văn hóa, nhà tính danh học nước ta. Các vị này cho rằng xã hội người Việt đời Hùng Vương, cho đến tận thời Hai Bà Trưng, vẫn theo mẫu hệ, con cái theo mẹ, mà tộc họ là sản phẩm của chế độ phụ hệ. Còn người Việt ta chỉ bắt đầu có họ từ thời Bắc thuộc, do người Trung Hoa áp đặt để tiện quản lí hộ tịch.

Nguồn gốc dòng họ của người Việt không thể tách rời vấn đề nguồn gốc chủng tộc Việt. Trong khoa học thế giới và nước ta, đến nay vẫn tồn tại 3 quan điểm khác nhau về nguồn gốc dân tộc Việt. Cổ sử Trung Hoa (ở Việt Nam người ủng hộ quan điểm này là học giả Đào Duy Anh) cho rằng người Lạc Việt gốc từ Trung Hoa, cụ thể từ Vân Nam và Quảng tây di cư xuống. Quan điểm thứ hai, chủ yếu của một số học giả Pháp, cho rằng  người Việt bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng . Quan điểm thứ ba cho người Việt vốn có gốc bản địa, sau hỗn huyết với các chủng người từ phía Mông cổ tràn xuống và các dân thiên di từ - Ôstrâylia - Nam Đảo lên mà thành. Hội thảo lần này sẽ góp thêm những tư liệu và góc nhìn, thử giải quyết trong thể thống nhất hai vấn đều rất phức tạp này: cội rễ dân tộc và nguồn gốc dòng họ Việt.

Trước hêt xin lưu ý quý vị đại biểu rằng Hội thảo này là đầu tiên trong chuỗi các hội thảo và tọa đàm mà cộng đồng các dòng họ Việt Nam dự định tiến hành, nên không đi sâu vào lịch sử và truyền thống của từng dòng họ mà chỉ tập trung nghiên cứu và thảo luận vấn đề chung nhất: người Việt có họ từ bao giờ và các họ Việt có phải bắt nguồn từ Hán hóa hay không?

Để có thể sơ bộ đi đến một kết luận nhất định, chúng tôi chủ trương: tập trung xem xét vấn đề trên cơ sở những dữ liệu khoa học hiện đại của di truyền học và nhân chủng học, khảo cổ học, liên ngành sử học và văn hóa học, kể cả những nghiên cứu về lĩnh vực tâm linh. Bởi vậy về mỗi lĩnh vực chúng tôi chỉ đặt viết một/hai tham luận chi tiết, in trước toàn văn trong “Tài liệu hội thảo”, tại hội trường chỉ trình bày tối đa 15 phút, còn lại là các phát biểu mang tính chất thông tin ngắn gọn về dòng họ, không quá 7 phút, dành thời gian cho phản biện và thảo luận.

Nội dung các tham luận chính đề cập các bình diện sau đây:

-       Tham luận của ông Nguyễn Thiện, giám đốc Trung tâm nghiên cứu các Hiện tượng và Khả năng đặc biệt, đề cập những phát hiện mới của di truyền học và nhân chủng học trong việc xác định các tiểu chủng Việt và Hoa trên địa bàn Trung - Bắc Việt Nam và Hoa Nam từ phía nam sông Trường Giang  trên đất Trung Quốc ngày nay trở xuống so với các tộc Hán và Tạng từ phía bắc sông này trở lên. Từ thực tế người Việt là nguồn gốc của người Nam Trung Hoa, tác giả Nguyễn Thiện đặt giả thuyết ngược hẳn quan điểm chính thống: cũng có thể các dòng họ Việt là nguồn gốc của các dòng họ Hoa trên địa bàn phía nam Trung Hoa. Tác giả cũng dẫn những kết quả ban đầu do 5 năm Trung tâm của ông đã điền dã khảo nghiệm các di chỉ mộ phần tương truyền có từ đời Hùng Vương. Mỗi di chỉ được khảo nghiệm đều có 2 nhà ngoại cảm tham gia. Cuối cùng có đối chứng các kết quả hiện trường với hiện vật khảo cổ học và cổ thư.

-       Bổ sung cho tham luận thứ nhất là bài của dịch giả-nhà nghiên cứu văn hóa Trung Quốc Trần Đình Hiến, với cái đầu đề lạ lẫm với đa số chúng ta không rành tiếng Hán: “Bản lai diện mục” mà từ điển của cụ Đào Duy Anh dịch là “hiện trạng nguyên trước có”, nôm na là diện mạo vốn như nó có, tức nguồn gốc thực. Tác giả Trần Đình Hiến chỉ bình ngắn gọn về quan điểm khoa học mới này của các học giả Trung Quốc và dịch nguyên văn bài do Tân Hoa Xã công bố ngày 18/04/2014. Theo ông Hiến có thể coi bài này là phát ngôn chính thức …“từ bỏ người vượn Bắc Kinh vốn được coi là viễn tổ của Hoa Hạ”,  thừa nhận thuyết biến đổi gien và người vượn Đông Phi là tổ tiên của toàn thể loài người hiện nay, không ngoại trừ cả người Trung Quốc, vốn dĩ  “có nguồn gốc từ Đông Phi, qua Nam Á tiến vào Trung Quốc” (chúng tôi nhấn – VMH), bởi vì  “Đông Nam Á là trung tâm phân hóa chủng tộc”.

-       Tiếp theo là một tham luận mang tiêu đề rất hấp dẫn: “Chứng cứ tộc họ từ tư liệu khảo cổ học”. Chúng tôi đánh giá bình diện khảo cổ học là cực kì quan trọng trong việc nghiên cứu các hiện tượng tiền sử thành văn mà nguồn gốc dòng họ chính là một hiện tượng như vậy. Rất tiếc do quá bận rộn với các đợt đi công cán nước ngoài và việc xây dựng bảo tàng Hòa Bình, tiến sĩ Nguyễn Việt, giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á, không gửi được toàn văn tham luận, cũng không thể đến tham gia hội thảo, vì qua điện thoại từ Hòa Bình ông cho biết lại phải đi công cán đúng vào dịp này. Để nhấn mạnh không thể thiếu dữ liệu và góc nhìn khảo cổ học trong nghiên cứu nguồn gốc dòng họ, chúng tôi in trong tài liệu hội thảo đề cương tóm tắt tham luận của tiến sĩ Việt để những người quan tâm tham khảo, và rất mong sớm muộn gì ông cũng gửi cho chúng tôi toàn văn tham luận lí thú này để cuộc hội thảo khởi đầu sự nghiệp gian nan nghiên cứu nguồn gốc dòng họ Việt có được một tổng quan đầy đủ.

-       Sử thành văn, kể cả sử Trung Hoa vốn lưu giữ được sớm hơn sử Việt như Sử kí Tư Mã Thiên – năm 97 tr CN, ra đời muộn hơn sự xuất hiện của dòng họ rất nhiều. Sử bất thành văn, dã sử, huyền sử dưới các dạng truyền thuyết, huyền thoại…tồn tại từ thượng cổ, thái cổ, đều phản ánh những thật lịch sử nhất định. Tuy nhiên, trước khi chưa có một số bộ môn khoa học hiện đại để đối chứng và kiểm chứng các truyền thuyết và huyền thoại, người ta cho loại sử bất thành văn này là hoang đường trăm phần trăm. Quả vậy, người ta từng cho Kỉ Hồng Bàng thị trong Đại Việt kí toàn thư là hoang đường. Vậy mà đến những năm 60 của thế kỉ trước, khảo cổ học Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chứng minh được rằng thời Hùng Vương là có thật trong lịch sử. Ngày nay chẳng những đã có ngôn ngữ học, kí hiệu học, khảo cổ học, mà còn thêm di truyền học, nhân chủng học, văn hóa học tâm linh nữa – cho nên phương pháp tiếp cận liên ngành có thể minh chứng nhiều sự thực của lịch sử cách ta cả vạn năm. Thử đi theo hướng sử học tiếp cận liên ngành này là tham luận của giáo sư tiến sĩ Trương Sỹ Hùng và tiến sĩ Đinh Công Vĩ: Họ tên người Việt có từ thời Hùng Vương  Dòng họ gắn với dân tộc Việt: lịch trình từ Hùng Vương về sau.

    Theo  Trương Sỹ Hùng, sai lầm của sử học chính thống là ghép vấn đề hình thành họ tên người Việt thời Hùng Vương dựng nước vào địa danh quốc gia và biên giới Việt Nam hiện đại. Sai lầm thứ hai là tiên định thời Hùng Vương, thậm chí đến thời Hai Bà Trưng xã hội Việt Nam vẫn theo mẫu hệ. Ông khẳng định: “Thật ra, chính giai đoạn này tuy người Việt chưa có đầy đủ hệ thống dòng họ lối phụ hệ đúng cách, nhưng việc hình thành các chi nhánh thân tộc theo phân hệ gia đình đã chín muồi, nhất là từ khoảng thế kỷ V-III tr CN đến thế kỷ III – IV sau CN. Thời Hai Bà Trưng, dường như người Việt muốn trở lại thời kỳ mẫu hệ, nhưng tiến bộ xã hội đã lấn tới và mau chóng vượt hơn lên sau những cuộc giao tranh lãnh thổ và địa vị thống trị.” Và ông dẫn chứng từ tộc phả cả loạt dòng họ như Ma, Lương, Đặng…

    Đinh Công Vĩ vận dụng hiện vât khảo cổ - hoa văn trên trống đồng Đông Sơn để thử giải mã con số 18 trong các truyền thuyết Mường và Việt. Ông đặt vấn đề: “Phải chăng con số 18 là con số dòng họ thời ấy kết hợp với nhau trong liên minh bộ lạc Văn Lang, lấy tổ hợp các bộ lạc chim – rồng theo quan niệm tô tem thời ấy làm xương sống?” Nếu quả như vậy, thì 18 đời Hùng Vương không phải là 18 ông vua truyền nối mà là18 ngành họ với 50 đời tồn tại 2500 năm nên trung bình mỗi vua sống được 50 năm sẽ là hoàn toàn hợp lý. Lại vận dụng các khảo nghiệm về gien của bác sĩ Trần Đại Sĩ và những điều tra đầu sọ học do giáo sư Mạc Đường đã dẫn, ông cũng cho rằng truyền thuyết kể lãnh thổ các nước Xích Quỷ và Văn Lang vươn tới tận hồ Động Đình, với cư dân Bách Việt bao gồm cả người Hoa Nam có cấu trúc AND khác hẳn với người Hoa Bắc. Tác giả cho rằng: mặc dù thời Hùng Vương còn nhiều dấu tích của mẫu hệ, nhưng phụ hệ đã hình thành vàDòng họ ra đời trên cơ sở đó, từ chế độ mẫu hệ chuyển sang chế độ phụ hệ”. Ông dẫn hàng loạt hiện tượng chứng tỏ trong gia đình Hùng Vương còn tàn tích mẫu hệ, nhưng trong quốc gia và tộc họ phụ hệ đã ngự trị.

-       Tham luận của tập thể tác giả Vũ Thế Khôi, Nguyễn Thị Giang, Vũ Thị Xu và Vũ Đình Dậu hơi khác biệt với các tham luận còn lại ở chỗ: bằng phương pháp nghiên cứu liên ngành văn bản học – bảo tàng khảo cổ học và văn hóa học (dân gian) kết hợp điền dã khảo sát các địa phương là trung tâm của họ Vũ từ cổ xưa, thử giải quyết một vấn đề cụ thể trong hành trình “vấn tổ tầm tông” mà bất kì dòng họ Việt Nam nào cũng đang đối diện. Từ tháng 4 năm ngoái đến gần đây, nhóm nghiên cứu này đã trên hai chục lần điền dã tại các xã Trực Tuấn và Hành Thiện – Nam Định và Trạch Xá, Mộ Trạch – Hải Dương, lần theo dấu vết nhân vật lịch sử là viên quan triều Đường Vũ Hồn, làm Kinh lược sứ 3 năm 840 – 843, bị quân sĩ ở Đô hộ phủ nổi loạn đuổi về Quảng Châu, rồi biệt tăm tích suốt gần 4 thế kỷ (tính đến vị Khởi tổ của Vũ Mộ Trạch sống khoảng giữa thế kỉ XIII), được quyển tộc phả Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sự tích năm 1769, tức cách nay gần 3 thế kỷ rưỡi, ghi là tị tổ (tổ khai sáng) dòng họ, cộng đồng dân cư đa tộc họ thôn Mộ Trạch xã Tân Hồng huyện Bình Giang tôn thờ làm thành hoàng làng. KLS Vũ Hồn là tị tổ theo huyết thống hay được suy tôn? Vấn đề trở nên có ý nghĩa nguyên tắc do từ lâu nhiều người nghiên cứu dòng họ và gia phả cho rằng KLS Vũ Hồn là thủy tổ của họ Vũ Việt Nam nói chung và gần đây một số người tuyên bố viên quan triều Đường là “Thủy tổ duy nhất” của họ Vũ trên đất Việt, bất chấp các cổ di tích, cổ thư tịch , kể cả văn khắc trên chuông Thanh Mai (798) - bảo vật quốc gia, xác nhận KLS Vũ Hồn không phải là người họ Vũ đầu tiên ở đất Việt thời xưa. Điều lí thú là nhóm nghiên cứu, theo chúng tôi, bằng những dữ liệu tổng hợp đã chứng minh được là có một nhân vật Vũ Hồn gốc Việt là cháu nội của nhà sư bạn chài và bạn tu của Lý triều quốc sư Không Lộ. Vị Vũ Hồn gốc Việt này đã cùng cha thiên cư từ trấn Sơn Nam lên Hải Dương. Chi tiết của hành trình về nguồn này xin để các tác giả trình quý vị đại biểu.

-       Sau phần tham luận, hội thảo sẽ nghe thông báo vắn tắt của các dòng họ, theo yêu cầu chỉ cung cấp thông tin chính về xuất xứ (địa phương và thời điểm), các mốc phát triển chính và hiện trạng, dành báo cáo chi tiết cho những hội thảo tiếp theo.

-       Phần quan trọng tiếp theo trong nội dung hội thảo là phản biện và thảo luận xung quanh trọng tâm của cuộc hội thảo này là nguồn gốc các dòng họ Việt trong tương quan với nguồn gốc dân tộc Việt nhằm có thể nêu ra những kết luận sơ bộ, tạo tiền đề cho các cuộc hội thảo tiếp theo.



[1] Thông tin dòng họ. Hội đồng dòng họ Vũ - Võ việt Nam, số 30/Quý II năm 2012.
[2] Thông tin dòng họ. Như trên, số 40/Quý IV năm 2014 và số 41/Quý I năm 2015.

MỘT CUỘC ĐIỀN DÃ NHỚ ĐỜI


                                                                                                                             Thế Khôi

    Tôi có cái tật, nghiên cứu hoặc nói hoặc viết về cái gì, khi chưa thấy tận mắt, sờ tận tay thì trong lòng vẫn chưa vững tin. Đã viết trong báo cáo khoa học, "nói có sách, mách có chứng" hẳn hoi rằng: không có tấm bia Đa Căng nào khắc chữ về khai quốc công thần Vũ Uy – mà thủy tổ của ông là Kinh lược sứ Vũ Hồn, có vợ họ Hoàng, đẻ 3 con trai v.v... như chư vị đồng chủ biên sách rởm Tộc phả họ Vũ(Võ),thế kỷ IX-XIX bịa đặt trắng trợn để lừa bà con họ Vũ, dối trá với các nhà khoa học; nhưng vẫn... vẫn... "ngộ nhỡ": ngộ nhỡ sách viết sai, ngộ nhỡ nhân chứng "dĩ ngoa truyền ngoa". Bởi vậy hôm qua, 6 giờ sáng trời mưa rét 12 độ, đoàn khảo sát chúng tôi vẫn quyết về tận Đa Căng -Thanh Hóa sờ... bia đá.
    Vợ mắng yêu: “- Điên! Đáp: - Chưa, mới gàn thôi”. Cụ khai quốc công thần như muốn thử lòng lũ cháu chắt hậu sinh. Xe ô-tô của tổng giám đốc Trung tâm nghiên cứu tiềm năng đặc biệt của con người Vũ Thế Khanh – là một người con họ Vũ tâm huyết, cho mượn - nổ máy mãi không được! Thế là tất cả mọi người xuống xe, hò dô ta đẩy. Chứng giám lòng thành, chỉ đẩy mươi mét, có lẽ vong hồn cụ cụ khai quốc cho xe nổ máy giòn giã. Nào phải một lần. Chạy một hơi hơn 3 tiếng, lái xe không dám dừng nghỉ; đến thị trấn Nông Cống, gần tới đích, ai nấy đói bụng, đành phải tạm dừng, ăn bát bún lót dạ, những tưởng máy chạy đã nóng rồi, chắc xe sẽ nổ ngon. Ai ngờ lại phải hò nhau đẩy. Chỉ tiếc là 2 nữ quái tháp tùng, không cô nào nhanh ý rút smarphon ra nháy một po ảnh lão gàn 81 tuổi cũng đẩy khỏe như ai! Nhưng điều kì lạ là khi xe đỗ ngoài đường, cả bọn nhào vào miếu thắp hương, rồi lau lau, chùi chùi, cạo cạo, khảo sát 3 bia, kể cả tấm người đi trước mách bảo không còn chữ. Rồi lần từng chữ, đọc từng dòng. Miệt mài gần hai tiếng mới xong.
     Đúng lúc ấy cái xe ọc ạch lại lù lù tiến vào sân. Một cô trong đoàn hỏi "cán bộ đường lối": - Ai đẩy hộ cậu đấy? - Em đề cái, nổ ngay. Cô thứ hai tiên đoán: Chắc cụ khai quốc phù hộ cho đấy... Và cũng kể từ lúc ấy, trên đường về lão gàn không phải ra tay cùng đoàn đẩy xe lần nào nữa.
    Bỗng nhớ lại bài thơ xuất khẩu của hai nữ quái, đọc trêu lão gàn gần 2 năm trước, khi cùng nhau bắt đầu cuộc điền dã, lần tìm lại theo bờ ruộng đường cái quan, tương truyền phu kiệu từng rước vua nhà Lý về hương Giao Thủy xưa, thăm các thiền sư Không Lộ và Giác Hải:

Sớm xuân hây hẩy gió nồm Nam,

Tản bộ ven sông một lão gàn,

Lẽo đẽo theo sau hai nữ quái

Quyết tâm tìm lại đường cái quan!

    Xin chia sẻ với các bạn thanh khí kết luận sơ bộ của cuộc điền dã nhớ đời này. Dứt khoát, KHÔNG CÓ BIA ĐA CĂNG NÀO KHẮC TÊN Kinh lược sứ VŨ HỒN, như một nhà nghiên cứu, giảng dạy lịch sử đã khẳng định.

    Như chúng tôi đã viết: Những lời "Khảo sát bia Đa Căng ..." có khắc tên kinh lược sứ Vũ Hồn cùng vợ họ Hoàng có 3 con trai, in trong quyển TỘC PHẢ HỌ VŨ(VÕ). Thế kỷ IX – XIX, chỉ là sự bịa đặt của một số vị đời nay, trót "quyết định" viên quan võ phụ trách trị an và quân vụ miền biên viễn đời nhà Đường là "Thủy tổ duy nhất" của họ Vũ (Võ) Việt Nam. Hai nhà nghiên cứu đến thực địa trước chúng tôi, đều không thấysự thật những thông tin xác thực từ tấm bia đó. Một trong hai vị đã lầm tưởng đoạn văn "Đa Căng miếu bi" trong Thanh Hóa chư trang Vũ tộc thế phả của 45 trang Thanh Hóa, viết lại vào đời Tự Đức (tk XIX), là bản sao văn bia, nên đã dịch toàn văn; với một số nhầm lẫn về câu chữ mà chúng tôi đã phân tích trong bài, đăng lên Tạp chí Hán Nôm, số 1 năm 2009. Thực tế đoạn văn đó chỉ là người soạn lại phả thời Nguyễn, đời Tự Đức, kể lại nội dung tấm bia đời Hậu Lê đã mờ chữ, và trong đoạn đó CŨNG KHÔNG CÓ CHỮ NÀO VỀ KLS VŨ HỒN.

    Tuy nhiên, để chắc chắn, ngày 12 tháng 12, bất chấp mưa gió và lạnh đến 12 độ, nhóm điền dã chúng tôi đã cất công về tận Đa Căng, nay là thôn Bái Đa, xã Vạn Hòa, h. Nông Cống, để "sờ tận tay, thấy tận mắt" 3 tấm bia hiện còn, dựng trong gian miếu tại khu lăng mộ khai quốc công thần Vũ Uy. Các hình ảnh khảo sát thực địa, do anh Vũ Xuân Kiên chụp trong bài này, nêu rõ hơn điều đó. Một tấm bia chỉ còn một nửa, đã mòn hết chữ, theo một thành viên là chuyên gia bảo tồn - bảo tàng trong nhóm, do bị nước bào mòn và đọng váng vì ngâm lâu trong nước ao. Nửa còn lại, sau khi được chị gia công kì cọ, lau rửa, có những dòng chữ hiện lên lờ mờ, đọc được niên đại là bia khắc năm thứ 15 đời Thành Thái nhà Nguyễn (1903). Đây đúng là tấm bia mà các tác giả Địa chí Nông Cống, trang 479, đã viết: "Lược ghi gia phả họ Võ, kể chuyện Trịnh Kiểm găp Nguyễn Kim và họ Võ (Thời An)" gặp chúa Trịnh, tham gia diệt Mạc, được gia phong, ban lộc điền, lập các trang của họ Võ gồm 45 trang ở 11 huyện, liệt kê từng trang ở các huyện". KHÔNG MỘT CHỮ NÀO VỀ KLS VŨ HỒN!
    Các cụ ở địa phương phấn khởi chiêu đãi: "Bao nhiêu đoàn nghiên cứu về đây, chưa ai giúp được chúng tôi hiểu hơn về tổ tiên mình như các vị."


                                                      Đọc bia đời Thành Thái 1892

      Chụp ảnh lưu niệm với cụ thủ từ và cán bộ thôn Bái Đa (tên xưa là Đa Căng)