Thứ Ba, 12 tháng 4, 2022

TƯỞNG NHỚ HỌA SĨ LÊ LAM - VŨ QUỐC ÁI (1931 - 2022)

  TRƯƠNG SỸ HÙNG

     Họa sĩ Lê Lam (1931 -2022) - tác giả nổi tiếng từ bức tranh DỪNG LẠI; giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2016. 

Quê ông ở xã Hải Bối, huyện Đông Anh, Hà Nội; tên thật là Vũ Quốc Ái  tốt nghiệp Trường cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam khóa Kháng chiến tại chiến khu Việt Bắc năm 1953, và đã  làm việc tại một số cơ quan báo chí. Năm 1958, ông được đi học Trường đại học Mỹ thuật ở Matxcơva mang tên Surikov, sau đó chuyển sang Trường đại học Mỹ thuật quốc gia Kiev. Năm 1964 ông về nước và được phân công công tác làm giảng viên, chủ nhiệm khoa đồ họa Trường Mỹ thuật công nghiệp.

     Năm 1966 Vũ Quốc Ái được tiếp tục sang Liên Xô học tập, nhưng ông xin ở lại, xung phong vào chiến trường miền Nam sáng tác như các nhạc sĩ Lưu Hữu Phước,  Hoàng Hiệp, nhà biên đạo múa Thái Ly, ca sĩ Nguyễn Thanh Đính....

  Năm 1967, ông đã tìm gặp chị Tư Cào - người tay không ngăn xe tăng địch ở Long An - để tìm hiểu kỹ hơn lấu chất liệu vẽ ký họa nhân vật hiên ngang đứng trước xe tăng địch,trong bầu không khí u ám loang lổ khói bom đạn và máy bay trực thăng đang bu bám trên đồng lúa. Tên lính Mỹ trên xe giương súng ngắm bắn chị. 

     Lúc đầu Lê Lam đặt tên tranh là Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ chịu khuất phục, sau đổi tên là Dừng lại. Bức tranh đầu tiên bị đối phương thu giữ. Họa sĩ về Trung ương Cục vẽ lại gửi ra Bắc. Tác giả rất xúc động khi biết Bác Hồ đã đứng ngắm bức tranh khá lâu trong triển lãm triển lãm,rồi nói: "Cái này mạnh hơn sắt thép đấy. Các chú in ra cho toàn dân và thế giới xem".

      Trên báo Nhân Dân cuối tuần, năm 2001 Lê Lam cung cấp tư liệu chính xác về tác giả của QUỐC HUY VIỆT NAM là hoạ sĩ Bùi Trang Chước.

  

      Ý kiến nêu ra lúc đầu còn một vài người do dự; ông tiếp tục tìm hiểu cùng hoạ sĩ Ngọc Linh (Vi Văn Bích) Trần Thị Thục Phi kiên định bảo vệ ý kiến đúng đắn, giành lại sự ghi nhận công bằng cho cố hoạ sĩ Bùi Trang Chước - người thầy của ông ở trường Mỹ thuật  Việt Bắc.

     Một bức tranh màu nước vẽ năm 1975 và một ký họa mực nho 2005 là chân dung một chiến sĩ giải phóng quân. Sau 30 năm gặp lại nét vễ Lê Lam cũng GIÀ theo năm tháng, nhưng tâm hồn vẫn trong sáng, trẻ trung.

     Gặp lại nhau ở nhà A3 khu tập thể Thành Công lúc nào ông cũng mỉm cười độ lượng..

    Thẳng thắn, bộc trực, nhiệt tâm là đức tính quý nhất của người nghệ sĩ tài ba, người chiến sĩ kiên cường, dũng cảm Lê Lam - Vũ Quốc Ái mãi mãi là một tấm gương lao động cần cù, sáng tạo độc đáo. 

 

 

Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2022

CUỐN SÁCH ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM LÊN HẠNG VÔ GIÁ

 TRƯƠNG THÚY HẰNG

Cuốn sách đầu tiên bằng chữ quốc ngữ của Việt Nam in năm 1651, tại Roma (Italia), đã tồn tại 366 năm và được lưu giữ trong nhà thờ Mằng Lăng (Tuy An, Phú Yên). Đây cũng là thời điểm đánh dấu sự ra đời của chữ quốc ngữ, chữ viết tiếng Việt chính thức đang dùng hiện nay. Cuốn sách quý này vừa mới đây được đưa vào hồ sơ đề xuất kỷ lục Việt Nam – giá trị vượt lên mọi sự định giá trước đó.

Linh mục Phero Trương Minh Thái, Chánh xứ Giáo xứ Mằng Lăng tiếp tôi trong căn phòng dành để tiếp khách quý của nhà thờ Mằng Lăng có bài trí rất nhiều cổ vật. Đáng chú ý nhất là chiếc bàn trà kê ở giữa phòng được làm bằng gỗ mằng lăng rất cũ kỹ và đang được sử dụng. Đây là chiếc bàn tồn tại đã 127 năm, được cưa từ một thân gỗ mằng lăng lớn tại chính vị trí xây ngôi nhà thờ này. Xung quanh vị linh mục, vô số những hiện vật quý mang tính lịch sử, lý giải và minh chứng tiến trình hình thành phát triển của tôn giáo, đời sống con người khu vực Nam Trung bộ do chính ông sưu tầm, gìn giữ. Duy chỉ có cuốn sách cổ có tựa đề “Phép giảng 8 ngày” in tại Roma, ông được kế nhiệm lưu giữ bảo quản, vì đó là tài sản của nhà thờ Mằng Lăng. 

Linh mục Trương Minh Thái cho biết, trước đây, đã có thời gian cuốn sách được trưng bày trong khu tưởng niệm linh mục Alexandre de Rhodes để mọi du khách và giáo dân đều được thưởng lãm. Alexandre de Rhodes là một giáo sĩ truyền giáo kiêm nhà ngôn ngữ học châu Âu sống ở giữa thế kỷ XVII đã có công quy chuẩn hóa chữ quốc ngữ từ việc phát minh dùng chữ quốc ngữ trong giảng đạo và biên soạn giáo lý của nhóm các nhà truyền giáo và giáo dân ưu tú ở vùng Nam Trung bộ lúc bấy giờ. Sau đó, lo sợ cuốn sách bị mục nát và hỏng vì thời tiết khí hậu biến đổi thất thường, Linh mục Trương Minh Thái lưu giữ bản gốc cuốn sách trong hộp kín và chỉ trưng bày cuốn phiên bản.

      Linh mục Trương Minh Thái giơ cuốn sách trước đèn, chỉ cho tôi dấu in chìm trong cuốn sách của nhà in Vatican vào thời điểm năm 1651. Đây là dấu tích khẳng định bản in gốc được chính giáo sĩ Alexandre de Rhodes mang về Roma in những tài liệu đã biên soạn của mình thành cuốn sách này và in tại nhà in Vatican rồi lại mang sang Việt Nam và sử dụng nó trong các buổi giảng đạo của mình. Vào thời điểm đó, kỹ thuật in chìm trong giấy mà chữ hoặc dấu chìm chỉ hiện lên khi giơ giấy trước nguồn sáng là một trong những kỹ thuật in tiên tiến chỉ có vài nhà in hiện đại trên thế giới có được. Cho đến bây giờ, chính vì sở hữu đặc điểm đặc biệt đó, cuốn sách càng trở nên có giá trị và trở thành vật tích muốn nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, khảo cổ và sử học trên thế giới. 

Cuốn sách hiện nay đã nhuốm màu thời gian, nhưng mực in vẫn rõ ràng, được bọc ngoài bằng vải và trông không khác gì so với hàng vạn bản in tái bản sau này của cuốn sách. Linh mục Trương Minh Thái cho biết, ngoài việc Tổ chức kỷ lục Việt Nam - Hội kỷ lục gia Việt Nam muốn xác lập kỷ lục cho cuốn sách thì rất nhiều trường đại học, viện nghiên cứu trên thế giới muốn mời ông mang cuốn sách này qua giới thiệu với họ và giới sinh viên, nghiên cứu sinh đang quan tâm. Tuy nhiên, có vẻ như việc mang cuốn sách ra ngoài lãnh thổ Việt Nam là không khả thi.

Về mặt chứng nhận pháp lý, cuốn sách là tài sản đặc biệt khi mang ra nước ngoài cần có bảo hiểm. Nhưng để bảo hiểm thì việc định giá lại không thể dựa trên tiêu chí nào. Việc một nhà thờ bình thường ở xứ đạo ven biển Nam Trung bộ lưu giữ được nguyên vẹn cuốn sách là một kì tích. Dù đã có lúc, cuốn sách từng lưu lạc vì những năm chiến tranh, binh biến, xáo trộn. Hiện nay, mỗi năm nhà thờ Mằng Lăng lại gửi cuốn sách tới Trung tâm Lưu trữ Quốc gia để kiểm tra và tăng cường thêm các biện pháp bảo quản hiện vật. Linh mục chánh xứ nói: “Cuốn sách giờ đây trở thành tài sản vô giá của quốc gia mà nhà thờ chỉ là nơi lưu giữ, sở hữu theo truyền thống. Mọi hành động có thể có nguy cơ tổn hại đến tài sản này đều được nhà thờ cân nhắc kỹ lưỡng”.

      Tuy nhiên, đó mới chỉ là giá trị của một hiện vật tồn tại đã trên 3 thế kỷ bên cạnh đời sống các giáo dân vùng duyên hải. Giá trị lớn hơn cả là hiện vật này là chứng nhân lịch sử của một thời kỳ bước ngoặt mà chữ viết của chúng ta chuyển từ chữ nôm sang chữ quốc ngữ dẫn tới sự chuyển động bản lề của văn hóa nền tảng sau này. Ngay cả việc ngôi nhà thờ được xây trong rừng gỗ mằng lăng (hay bằng lăng?) đọc chệch đi theo tiếng địa phương vẫn còn là một câu hỏi để ngỏ. Rất nhiều bí mật còn nằm sau cuốn sách ra đời 366 năm trước, chưa kể sự lý giải về nguồn gốc việc phiên âm chữ quốc ngữ đã phần nào nói lên sự cởi mở trong giao tiếp, du nhập những thể thức mới, cấp tiến của nhân loại trong lĩnh vực văn hóa của người Việt Nam. 


 

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2022

TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO TRONG KHÓA HƯ LỤC CỦA TRẦN THÁI TÔNG

                                                                                                                            Trần Thị Băng Thanh

 

Tượng vua Trần Thái Tông  tại đền thờ ở Thái Bình

Trần Thái Tông, (tên là Cảnh, còn có tên là Bồ, sinh năm 1218, mất năm 1277), là vị vua mở đầu vương triều Trần, được sách Đại Việt sử ký toàn thư  khen là vị "Vua khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp truyền dòng, lập kỷ dụng cương, chế độ nhà Trần thực là to lớn"[1]; khi nhường ngôi được triều đình dâng tôn hiệu “HiÕn thiªn thÓ ®¹o ®¹i minh quang hiÕu hoµng ®Õ" (tr.28). Ngoài sự nghiệp của vị nhân chủ xây dựng, giữ gìn đất nước ông cũng còn là một nhà trước tác. Theo một số thư tịch cổ, ông có một văn tập, một thi tập và sách Khoa hư lục, nhưng nay chỉ còn lại được 2 bài thơ và tập sách duy nhất Khoá hư lục.

Trần Thái Tông đến với đạo Phật khá sớm và cũng trước tác khá sớm. Tác phẩm sớm nhất của ông ngày nay được biết là Thiền tông chỉ nam ca, được viết khi ông mới khoảng 30-35 tuổi. Cuốn này đã thất lạc chỉ còn bài Tựa trong sách Khoá hư lục. Đó là cuốn sách văn vần, thể ca (?) ghi lại những điều ông đã giác ngộ sau khi được Trúc Lâm Đại sư thức tỉnh và nghiền ngẫm bộ Kinh Kim cương. Trong bài Tựa ông đã chỉ ra những điều quan thiết, những tư tưởng cốt lõi của đạo Thiền. Có thể tóm tắt thành mấy ý: Phật không chia xứ sở, tôn giáo, không phân biệt người trí kẻ ngu, không ở bên ngoài mà ở chính trong lòng mình. Người học đạo không cần những hình thức ồn ào, phải "lặng lẽ mà hiểu". Người tu Thiền cốt yếu phải có "vầng sáng trí tuệ" để "kiến tính" và tổng quát hơn hết là phải "hư tâm", như một câu Phật dạy trong Kinh Kim cương "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm", nghĩa là không nên để lòng bám víu vào bất cứ điều gì. Cuốn sách đã được Quốc sư đánh giá cao, nhiều lần tán thưởng và nói: “Tấm lòng của chư Phật ở cả trong bài ca này, sao không khắc in thành kinh bản để chỉ dẫn cho kẻ hậu học?” Và Trần Thái Tông đã nghe lời sư “sai thợ viết chữ chân phương rồi truyền cho khắc bản”. Có thể ở thời Trần cuốn sách này cùng với Thạch thất mỵ ngữ và một số cuốn khác của Trần Nhân Tông đã được in và dùng trong việc giảng dạy tu trì của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Một cuốn khác, như anh em sinh đôi với Thiền tông chỉ nam ca Kinh Kim cương chú giải. Sách này cũng chỉ còn bài Tựa được giữ trong Khoá hư lục. Nếu như Thiền Tông chỉ nam là bài ca của sự ngộ đạo thì Kinh Kim cương tam muội chú giải lại là lời chú thích, giảng giải trực tiếp hướng dẫn việc tìm hiểu một bộ kinh quan trọng của Thiền học. Bài Tựa viết: “Kinh Kim cương tam muội lẽ nào không phải là loại viên mãn, đốn thực hay sao? Nếu không thế thì sao đủ đem vô sinh pháp yếu trổ phương tiện thần thông?... Kinh này vừa gặp, trăm cảm đã sinh; sâu kín mối manh, suy đi nghĩ lại. Nhấm nháp mùi nghĩa lý, thu thập vẻ văn hoa. Làm rỡ ràng lời nói thánh nhân, để giúp ích ít nhiều cho hậu học. Lạm đem chút kiến thức “vằn báo” hẹp hòi, hòng mở mang tâm chí “vượn đàn” giận ngốc. Do đó rộng tỏ cõi lòng, tự thân chú giải. Dò nghĩa thẳng ở Long cung, tìm nghĩa sâu nơi Thứu Lĩnh. Khơi giọt nước ở tận nguồn chính giác, đắp bụi sa nơi cửa ngõ chân như. Phát huy ý chỉ, mở rộng chân tâm. Khiến cho vừa thoáng xem văn, đã hiểu rõ ràng nghĩa lý. Phá phên giậu bền vững của bọn tà, làm mẫu mực lễ nghi cho môn đệ”[2].

Hai bài Tựa này cũng thể hiện quan điểm của Trần Thái Tông đối với Phật học. Đó là ý nguyện muốn xâm nhập sâu vào bản chất giáo lý Thiền học, kết hợp với giáo lý kinh điển Nho gia, Đạo gia để rộng mở chân tâm, giáo hoá dân chúng nhằm xây dựng một đất nước vững mạnh, tự cường, nhân tâm yên ổn. Cả hai bài Tựa đều nhắc đi nhắc lại điều đó. Nếu như ở Thiền tông chỉ nam tự, Thái Tông đã luôn tâm niệm lời Đại sư Trúc Lâm: “Phàm đã là bậc nhân chủ tất phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình; lấy tấm lòng chủa thiên hạ làm tấm lòng của mình” cùng với việc không xao lãng “nghiên cứu nội điển”, thì đến Kim cương tam muội kinh tự, Thái Tông càng nhấn mạnh: “Trẫm lượng đức chủ trì ngôi báu; rõi trước sau chăn dắt muôn dân. Từng lo vất vả; chẳng ngại sớm hôm. Tuy một ngày trăm việc; cũng trộm lúc rảnh rang. Chăm việc tiếc giờ; học càng tăng tiến. Một chữ “đinh” lo chưa biết đến; đêm canh hai còn gắng tìm xem. Đã duyệt phần điển Khổng Khâu; lại xét sách kinh đạo Thích”. Nhận định về điều này Nguyễn Lang viết: “Thái Tông đã học Nho như một môn học chính trị và xã hội cần thiết cho việc trị dân, và học Phật như một đường hướng siêu thoát cho tâm linh và tình cảm. Là nhà chính trị, vua có nhu yếu học Nho. Là người có chiều sâu tâm linh, vua có nhu yếu học Phật. Khuynh hướng dung nhập Phật Nho của thời Tống sơ do Thiền phái Vô Môn đề xướng đã ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ dung hợp tam giáo của vua”.[3]

Với hai cuốn sách trên, Thái Tông bày tỏ những điều đã thu nhận được từ kinh điển Phật giáo, đặc biệt là từ bộ Kinh Kim cương, có thể coi đó là giai đoạn “tự giác” của ông trên đường tu tập. Nhưng nguyện vọng của ông đối với Phật pháp không dừng ở đó mà muốn vươn tới sự “giác tha”: “Chẳng riêng để chỉ dẫn đường mê cho đời sau mà còn muốn mở mang công nghiệp của thánh nhân thuở trước”. Khoá hư lục, chính là bộ sách nhằm thực hiện ý nguyện ấy của Thái Tông. Như nhan đề đã ghi rõ, bộ sách dạy cho người học đạo cả hai phương diện nhận thức và tu tập để đạt đến sự hư tâm - “lòng không bám víu vào bất cứ điều gì”. Và để thực hiện mục tiêu cần truyền đạt đó, Khoá hư lục có hai phần rất rõ rệt.

Phần thứ nhất của bộ sách giải quyết những vấn đề về nhận thức. Để đạt tới sự hư tâm, khác nhiều thiền gia đời Lý, ngoài những lời giải đáp về phật, tổ, đạo, pháp, vô ngôn..., Trần Thái Tông tập trung lý giải về sắc thân con người, về lẽ sinh tử. Ông dắt dẫn đệ tử từ gần đến xa. Trước hết ông dắt dẫn họ tự chiêm nghiệm hành trình bốn giai đoạn của cuộc đời sinh học mà bất kể ai cũng đều trải qua. Ông hình dung mỗi người đi hết cuộc đời mình cũng như một lữ hành đi đường núi, phải trèo hết bốn quả núi "sinh, lão, bệnh, tử". Bốn quả núi, bốn “tướng” của cuộc đời ấy được tượng trưng bằng hiện tượng thiên nhiên, bốn mùa xuân hạ thu đông trong một năm. Tướng sinh, giai đoạn bắt đầu của cuộc đời, là niềm vui, hạnh phúc nên được coi là mùa xuân: “Khoẻ khoắn thay sự thịnh vượng của dương xuân; mới mẻ thay vẻ tốt tươi của muôn vật. Một trời sáng đẹp, xóm thôn liễu biếc đào hồng; muôn dặm phong quang, chốn chốn oanh ca bướm múa”. Con người sinh ra rất bình đẳng, hết thảy đều: “Gửi hình hài ở tinh anh cha mẹ, nhờ thai nghén nuôi dưỡng ở khí âm dương. Hơn hết tam tài mà đứng giữa, là loài khôn nhất trong muôn loài.” Nhưng ông cũng cảnh cáo ngay: dù vua sáng tôi hiền, dù văn hay võ giỏi, trai đẹp gái xinh, rút cuộc “Xem ra không lọt lưới luân hồi, rút lại khó tránh vòng sinh hoá”. Và rất “hiện sinh”, ông chỉ ra rằng con người sống trên trần thế chỉ là một cuộc lưu đầy, là một lữ khách:

                     Phong trần thất thểu làm thân khách,

                     Ngày một xa quê vạn dặm đường.

                     (Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách,

                     Nhật viễn gia hương vạn lý trình)

Cũng "may", sau khi cất tiếng khóc chào đời con người chỉ còn phải vượt qua ba núi nữa mà thôi, giống như con lừa đã cất được một chân, chỉ còn ba chân nữa:

                               Tứ sơn tiếu bích vạn thanh tùng,

                               Ngộ liễu đô vô vạn vật không.

                               Hỷ đắc lư nhi tam cước tại,

                               Mịch kỳ (kỵ) đả sấn thướng cao phong.

                               (Cheo leo bốn núi vạn chòm xanh,

                               Muôn vật đều không, hiểu rõ rành.

                               Mừng chú lừa còn ba cẳng đó,

                               Đỉnh cao, roi vút vó tung nhanh.)

Tiếp theo tướng sinh là tướng già, như mùa hạ trong năm. “Hình dung dần đổi, khí huyết đã suy”, dù tai tinh như Sư Khoáng cũng không còn phân biệt rõ âm thanh, dù dung mạo đẹp như Phan Lang cũng thành da mồi tóc bạc... Dẫu con người có luyến tiếc thì “Mặt trời vẫn ngả về tây và nước cuồn cuộn về đông”. Tướng già là một bước chuyển nhanh gấp để con người đi đến tướng bệnh, mùa thu trong năm. Lúc này “Tuổi đã già lắm, bệnh nhiễm cao hoang”, “hình hài ốm yếu” “thân thể gầy mòn”, dù thày thuốc giỏi Biển Thước, linh đan tiên nhiệm màu cũng không thể cứu được. Và Thái Tông chỉ có lời khuyên: “Hãy sớm rời xa cõi ma quỷ, hồi tâm về đạo, nuôi dưỡng thiên chân”. Chặng cuối cùng của đời người là tướng chết, tương ứng với mùa đông. Đến lúc này thì: “Tuổi trời mong hưởng đến trăm năm, thân thể bỗng nhiên thành giấc mộng. Thông minh tài trí, tránh sao ngày hạn lớn đến nơi; dũng lực oai hùng, khó trốn lúc vô thường đã tới. Thiếp thuận vợ trinh, trở thành nỗi đau đứt ruột; anh nhường em kính, vội nên ly biệt suốt đời”. Và mọi cố gắng của con người trong suốt cuộc đời, mọi thành công dù rực rỡ huy hoàng, mọi tình cảm dù thiết tha chung thuỷ ... cũng đều trở thành vô nghĩa. “Nát thân đập đất, rập sọ kêu trời. Tường hoa nhà rộng có bàn chi; ngọc đụn vàng kho thôi cũng bỏ. Dạ đài khép kín, luống nghe gió bấc vi vu; cửa suối đóng dài, những thấy mây sầu ảm đạm”.

Sau khi chứng minh cho mọi người thấy hành trình nhọc nhằn và vô nghĩa của cuộc đời, Trần Thái Tông tiếp tục bàn rộng về sắc thân con người. Tấm thân mà mỗi người đều tự yêu quý trọng vọng đó chẳng qua chỉ là "giả tướng", là "con rối", khi giật dây thì đi lại múa may cười nói sinh động tươi tắn nhưng khi buông ra thì rã rời chỉ còn là "một bọc máu mủ tanh hôi". “Thân là gốc khổ; chất ấy nghiệp nhân. Nếu tự coi thân ấy quả là chân; tức đã nhận kẻ thù làm ruột thịt”. Rốt ráo lại, cái thân trong con mắt thế nhân tưởng là “rất thật”, chỉ là cái “sắc thân”, “cái có tạm thời”, còn “cái có nơi hư không” mới thật vĩnh hằng:

Các vị chân nhân chưa có ngôi vị cũng chỉ là khối thịt đỏ hỏn,

Đỏ đỏ trắng trắng, chớ lừa dối nhau.

Ai hay khi mây cuốn đi thì tầng không trong sạch,

Hiện rõ nơi chân trời một dặng núi biếc.

          Và rồi khi đã giảng giải rõ cái “giả tướng sắc thân”, hành trình cuộc sinh hoá nhọc nhằn đau khổ, Thái Tông mới khuyên mọi người mở rộng lòng bồ đề. Điều ấy ai ai cũng làm được, bởi “Bồ đề giác tính, ai nấy viên thành”, “trí tuệ thiện căn, người người đầy đủ”. “Người chưa hiểu chia bừa làm tam giáo, giác ngộ rồi cùng thấu một chữ tâm. Nếu hay phản chiếu hồi quang, đều được rõ tính thành Phật” (Phổ khuyến phát bồ đề tâm).

          Trần Thái Tông thực hiện phương thức truyền đạo với một tinh thần “khai phóng” (chữ dùng của Nguyễn Lang), ngoài hình thức trực tiếp tỏ bày quan điểm, ông còn sử dụng phương pháp vấn đáp thông qua các “thoại đầu”được rút ra từ kinh sách Phật giáo. Niêm tụng kệ, Ngữ lục vấn đáp môn hạ là tác phẩm thực hiện cách truyền thụ đó. Chẳng hạn bàn về hữu vô, ông dẫn công án về sư Triệu Châu. Có đệ tử hỏi Triệu Châu “Con chó có Phật tính không?”, sư đáp “Không!”. Lại hỏi nữa, sư đáp “Có!”. Lần khác cũng vẫn Triệu Châu nói về Phật: “Phật vàng không qua lò, Phật gỗ không qua lửa, Phật bùn không qua nước, Phật thật ngồi trong nhà”, Thái Tông kết luận:

                               Võng Xuyên phong cảnh đã vào tranh,

                               Ngày ấy Vương Duy tự nổi danh.

                               Uổng phí mực son nơi khó vẽ,

                               Trời cao, gió mát với trăng thanh.

          Giải về “đại ý Phật pháp”, Thái Tông dẫn câu hỏi của Thiền sư Hành Tư, học trò Lục tổ Tuệ Năng: “Giá gạo ở Lư Lăng ra sao?”, và ông nêu một hình tượng:

                               Bóng trúc quét thềm, bụi chẳng động,

                               Vành trăng xuyên biển, nước không nhăn.

          Như vậy Phật pháp là một bản chất tĩnh lặng, mọi sự lý giải, mọi diễn đạt bằng ngôn từ đều bất lực, như bóng trúc, bóng trăng dù có “quét thềm”, “xuyên biển” thực chất cũng không thể tác động gì đến bản chất sự vật. Thậm chí dù nghĩ rằng mình đã đạt được trình độ hiểu “đạo” là “tâm không” thì cái “tâm không” chấp trước ấy vẫn chưa phải là giác ngộ, vẫn còn “cách đạo muôn trùng cửa quan!”...

          Thông qua những câu chuyện, những lời đối đáp “khó hiểu”, kẻ nói xuôi người nói ngược, Thái Tông muốn dắt dẫn học trò phải tự nghiền ngẫm, suy tư để đạt tới sự giác ngộ tự thân, để hiểu được điều cốt yếu: tinh thần Thiền tông là không được bám víu vào khái niệm, phải lấy cái tâm mà lĩnh hội; mỗi người mỗi vật đều có Phật tính, “Phật ở trong lòng. Lòng lặng lẽ mà hiểu thì đó chính là chân Phật” (Thiền tông chỉ nam tự). Con người ta phải tuỳ theo tư chất của mình mà tìm con đường riêng đi tới giác ngộ:

                               Đây, đó cùng rung một điệu cầm,

                               Lòng riêng nhắn nhủ bạn tri âm.

                               Mây “không” trăng “có” tuy cùng dạng,

                               Khác ấy sơn cao và thuỷ thâm.

                               Hừ!

                               Chạy vạy suốt ngày trong bụi đỏ,

                               Trong nhà, của báu có không hay.

                               Hừ!

                               Buông tay, không dựa, tính phơi bày,

                               Thuyền ẩn hoa lau, chài ngủ say.                            

Đó là “Một con đường tiến lên” (Phổ thuyết hướng thượng nhất lộ) để đạt đến giác ngộ (tuệ), thoát khỏi vô minh. Con đướng ấy hoàn toàn không dễ. Vì vậy người tu hành cần đến những biện pháp hỗ trợ, tu tập, đó là thụ giới, thiền định, niệm Phật. Nhưng để có thể niệm Phật và thiền định được kết quả, người tu hành còn cần đến những biện pháp tỉ mỉ và một tinh thần siêng năng, cần mẫn. Phần thứ hai của bộ sách, Thái Tông dành để hướng dẫn những biện pháp tu tập cụ thể. Người tu hành phải thực hiện sáu khoá lễ trong một ngày đêm, gọi là Lục thì sám hối khoa nghi. Các thì ứng với các khoảng thời gian cố định trong một ngày đêm: sáng sớm, giữa trưa, lúc mặt trời lặn, chập tối, nửa đêm, lúc tang tảng sáng. Mỗi khoá lễ đều có các bài: kệ thức tỉnh chúng sinh, bài khấn dâng hương, kệ dâng hoa, kệ dâng hương, lời tâu bày, lời sám hối, (mỗi thì sám hối một tội, lần lượt từ mắt đến mũi, tai, lưỡi, thân, ý), kệ khuyên mời, kệ tuỳ hỷ, kệ phát nguyện và kệ vô thường. Đọc năm điều răn và sáu điều sám hối, ngoài tinh thần về Phật giáo còn thấy rõ sự am hiểu về tâm lý con người và ý thức trách nhiệm của Thái Tông trên cương vị một ông vua. Răn đừng mê đắm sắc đẹp, ông viết: "Tóc mượt lưng ong dễ khiến mịt mờ tâm tính; mặt hoa da phấn dễ xui rời rã tinh thần. Mắt đưa lấp lánh như dao, ai không đứt ruột; lưỡi uốn ngọt ngào tựa sáo, hết thảy nghiêng tai. Người đắm đuối nghĩa tình xa bỏ, kẻ ham mê đạo đức tiêu tan. Trên thì phong giáo đắm chìm, dưới thì cửa nhà táng loạn" (Giới sắc văn ).

Răn đừng uống rượu, ông nêu rõ tác hại của rượu: "Hoặc điếm chợ huyên thiên, hoặc ngõ đường lảo đảo. Chửi trời mắng đất, chê Phật gièm tăng. Miệng lảm nhảm mà hát ca, thân loã lồ mà nhảy múa. Chẳng riêng tiếp Phật cúng dàng những để khăn thâm lệch lạc, hại thân mệnh cũng từ đấy mà ra, mất nước nhà cũng từ đây mà đến." (Giới tửu văn).

Nói về ý nghĩa của nghi thức lễ Phật sám hối sáu thì trong ngày do chính tay mình soạn ra một cách vắn tắt, ông viết: “Cho nên không dùng những lời phù phiếm nhét cho đầy quyển, mà khiến người đọc đều vui, người nghe dễ hiểu. May chi những kẻ có lòng tin ngày đêm nảy sinh lòng chí thành, dùng khoa nghi này làm phương tiện lễ sám”. Bởi vì cái bản tính sẵn có của chúng sinh vốn là thanh tịnh tròn đầy, trong trẻo như bầu trời không gợn một mảy bụi. Những điều xấu ác mắc phải chẳng qua là do ý niệm sai lầm chợt nổi lên, so với bản chất trong sạch của con người cũng chỉ như chiếc bọt nước mong manh, rất dễ khắc phục. Do đó lòng thành quy y lễ sám sẽ nhanh chóng giúp họ thân tâm thanh tịnh, trắng trong như xưa, như “gió yên sóng lặng, bụi sạch gương trong”; “Lòng ác trước như bóng mây che khuất mặt trăng; dạ thiện sau xuất hiện như ngọn đuốc làm tan đêm tối” ...Viết Khoa nghi lễ Phật sám hối sáu thì trong ngày, Thái Tông nhằm thực hiện ước nguyện “tự làm lợi mình để làm lợi người”, ông không sợ người sau chê cười chìm đắm trong “mối khác” (dị đoan), mà tự nguyện làm người khởi xướng: “Không vì ngõ tía hoa cười sớm, sao có oanh vàng đậu liễu xanh”.    

Trần Thái Tông quan niệm Phật và Thánh đều cùng một đường, chỉ khác nhau trách nhiêm cụ thể. Trong Thiền Tông chỉ nam tự ông đã viết:

"Trẫm thầm nhủ: Phật không chia nam bắc, đều có thể tu mà tìm; tính người có trí ngu, cùng nhờ giác ngộ mà thành đạt.Vì vậy phương tiện dẫn dụ đám người mê muội, con đường làm sáng tỏ lẽ tử sinh, ấy là đại giáo của đức Phật. Đặt mực thước cho hậu thế, làm khuôn mẫu cho tương lai, ấy là trách nhiệm của tiên Thánh. Cho nên Lục Tổ có nói: "Bậc đại thánh và đại sư đời trước không khác gì nhau". Như thế đủ biết đại giáo của đức Phật ta phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời. Thế thì lẽ nào ngày nay trẫm không coi trách nhiệm của tiên thánh là trách nhiệm của mình, giáo lý của đức Phật là giáo lý của mình ư?". Bàn về chính giác, Trần Thái Tông cũng lại đề cập đến quan niệm các giáo đồng nguyên. Theo ông, hệ tư tưởng Nho Phật đều thấu triệt bởi chữ tâm. Vì thế thiện tâm chính là tư tưởng Phật giáo mà Thái Tông xây dựng và theo đuổi. Hoà đồng và thiện tâm, vì thế, chính là nguồn gốc của tư tưởng “hoà quang đồng trần” của Phật giáo thời Trần.

Trong các lãnh tụ Thiền học đời Trần, chỉ có Thái Tông là người chú ý truyền dạy cách tu tập. Không phải ông không hiểu Thiền tông vốn chủ trương vô ngôn, lấy tâm truyền tâm nhưng ông lại hiểu rằng đối với chúng nhân, trên con đường giải thoát rất cần có "thang bậc nâng đỡ " (Niệm Phật luận). Do vậy, niệm Phật, tụng kinh, trì giới, lễ Phật, dâng hương..., chính là những bậc thang, con thuyền, chiếc bè đưa chúng sinh đến bờ giác. Còn đến khi đã hiểu được "Phật là không mà Tổ cũng là không thì giới chẳng cần trì, kinh chẳng cần tụng"(Phổ thuyết sắc thân). Đây cũng chính là điều mà thiền sư Viên Chiếu đời Lý đã từng nói :

Qua sông phải dùng bè,,

Đến bến bỏ thuyền ghe".

 (Tham đồ hiển quyết).

          Khoá hư lục là một tác phẩm Thiền học có nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng và mở đầu cho truyền thống tốt đẹp của Phật giáo đời Trần. Thông qua việc giải nghĩa tên tác phẩm - Khoá hư lục - Nguyễn Lang đã chỉ ra được nhiều điều chân xác về tư tưởng Thiền học của Trần Thái Tông: “Chữ khoá (trong khoá hư) có nghĩa là hành trì học tập. Chứ có nghĩa là với thái độ không cố chấp vào hình thức giáo điều. Nhu yếu của Khoá là việc siêng năng thực tập Thiền học không để cho thời gian luống qua; nhu yếu của là thái độ phá chấp tự do không kẹt vào khái niệm và hình thức. Hai nhu yếu tổng hợp lại thành tinh thần thực tiễn và khai phóng của đạo Phật: thực hiện một cách tinh tiến đạo lý giác ngộ trong tinh thần phá chấp tự do và vô niệm.” (Việt Nam Phật giáo sử luận, Sđd, tr. 261) Đó cũng là đặc trưng của Phật giáo đời Trần, ở đó thể hiện tư tưởng minh triết cũng như quan niệm đạo đức, nhân văn mà Trần Thái Tông tha thiết muốn xây dựng nhân cách con người Đại Việt thời ông. Và đó cũng chính là tinh thần nhập thế của Phật giáo, Thiền học Trúc Lâm thời đại Đông A nhà Trần.

                                                                                              Ô Đồng Lầm - Hà Nội,  tháng 3- 2021

                                                                                   

           

 



[1] Nh÷ng tµi liÖu vÒ sö trong bµi chóng t«i theo §¹i ViÖt sö ký toµn th­ (§VSKTT), b¶n ChÝnh Hoµ thø 18 (1697), Nhµ xuÊt b¶n Khoa häc x· héi (Nxb.KHXH), Hµ Néi, 1985. Câu trích trên ở TËp II, tr.5

        Bài này đã trích đăng mt phn trong Trn Thái Tông, đường đời no đạo Gương mt văn hc Thăng Long (b mi), Nxb Hà Ni, 2010.

[2] Những dẫn chứng về Khoá hư lục trong bài đều trích từ, Tập 2, Quyển thượng, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, Nxb Khoa học xã hội công bố năm 1988

[3] Nguyn Lang, Vit Nam Pht giáo s lun, in ln th 3, Nxb. Văn hc, Hà Ni, 1992, tr. 262.

 

 

 

 

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2022

HÀO KHÍ ĐÔNG A TỎA SÁNG CỦA TRẦN VĂN NHƯỢNG

TRƯƠNG SỸ HÙNG

 

Những câu chữ khúc triết, những lời văn tâm huyết với tình yêu non sông đất nước, với cách viết bộc trực thẳngthắn, tướng quân Trần Quốc Tuấnđã bày tỏ nỗi lòng của một vị tướng chỉ huy quân sự tài ba lỗi lạc, tinh thông binh pháp, não luyện thuật ứng xử giữa các tầng lớp tướng lĩnh, binh sĩ, tri thức, nhân quần trongbài Hịch tướng sĩ... “ta cùng các ngươi sinh phải thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan. Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thoả lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam vương mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về sau!

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.

…Nay ta chọn binh pháp các nhà hợp làm một quyển gọi là Binh thư yếu lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy của ta, thì mới phải đạo thần chủ; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, tức là kẻ nghịch thù.

Vì sao vậy? Giặc với ta là kẻ thù không đội trời chung, các ngươi cứ điềm nhiên biết rửa nhục, không lo trừ hung, không dạy quân sĩ; chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây sau khi giặc giã dẹp yên, muôn đời để thẹn, há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa?Ta viết ra bài hịch này để các ngươi biết bụng ta.

Nếu Trần Quốc Tuấn sinh năm 1231, thì luận văn quân sự Hịch tướng sĩ được ông viết năm 54 tuổi. Vượt qua mốc “ngũ thập tri thiên mệnh”; là người có nguồn gốc xuất thân họ Trần ở vùng Sơn Nam Hạ xưa, ông thấu hiểu tâm lý cộng đồng người Việt, thấu hiểu cuộc sống mưu sinh của cư dân nông nghiệp vùng ven biển, sông ngòi chằng chịt; muôn người như một, luôn phải vững tay chèo lái giữa trời nước mênh mông và thực hành “dĩ nông vi bản”, cần cù lao động, duy trì mô hình cư nghiệp bán ngư bán canh để bảo vệ và xây dựng quê hương. Cuộckháng chiến chống xâm lược Mông Nguyên là một cuộc chiến tranh vệ quốc của quân dân Đại Việt. Từ năm 1258 đến năm 1288 khoảng thời gian gần 3 năm 9 tháng, quân xâm lược NguyênMông chia làm 3 đợttấn công Đại Việt. Xen giữa các đợt giao chiếncó các hoạt động ngoại giao. Kết thúc cuộc chiến, Đại Việt giữ vững nền độc lập; trên danh nghĩa triều cốngnhà Nguyên để tránh xung đột kéo dài.Chiến thắng giặc xâm lược Nguyên – Môngở thế kỹ XIII của quân dân Đại Việt được xem là một trang sử hào hùng nhất;đó là chiến công vang dội của vương triều Trần.

   Năm 1285 và năm 1287,Trần Nhân Tông cử Trần Quốc Tuấn làm Tiết chế thống lĩnh các đạo quân, trực diện đánh giặc. Cả hai lần cầm quân xung trận, đội quân của đại tướng Trần Hưng Đạo đều giành thắng lợi vẻ vang.Khoảng 10 năm sau, vào đời vua Trần Anh Tông (1276 – 1320), Trần Quốc Tuấn nghỉ hưu trí ở địa danh Vạn Kiếp (nay thuộc x.Hưng Đạo, h. Chí Linh, t. Hải Dương).

     Danh tướng kiệt xuất Trần Quốc Tuấn qua đời, nhân dân Đại Việt tôn thờ ông là Hưng Đạo vương – đề cao tài năng võ nghệ của một vĩ nhân trong dòng tộc Trần, là đức thánh Trần và lập đến thờ cúng, cầu đảo khắp nơi.Cả cộng đồng dân tộc Đại Việt, cả dân tộc Việt Nam truyền đời tôn vinh, ngưỡng mộ.Đặc biệt đến thời hiện đại, năm 1992, hội đồng khoa học hoàng gia Anh đã vinh danh 10 nhân vật quân sự lỗi lạc nhất thế giới trong mọi thời đại, trong đó có hai vị tướng kiệt xuất của Việt Nam: Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thời Trần đại tướng Võ Nguyên Giáp thời đại Hồ Chí Minh.

     Thời đại nhà Trần được biết đến là một trong những thời đại hào hùng nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam; với chiến công ba lần đánh thắng giặc Mông - Nguyên xâm lược, làm nên hào khí Đông A vang dội trong lịch sử nhân loại. Để có được thành tựu xuất sắc, điển hình ấy, các vua quan nhà Trần đã biết đoàn kết, huy động tiềm năng nội lực của các tầng lớp nhân dân ở khắp các địa bàn cư trú, nơi hang cùng ngõ hẻm, khắp các chợ vùng quê, dốc sức, đồng lòng tham gia cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ non sống đất nước..Một bậc tri thức lớn như Trương Hán Siêu người làng Phúc Thành, huyện Yên Ninh, lộ Trường Yên, trước là môn khách của Trần Quốc Tuấn, sau được Trần Quốc Tuấn tiến cử vào triều đình. Năm 1308 vua Trần Anh Tông ban chức Hàn lâm học sĩ. Các triều vua từ Anh Tông đến Dụ Tông, ông được giữ nhiều chức vụ quan trọng.Trí lực mẫn tiệp, minh triết của ông đã dốc bầu tâm sự trong bàiBạch Đằng giang phú.Một người đan sọt làng Phù Ủng là Phạm Ngũ Lão đã Tỏ lòng: Múa giáo non sông trải mấy thu/ Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu/ Công danh nam tử còn vương nợ…Một nhà ngoại giao - thi sĩ Nguyễn Trung Ngạn không nguôi nhớ từng khung cảnh đồng quê, từng món ăn dân dã, trên đường đi sứ… Đấy là dẫn liệu ba danh nhân ở ba dòng họ khác nhau, toàn tâm toàn chí, ký thác đời mình với nhà Trần đã là tiêu biểu cho ý chí sắt đá một lòng giữa vua, quan và các tầng lớp dân chúng đương thời để đánh giặc cứu nước và xây dựng đất nước.

Trong khoảng 175 năm (1225 - 1400), vương triều Trần đã làm nên một trang sử hào hùng, vẻ vang trong lịch sử dựng nước và giữ nước của quân dân Đại Việt. Cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông – Nguyên thắng lợi, đã khẳng định sức mạnh trường tồn, dẻo dai của cộng đồng dân tộc Đại Việt, mở ra một kỳ nguyên mới trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Vương triều Trần là một thời đại anh hùng. Khí phách anh hùngấy thể hiện cao nhất với những chiến công hiển hách, là thời đại mà nền văn hiến Đại Việt được củng cố; xây dựng và phát triển vượt trội với những thành tựu rực rỡ nhất.

Trải 14 đời vua triều nhà Trần, có hơn 100 năm thịnh trị (1225 - 1329). Với 5 đời vua: Trần Thái Tông (1225 - 1258), Trần Thánh Tông (1258 - 1278), Trần Nhân Tông (1279 - 1293),  Trần Anh Tông (1293 - 1314), Trần Minh Tông (1314 - 1329); vương triều Trần đã để lại một di sản văn hóa vô cùng to lớn và độc đáo trong mọi lĩnh vực: Quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, xác lập danh xưng quốc gia Đại Việt có nội lực hùng mạnh nhấtchâu Á đương thời tạo lập được HÀO KHÍ ĐÔNG A.

Kinh thành Thăng Longđã chứng kiến nhiều biến động lịch sử,khi Việc chuyển ngôi vua cuối cùng triều Lý là Lý Chiêu Hoàng cho chồng là Trần Cảnh năm Ất Dậu (1225) mở đầu một kỷ nguyên mới trong lịch sử Đại Việt thật phù hợp với quy luật, có tình có lýnhờ sự sắp xếp khôn ngoan của Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung.Nhìn lại sự kiện này, sử gia xưa cóngười phê phán Trần Thủ Đ là thoán đoạt, bất trung. Với cái nhìn biện chứng của các sử giasau này thìhành động của Trần Thủ Độ là kịp thời, tinh nhạy và sáng suốt, phù hợp với thực tiễn lịch sử. Trước hoàn cảnh đất nước lâm nguy, giặc ngoại xâm Mông – Nguyên sắp tràn sang xâm lược Đại Việt. Vua Lý Cao Tông ăn chơi sa đọa, dân tình đói khổ, loạn lạc nổi lên khắp nơi. Đội quân Quách Bốc dấy lên (1209) vua sợ, bỏ kinh thành chạy vào núi rừng Quy Hoá.Lý Huệ Tông (1212 - 1224)dẫm lên vết xe đổ của vua cha, mắc bệnh thần kinh phải thác thân vào chùa, phó mặc triều chính, dù Trần Tự Khánh Trần Thủ Độ đã hết lòng phò tá.Thực chất vương triều nhà Lý đã quá ruỗng nát, không thể dựng lại được.Bàn giao quyền lực quốc gia cho nhà Trần đúng lúc quy luật tất yếu phù hợp với sự đòi hỏi bức xúc của lịch sử.

Nhà Trần luôn chú ý đến giáo dục, đào tạo thế hệ kế cận. Năm 1247mùa xuân, tháng 2, mở đại khoa, ban cho Nguyễn Hiển đỗ Trạng Nguyên, Lê Văn Hưu đỗ Bảng Nhãn, Đặng Ma La đỗ Thám Hoa”, cả ba vịđều là những danh nhân, được tôn thầnđể dân chúng ghi ơn các vị có công với nưc. Các khóa thi cao học sau này có Thám hoaTrần Đạo Tái, được cử làm tướng mang 3 vạn quân đi giúp Chăm Pa, đánh bại Toa Đô.Trạng nguyên Mạc ĐĩnhChi, người nhỏ bé, xấu xí nhưng vẫn được đi sứ sang nhà Nguyên, được phong là Lưỡng quốc Trạng nguyên. Nguyễn Sỹ Cố, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh, Chu Văn An… đều là những nhà khoa bảng nổi tiếng, những văn thần kiệt xuất ở vương triều Trần. Trong vương gia, tướng Trần Quốc Toản mới 16 tuổi đã giương cao cờ "Phá cường địch báo Hoàng Ân", nhiều lần đánh quân Thoát Hoan thua đau tan tác.

Tháng 12 năm Giáp Thân (1284) vua Trần mở Hội nghị Diên Hồng, triệu các bô lão, ban yến hỏi kế đánh giặc. Muôn người đồng thanh một tiếng ĐÁNH, thể hiện ý chí ý dân là ý trời . Thực ra nhà vua đã biết trước được ý đồ xâm lược của giặcngoại xâm. Việc làm có ý nghĩa lớn lao tăng thêm sự nhất trí cao trong khối đại đoàn kết dân tộc, và do đó nhà Trầnđã giành thắng lợi.

Trên phương diện ngoại giao, nhà Trần có những kế sách rất sáng suốt, từ việc vua Trần tống giam sứ giả của giặc, đến việc đón sứ giả từ biên giới về kinh thành Thăng Long,việc tiễn sứ giả về nước và làm thơ ca ngợi, uống rượu giao hoan của Trần Quang Khải; việc tiếp Sài Thung của Trần Hưng Đạo, tại sứ quán khi hắn  hống hách, ngông nghênh không chịu vào yết kiến vua, khi quân hầu của hắn trích mũi giáo vào đầu ngài, máu chảy ròng ròng trên má,ngài vẫn bình thản ung dung tiếp chuyện sứ giả làm cho chúng kinh ngạc, kính phục. Phong cách đàng hoàng đĩnh đạc đó thể hiện bản lĩnh siêu hạng, biết cương nhu đúng lúc, đúng lẽ để đạt được mục đích chính đáng của mình.Sự kiện làm dư luận Kinh thành xao xuyến là việc tiễn đưa công chúa Huyền Trân sang làm hoàng hậu của vua Chế Mân nước Chămpa, thu hai châu Ô và châu Lý thống nhất hòa nhập vào Đại Việt, thực hiện kế sách "hoà Nam, cự Bắc", đây là một phương sách rất khôn ngoan để bảo toàn lãnh thổcủa triều đình.

 Trong 3 lần kháng chiến chống quân Mông - Nguyên, từ chủ trương quyết chiến chiến lược của triều đình, đến hầu hết các trận chiến đều diễn ra dọc trên dòng sông Hồng. Từ Đông Bộ Đầu đến Thiên Trường. Ngay tại kinh thành Thăng Long, việc sơ tán cả một vương triều từ Thăng Long về Hưng Hoá về vùng Sơn Nam Hạ được thực hành an toàn. Diệu kế "vườn không nhà trống" đã điễn ra rất tài tình mau lẹ. Chủ động để tiền tài, vật lực, nhân lực không rơi vào tay giặc, gây cho lũ ngoại xâm sự bất ngờ nghi hoặc là nh sự dẫn dắt chỉ huy của Trần Thị Dung và Trần Thủ Độ góp phần quyết định thắng lợi chung của cả vương triều.

Tạo được thế chủ động ngay từ đầu, vương triều Trần đã đào luyện được những minh quân, tướng lĩnhVĂN VÕ SONG TOÀN như Trần Thủ Độ, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải… Khi vận nước lâm nguy, họ dám đương đầu chịu trách nhiệm với vua, với nước như những lời tâm huyết:"Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo"(Trần Thủ Độ); "Bệ hạ muốn hàng, trước tiên hãy chém đầu thần đi đã" (Trần Quốc Tuấn)Rất nhiều, rất nhiều  tướng lĩnh các cấp trong quân đội nhà Trần đều rất trung thành và tài giỏi. Điều đókhẳng định rằng triều Trần đã có đủ một đội ngũQuân minh, Thần trung, Phụ tử, Tử hiếu, Phật từ bi nhập thế, Dân lương thiện…

Thời Trần củng cố Văn Miếu – đại học đường đầu tiên của Đại Việt để đào tạo đại học, cao học khoa học xã hội nhân văn; thành lập Giảng võ đường để đào tạo  những tướng lĩnh tài ba, tại kinh đô Thăng Long.

Vương triều Trần là thời đại vàng son rực rỡ nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam.Nếu tách riêng lịch sử Phật giáo Việt Nam,cần thấy rõ vai trò của các sư vãitrong suốt ba lần chiến thắng quân xâm lược MôngNguyên và củng cố đất nước sau chiến tranh. Tự tưởng Phật giáonhập thế khi đất nước có giặc ngoại xâm và cả sự xuất thế vào chùa của hoàng đế, để tạo ra một trường phái mới là đóng góp vượt gộp, xây dựngnền tảng đạo đức thấm nhuần tinh thần yêu nước, đậm bản sắc văn hóa PhẬt giáo Đại Việt.

Vua Trần Thái Tông là người tinh thông dịch lý Nho, Phật, Lão, sùng tín đạo Phật, lấy giá trị tinh thần minh triết của cả ba loại hình tư tưởng bổ trợ hài hòa cho nhau. Điều quan trọng hơn cả, vị quốc sư Trần Thái Tông đã khởi xướng lập ra trường phái Phật giáo Việt Nam thời Trần. Các tác phẩm Khoá hư lục, Cư trần lạc đạo phúnhắc lại lời của quốc sư Viên Chứng, trụ trì chùa Vân Yên tại quần thể chùa Yên Tử: "Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm lặng mà biết, thì đó chính là Phật."Như vậy Phật giáo Việt Nam, Thiền phái Đại Việt thời Trần đã dung nạp tất cả tinh hoa văn hoá và tín ngưỡng Việt Nam tạo nên một nguồn sức mạnh tâm linh mới; kết thành sức mạnh nội lực trường tồn cho dân tộc Việt Nam; khẳng định vị trí: độc lập, tự chủ, tô đậm bản sắc văn hoá. 

 

Thời đại Hồ Chí Minh, thời kỳ dân tộc Việt Nam trực tiếp tham gia hai cuộc kháng chiến kiến quốc; nhất là trong công cuộc đổi mới đương đại;  hầu hết con cháu, anh em họ Trần hiện đang cư trú trên đất nước Việt Nam, hay làm ăn ở nước ngoài đã luôn luôn chung lung đấu cật với nhân lực của tất cả các dòng họ khác, ăn ở xen kẽ lẫn nhau,đều tự nguyện trở thành nguồn nhân lực bổ sung kịp thời.

Đương đại, họ Trần có những người con xuất sắc như Tổng bí thư Trần Phú, giáo sư Trần Văn Giàu, Trần Huy Liệu, các danh tướng Trần Văn Trà, Trần Nam Trung… Ở thời kỳ đổi mới có chủ tịch Trần Đức Lương và các giáo sư, tiến sĩ, các tướng lĩnh, các anh hung, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và các văn nghệ sĩ, các doanh nhân tiêu biểu của họ Trần đang tiếp nối truyền thống vẻ vang của tiên tổ, cha ông…Lớp lớp những người con của họ Trần đang học tập, làm việc để giữ vững nề nếp gia phong, xứng đáng là hậu duệ của một dòng họ từng lập được chiến công oanh liệt thời Trần, làm nên lịch sử HÀO KHÍ ĐÔNG A muôn đời tỏa sáng.

Đúng như chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản diễn ca Lịch sử nước ta năm 1942 đã viết:

Đời Trần văn giỏi, võ nhiều

Ngoài dân thịnh vượng, trong triều hiển minh.