Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2019

VIỆN BIG DATA LẬP DỰ ÁN ĐẦU TIÊN LÀ NGHIÊN CỨU ZEN NGƯỜI VIỆT


 
Nhà thơ Vũ Quần Phương cổ xúy giáo sư Vũ Hà khởi động dự án
Giáo sư Vũ Hà văn chia sẻ với Tuổi Trẻ Online về dự án đầu tiên trên cương vị giám đốc khoa học của Viện Big Data sau 3 tháng viện này công bố thành lập.   

Nghiên cứu những sản phẩm "không ai làm hộ"

* Việc Viện Big Data chọn dự án nghiên cứu về bộ gen người Việt là dự án mở đầu đang gây không ít bất ngờ và băn khoăn của giới khoa học vì dường như tên tuổi giáo sư khiến người ta thường liên tưởng đến những đề tài nghiên cứu về tính toán, toán học?

- Dự định của tôi khi bắt đầu công việc với Viện Big Data là sẽ triển khai những nghiên cứu có khả năng mang lại ứng dụng cao cho xã hội, chúng tôi không hẳn đặt trọng tâm vào nghiên cứu lý thuyết hay khoa học cơ bản. Vả lại, trong khoa học hiện đại, mô hình toán học sẽ luôn có mặt trong tất cả các nghiên cứu.

Thực ra, viện chúng tôi đang có nhiều dự án, trong đó nghiên cứu về bộ gen người Việt là dự án đầu tiên công bố chính thức. 

Tôi đã gặp gỡ, trao đổi với nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước để tìm hướng đi và nhận được nhiều gợi ý, nhiều lựa chọn nhưng đây là dự án được quyết định công bố đầu tiên vì nghiên cứu này phù hợp với định hướng chung của lãnh đạo tập đoàn.

Về công nghệ, trên thế giới có rất nhiều hướng nghiên cứu. Với hoàn cảnh Việt Nam hiện tại, chúng tôi hướng tới các tiêu chí: tận dụng được những đột phá trong công nghệ thế giới thời gian gần đây; tận dụng cơ sở dữ liệu của người Việt; hướng tới những vấn đề mà nếu người Việt mình không làm thì không ai giải quyết cho mình và cuối cùng là hướng tới những ứng dụng mang lại lợi ích cho cộng đồng.

Dự án nghiên cứu bộ gen người Việt đạt được cả bốn mục tiêu này.

Khi thực hiện dự án này, chúng tôi sẽ giải trình tự và phân tích hàng nghìn hệ gen người Việt, do đó kết quả của nghiên cứu sẽ là dữ liệu hệ gen đặc trưng của chúng ta. Đây rõ ràng là vấn đề mà mình không làm thì không ai có thể làm hộ mình. 

Cuối cùng là kết quả mang lại, chúng ta sẽ có cơ sở dữ liệu phục vụ các nghiên cứu về gen có thể ứng dụng trong việc xác định nguyên nhân gây bệnh và đáp ứng thuốc theo đặc trưng hệ gen. Từ đó hỗ trợ việc chẩn đoán và điều trị cho người Việt.


GS Vũ Hà Văn và các thành viên tham gia chương trình "Sách hóa nông thôn"

* Có vẻ mục tiêu của dự án khá tham vọng. Vậy giáo sư đã có lộ trình cụ thể để triển khai dự án như thế nào?

- Dự án sẽ thực hiện theo ba bước. Thứ nhất, lấy mẫu trên khoảng 1.000 người Việt khỏe mạnh. Thứ hai, giải trình tự và phân tích dữ liệu. Các bước này có thể làm song song mà không cần đợi đủ 1.000 mẫu mới triển khai.

Ví dụ, khi có khoảng 50 mẫu là có thể bắt đầu quá trình giải trình tự và phân tích. Sau khi phân tích xong, các cơ sở dữ liệu biến dị di truyền tham chiếu được hình thành. Đây sẽ là nền tảng cho các nghiên cứu ứng dụng tiếp theo.

Thứ ba, làm nghiên cứu ứng dụng, ví dụ nghiên cứu về nguyên nhân di truyền của từng bệnh, khi đó ta sẽ phải lấy tiếp mẫu những người bệnh, sau đó tìm ra các gen liên quan đến bệnh, từ đó có thể xây dựng các kit xét nghiệm để chẩn đoán bệnh.

Việc lấy mẫu người bệnh cũng có thể làm song song với việc lấy mẫu người khỏe. 

Ngoài nghiên cứu nguyên nhân di truyền của bệnh phục vụ việc chẩn đoán theo đặc trưng hệ gen, chúng tôi cũng sẽ thực hiện các nghiên cứu xác định đặc trưng hệ gen liên quan đến đáp ứng thuốc. Ví dụ xác định xem biến dị nào liên quan đến phản ứng có hại của thuốc.

Nghiên cứu này có thể hỗ trợ công tác điều trị bệnh...

* Tại sao dự án của giáo sư ấn định ở con số chọn gen của 1.000 người, số mẫu đó đã đủ để giải mã bộ gen người Việt? 1.000 người này sẽ được chọn như thế nào, thưa giáo sư?

- Con số 1.000 mẫu gen tương đối lớn để làm cơ sở dữ liệu cho môt số nghiên cứu có bản về sau. Hiện ở Đông Nam Á với quy mô 1.000 người đã là một đề tài tầm cỡ, không phải nước nào cũng làm được.

Trước tiên họ là người tình nguyện tham gia nhưng phải đáp ứng các tiêu chuẩn của nghiên cứu. Khi những người tình nguyện đăng ký tham gia, chúng tôi sẽ phỏng vấn xem từng người có phù hợp tiêu chuẩn lựa chọn không. Một số xét nghiệm khác cũng có thể được thực hiện để đảm bảo chất lượng mẫu.

Tất cả những người tham gia đều phải ký vào văn bản đồng thuận tham gia nghiên cứu với các quyền lợi và nghĩa vụ rõ ràng. Thông tin cá nhân của những người tham gia nghiên cứu sẽ được bảo mật. 

Việc chọn ít nhất 1.000 người khỏe này về góc độ chuyên môn đủ để xác định được biến dị nào là phổ biến/hiếm. 

Sau khi có cơ sở dữ liệu của 1.000 người khỏe làm tham chiếu, muốn ứng dụng vào nghiên cứu bệnh nào thì tiếp tục phải chọn ra những người bị bệnh đó. 

Việc chọn mẫu bệnh để nghiên cứu cũng phải đảm bảo những tiêu chí dưới sự tư vấn của chuyên gia thuộc lĩnh vực bệnh đó.

Nghiên cứu về gen là nghiên cứu tương đối mới và đắt. Cách đây 10 năm, nếu làm dự án với quy mô như thế này, phải các nước có tiềm lực khoa học rất lớn như Anh, Mỹ mới làm được vì phải tốn hàng tỉ USD. 

Vào thời điểm này, chúng ta có lợi thế khoa học đã phát triển nhanh đến mức có thể tiến hành với chi phí ít hơn rất nhiều.

GS Vũ Hà Văn và các thành viên chính trong nhóm nghiên cứu giải mã gen người Việt tại Viện Big Data

* Giới khoa học Việt Nam cũng đã từng có những dự án nghiên cứu về gen người Việt nhằm mục đích chữa bệnh, dự án nghiên cứu của giáo sư có dự định sẽ kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có không?

- Tất nhiên chúng tôi sẽ học hỏi kinh nghiệm những người đi trước và kế thừa các nghiên cứu của họ. 

Theo tìm hiểu của chúng tôi, các đề tài nghiên cứu về gen ở Việt Nam trước đây nhỏ hơn, với quy mô phân tích khoảng vài chục bộ gen, hoặc làm vài gen trên một bệnh cụ thể.

* Đây là hướng nghiên cứu rất mới, không chỉ với Việt Nam mà với cả thế giới. Đặt mục tiêu cao như vậy cho dự án, viện có giải quyết được bài toán nhân lực khi mà nhân lực nghiên cứu lĩnh vực này ở Việt Nam còn rất ít, thưa ông?

Chúng tôi sẽ hợp tác với nhiều bệnh viện và những viện nghiên cứu, trường đại học ở cả Viẽt Nam và nước ngoài cũng như mời thêm các chuyên gia trong và ngoài nước theo từng nhu cầu và giai đoạn dự án.

Giải trình tự và phân tích 1.000 hệ gen người là một khối lượng công việc rất lớn. Ngoài việc dành hơn 1 triệu USD, khoảng 25% kinh phí đầu tư cho dự án, để mua sắm hệ thống tính toán lớn, phần mềm phân tích, hệ thống lưu trữ, chúng tôi cũng đã triển khai đồng thời các bước chuẩn bị về đội ngũ nghiên cứu.

Hiện chúng tôi đã tập hợp được một số nhà khoa học trẻ giàu năng lực và rất nhiệt huyết về làm việc ở Viện, như các PGS. Lê Đức Hậu hay Lê Thị Lý - những gương mặt trẻ đầy triển vọng trong lĩnh vực tin sinh học.

Chúng tôi cũng đang hoạch định chương trình cử nghiên cứu viên đi đào tạo tại Mỹ, Đức, Nhật Bản, Singaprore và mời nhiều chuyên gia các nước tới tham gia, tư vấn cho dự án.

Cũng xin nói thêm trong khuôn khổ dự án nghiên cứu này, chúng tôi còn thực hiện chương trình đào tạo đội ngũ nhân lực lĩnh vực tin y sinh tương đối mới mẻ cho Việt Nam, bằng cách nhận một số nghiên cứu sinh vào làm việc tại viện. 

Qua đó, chúng tôi hi vọng hỗ trợ xây dựng nhân lực cho các viện nghiên cứu, trường đại học ở Việt Nam.


Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2019

NÓI THÊM VỀ ÔNG BẠN LÁNG GIỀNG XẤU BỤNG


Nhà thơ Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam.

Trò chuyện với Nhà thơ Trần Đăng Khoa

Nhà báo Hồng Minh thực hiện.

- Thưa ông Trần Đăng Khoa! Rất vui lại được trò chuyện với ông trong ngày đầu tuần này. Bạn đọc rất tâm đắc với bài báo của ông: “Nhắc lại: Biển Đông không phải ao nhà của Trung Quốc”. 

     - Vâng! Rất cám ơn bà và bạn đọc đã đồng hành cùng tờ báo của chúng ta.
     - Tại sao trong bài báo của mình, ông lại nói là: “Nhắc lại...”. 

     - Nhắc lại vì đây là chuyện đã nói rồi. Trò ngang ngược của Trung Quốc diễn ra thường xuyên và chúng ta đã cảnh cáo nhiều lần. Bản thân tôi cũng đã có đến cả trăm bài báo lên án Trung Quốc. Có bài tôi viết trực diện. Có bài trò chuyện với phóng viên. Thay đổi thế để bạn đọc dỡ tẻ. Cách tiếp cận chuyện thì cố gắng cho có vẻ mới chứ vấn đề lại cũ. Vì đó vẫn là những trò khiêu khích quấy nhiễu cũ rích của Trung Quốc.

     Trung Quốc không phải người bạn 4 tốt như họ vẫn thề thốt, rêu rao. Mà nói cho thật công bằng thì đó là ông láng giềng 4 xấu. Xấu đến tận cùng xấu. Trong khi họ cứ chửi các nước tư bản, lấy các nước tư bản làm con ngoáo ộp dọa ta, nhắc ta phải giữ vững định hướng Xã hội chủ nghĩa, Trong khi con ngoáo ộp tư bản còn tử tế gấp vạn lần Trung Quốc. Họ có lấn biển lấn đất của ai đâu. Họ sống rất nhân bản và thân ái với nhau. Như bài trước tôi nói, các nước tư bản hầu như không có biên giới, không có hải quan, từ nước nọ sang nước kia cứ thẳng một lèo, trong khi Trung Quốc lấn của ta từng mét đất, cướp 7 đảo của ta ở Trường Sa và cướp cả đảo Hoàng Sa. Đấy là hòn đảo lớn nhất của ta, lớn gấp chục lần đảo Trường Sa và đấy cũng là hòn đảo duy nhất có nước ngọt. Cha ông ta đã sống ở đó từ ngàn đời. Và không dừng ở đấy. Bao lần họ trắng trợn ra thông báo với cái gọi là “Lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông” trên phạm vi từ 12 độ vĩ Bắc đến hết cả Vịnh Bắc Bộ, bao trùm toàn bộ ngư trường truyền thống của ta. Họ đâm chìm thuyền đánh cá của bà con ta. Có bạn tốt nào lại như thế không? Họ còn rêu rao họ là Đối tác tốt, Láng giềng tốt. Họ tốt ở chỗ nào. Đường sắt trên cao Cát Linh Hà Đông họ là Đối tác đấy. Thật kinh hoàng. Chỉ có 13 km mà 16 năm không xong. Đã chết bao nhiêu người vì tai nạn khi làm con đường này. Chúng ta còn sống dở chết dở vì nó với đống nợ cao tày núi và đã phải trả nợ từ năm 2017 đến nay rồi, dù chưa sử dụng được và sẽ còn rất lâu mới sử dụng được. Tuyến đường này vẫn còn thiếu vốn để hoàn thành nhưng tôi nghĩ, chúng ta không nên chi thêm một xu nào vào cái công trình bẩn thỉu đó nữa. Nên để nguyên trạng làm bảo tàng ngoài trời. Bảo tàng cảnh báo về sự nguy hiểm của Trung Quốc và nhóm lợi ích đã tàn phá tan hoang đất nước.
     Người dân rất mong Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cho thanh tra toàn bộ dự án này và đưa vào lò tất cả những kẻ rước giặc vào phá đất nước. Vấn đề nóng nhất của chúng ta bây giờ là chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ chứ không phải đường cao tốc. Đường bộ từ Bắc vào Nam của chúng ta hiện rất tốt. Đường Trường Sơn Hồ Chí Minh khánh thành mấy chục năm nay đã phát huy được hết hiệu quả đâu. Hà cớ gì cứ phải gấp rút làm thêm đường mới nữa...

     - Ông đã từng nói một câu rất ấn tượng rằng, cái bi kịch lớn nhất của chúng ta là phải sống bên cạnh một kẻ rất hiểm độc mà không thể dọn đi đâu để ở được...

     - Đúng vậy. Các cụ bảo “Bán anh em xa mua láng giềng gần”. Láng giềng gần mà như họ thì làm sao yên được. Chúng ta không yên từ đời ông cha ta cho đến tận bây giờ. Ta sẽ khốn khổ và lụn bại nếu cứ phụ thuộc vào Trung Quốc. Tất cả những nước “đánh đu” với Trung Quốc đều thảm hại. Ghê rợ nhất nhất là Pon Pốt Yêng sa ri. Một loại hồn ma bóng quỷ mà họ dựng lên, chỉ nghe tên, nhân loại đã khiếp sợ. Tôi đố các vị tìm thấy một công trình nào Trung Quốc làm cho ta mà tử tế? Tôi cũng đố các vị tìm thấy một quốc gia nào chơi với Trung Quốc mà giàu có phát triển. Không! Có bói cũng không ra, có dùng kính hiển vi soi cũng chẳng thấy. Trung Quốc luôn đề cao 4 tốt với 16 chữ vàng nhưng sự thật, họ phá ta không từ bất cứ thủ đoạn nào, kể cả những việc làm rất bần tiện, như cho thương lái sang ta mua mèo với giá cao, thế là vì cái “giá cao” ấy, mèo gần như tuyệt diệt, bà con nông dân phía Bắc phải chịu đại dịch chuột hoành hành. Rồi họ lại sang mua móng trâu với giá cao. Cũng chẳng biết họ mua móng trâu làm quái quỷ gì mà mua với giá cao thế. Ở thời điểm ấy, cả chú trâu to lớn vật vã mới có 5 triệu bạc, mà chỉ riêng một cái móng trâu cũng đã hơn một triệu bạc rồi. Thế là bà con nhẹ dạ cứ lột móng trâu đem bán. Kết cục là trâu bò chết hàng loạt, ảnh hưởng nặng đến sức kéo của bà con nông dân nghèo phía Bắc. Và rồi còn ghê rợn hơn nữa là việc Thương lái Trung Quốc hướng dẫn bà con ta làm chè bẩn để mua với giá đắt với số lượng rất lớn. Làm được bao nhiêu mua hết từng ấy. Họ yêu cầu người làm chè trộn phân trâu hoặc nước bùn vào búp chè tươi già, qua công đoạn vò, phơi, được một loại chè khô vừa nặng, vừa dẻo, cánh chè xoăn và xanh. Chè bẩn được đóng bao, đóng gói chở đi kìn kìn. Họ mua chè bẩn với số lượng lớn như thế để làm gì thì chỉ có ma quỷ mới biết.

     Khi Trung Quốc đăng cai Đại hội Olympic, trước con mắt của bạn bè quốc tế, họ mời ông Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang sang cùng chứng kiến cảnh họ đốt chè Việt Nam, với lý do chè Việt Nam bẩn không đảm bảo an toàn thực phẩm. Vậy thì còn có quốc gia nào giám ký kết, đặt mua chè của ta? Hậu quả là chỉ sau 6 tháng, toàn bộ ngành chè xiêu điêu. Hàng loạt doanh nghiệp chè bị phá sản. Rồi họ bày cho bà con nông dân ta nuôi ốc bươu vàng để họ thu mua với giá cao. Rốt cuộc đồng ruộng chúng ta tan hoang vì nạn ốc bươu vàng. Và còn rất nhiều, rất nhiều. Điều đó chứng tỏ rằng, chúng ta không thể tin Trung Quốc được. Càng không thể phụ thuộc vào Trung Quốc.

     Trung Quốc chưa bao giờ là bạn của ta chứ đừng nói là bạn Bốn tốt. Họ giúp ta đánh Mỹ thực chất là ta cũng đánh cho họ. Họ góp của còn ta góp máu. Chẳng có gì so được với máu. Nói như Chế Lan Viên:

     Hỡi con thỏ hoà bình đang tìm nơi gặm cỏ

      Súng ta nổ cũng là vì mi đó

     Họ nói: “Các đồng chí cần phải đánh theo chiến thuật trường kỳ mai phục. Đời mình không xong thì đời con đời cháu. Và các đồng chí chỉ nên đánh ở cấp trung đội”. Đánh ở cấp trung đội thì bao giờ mới thống nhất được đất nước? Thực chất Trung Quốc chỉ muốn chúng ta làm cho Mỹ mệt mỏi, kiệt quệ, và cứ ở mãi trong tình trạng chiến tranh, để Trung Quốc có điều kiện vượt lên. Chúng ta vừa kết thúc chiến tranh, họ đã xúi Pôn pốt đánh ta ở các tỉnh biên giới phía Nam. Khi chúng ta giúp Căm pu chia thoát khỏi nạn diệt chủng thì họ trực tiếp đánh ta dọc sáu tỉnh biên giới phía Bắc với hàng vạn quân hung hãn. Họ đã lộ nguyên hình kẻ thù từ ngàn đời. Và bây giờ, khi đã quá hiểu họ rồi, chúng ta không nên để họ lừa gạt rồi cướp đất cướp biển của ta nữa.

- Có cách nào thoát được họ không?

-Hãy học cha ông thôi. Cha ông đã thoát họ bằng chiến thắng Bạch Đằng, Đống Đa. Thời hiện đại, Tướng Giáp cũng thoát họ bằng đánh chắc thắng chắc. Nhờ thế mới có Điện Biên Phủ. Nếu nghe họ đánh nhanh thắng nhanh thì toàn bộ quân đội non trẻ bị tuyệt diệt rồi. Cụ Lê Duẩn và những người cộng sự của cụ cũng thoát họ để thống nhất đất nước. Bây giờ chúng ta cũng phải thoát họ mới tồn tại được.

     Với Trung Quốc phải khôn khéo, mềm mại nhưng rắn. Thế giới đang đứng bên cạnh chúng ta. Nếu họ gây hấn, phải lên tiếng ngay bằng tất cả các kênh truyền thông để thế giới biết. Đừng để kênh xã hội nói rồi chúng ta mới nói theo. Rất nguy hiểm. Kênh xã hội một tin đúng thì chục tin vịt. Cần nói ngay để dân biết, thế giới biết và Trung Quốc cũng sẽ ngại. Dừng tuyến đường cao tốc, không để Trung Quốc len vào. Tuyến đường đó làm sau. Chúng ta nợ công quá nhiều, không sa vào bẫy nợ của Trung Quốc. Nếu đưa ra đấu thầu, chúng ta không thể ngăn được họ, vì ngăn họ, chúng ta phạm luật đấu thầu quốc tế, mà để họ thắng thì chúng ta lụn bại. Cần nhìn đường sắt Cát Linh Hà Đông làm một bài học đẫm máu. Tiền làm đường cao tốc, chúng ta trang bị vũ khí hiện đại rải dọc bờ biển. Với vũ khí hiện đại, chỉ rải dọc biển chúng ta cũng giữ yên được biển đảo của mình mà không cần xuất quân ra biển. Trung Quốc không làm được điều đó vì họ ở quá xa. Máy bay có ra oanh kích ở bãi Tư Chính thì cũng không còn nguyên liệu để quay về. Không quân chỉ phát huy được hiệu quả khi có tàu sân bay. Mà tàu sân bay thì chỉ tên lửa diệt hạm từ dọc bờ, ta cũng thổi bay được. Cùng với cảnh giác, sẵn sàng đáp trả, chúng ta cần liên minh với các nước trong khu vực cùng cảnh ngộ như Nhật, Hàn, Ấn Độ. Đây không phải “liên minh với nước này để đánh nước khác”. Ta không đánh ai cả. Chẳng ai dại dột đánh Trung Quốc, đánh một kẻ mạnh hơn mình về tất cả mọi phương diện. Ta chỉ đáp trả để tự vệ khi không còn con đường nào khác. Để tự vệ cũng cần liên minh. Liên minh là để tự vệ. Cũng có người bảo tôi: Đừng có làm Trung Quốc nổi giận. Họ đóng cửa khấu: 80% hàng hoá nông sản của bà con nông dân không thông quan được thì ai chết trước? Chúng ta thương bà con chúng ta chứ. Chúng ta cũng cần có tiền trả nợ cho họ trong vụ đường sắt Cát Linh - Hà Đông. Nhưng nói thế cũng chỉ là nhìn thiển cận một chiều. Họ nhập 80% hàng nông sản chất lượng của ta, mà toàn là hàng được kiểm định kỹ, nhưng họ tuồn sang ta cũng đủ loại nông sản độc hại qua các đường tiểu ngạch, có khi còn lớn hơn hàng họ nhập. Và hàng của họ thì không thể kiểm soát được. Hiện nay số người bị bệnh ung thư rất nhiều. Ai dám chắc trong đó không có sự tác hại của hàng hoá Trung Quốc? Hiện nay họ lại hoành hành ở Biển Đông. Chúng ta đã kìm nén đấy chứ. Nhưng nếu vượt quá ngưỡng thì chúng ta phải tự bảo vệ mình bằng con đường hoà bình. Và cach bảo vệ tốt nhất là ta kiện Trung Quốc ra toà Quốc tế. Kiện là Trung Quốc thua. Vì họ không có cơ sở pháp lý nào cả. Bản đồ của họ từ năm 1904 đời Nhà Thanh trở về trước chỉ đến Đảo Hải Nam là hết, làm gì có Trường Sa, Hoàng Sa. Nếu kiện họ là ta thắng và nhân thể ta đòi lại cả Trường Sa, Hoàng Sa mà họ chiếm giữ trái phép bấy lâu nay. Tất nhiên, ta cũng biết họ sẽ bất chấp phiên toà như trường hợp Philippin thắng kiện, nhưng về dư luận quốc tế, họ thảm bại…


- Cám ơn ông


                                                                                                             MINH HỒNG ghi 


Thứ Năm, 8 tháng 8, 2019

LÀM THẾ NÀO ĐỂ VẠN PHÚC PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG







TRƯƠNG SỸTÂM




            Tác giả đi khảo sát thực địa (2015)

      Với vị trí địa lý thuận lợi, lịch sử hình thành lâu đời, nền văn hóa giàu bản sắc, sản phẩm có phẩm chất cao, làng lụa Vạn Phúc nhanh chóng trở thành điểm du lịch làng nghề nổi tiếng. Tuy nhiên, làm sao để làng nghề Vạn Phúc phát triển du lịch theo hướng bền vững, đó là điều không đơn giản.

Tác động của ngành Du lịch đối với sự phát triển của làng nghề

Tác động tích cực của ngành Du lịch đến nền kinh tế, xã hội, môi trường và nghề thủ công của làng nghề Vạn Phúc là hết sức to lớn và không thể phủ nhận. Trong phần này, chúng tôi chủ yếu chỉ đề cập đến những bất cập và những tác động tiêu cực do quá trình đô thị hóa và sự phát triển nhanh chóng của hoạt động du lịch đem lại cho làng nghề.

Trong quá trình phát triển làng lụa Vạn Phúc đã và đang bị mất đi tính bản địa giàu truyền thống

Hiện nay, đến với làng nghề Vạn Phúc, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy những sản phẩm có tính chất bản địa ở đây đang dần bị thay thế hoặc bị áp đảo bởi các sản phẩm có xuất xứ từ nơi khác. Ngoài ra, những sản phẩm lụa được sản xuất chính tại làng nghề cũng bị pha trộn với tỷ lệ lớn những chất liệu công nghiệp, tơ thứ cấp để giảm giá thành đầu vào.  Nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến hiện tượng này là sự tăng giá mạnh mặt hàng tơ – nguyên liệu để tạo ra lụa. Vấn đề đáng quan tâm nhất chính là thái độ của người dân đối với sự xuất hiện những mặt hàng từ bên ngoài tại những cửa hàng mang thương hiệu Vạn Phúc. Việc chấp nhận sự có mặt các mặt hàng ngoại lai nhằm tăng lợi nhuận rõ ràng là biện pháp có tính “ăn xổi ở thì”, và hậu quả của nó là làm mất dần lòng tin của khách du lịch, người tiêu dùng khi họ không thể mua được hàng Vạn Phúc chính hiệu trên chính mảnh đất quê hương của làng nghề. Hiện tượng “vàng thau lẫn lộn” cũng làm cho hình ảnh du lịch - văn hóa của làng nghề bị mai một dần trong con mắt những công ty lữ hành và khách du lịch quốc tế. Một hệ quả nữa là điều này dẫn đến sự coi thường di sản (bí quyết, nghề truyền thống) quý giá mà làng nghề có được suốt hàng ngàn năm lịch sử từ đó nghề truyền thống cũng bị mai một trong nền kinh tế thị trường. Vấn đề cuối cùng trong phần này chính là ảnh hưởng của công nghiệp hóa. Sự thay thế máy dệt thủ công để tăng năng suất đã làm mất đi tính truyền thống, bằng tay và độc nhất của sản phẩm đồng thời làm biến mất một loại hình du lịch hấp dẫn đó là quan sát lao động thủ công theo những bí quyết hoặc phương pháp truyền thống của người dân bản địa.

Có sự dịch chuyển cơ cấu lao động, ngành nghề và lao động theo chiều hướng bất lợi cho sự phát triển bền vững của làng nghề

Đó là sự dịch chuyển từ ngành nghề thủ công kết hợp với những nghề nông truyền thống khác sang những ngành nghề phổ biến thường xuất hiện trong quá trình đô thị hóa. Ngành dệt lụa, cùng với sự mất lòng tin của khách du lịch về tính bản địa của sản phẩm và giảm lượng đặt hàng từ các công ty nước ngoài; đã ngày càng mất đi sự hấp dẫn trên phương diện thu nhập và lợi nhuận kinh tế. Người dân trong làng đã chuyển sang những ngành nghề khác thay vì duy trì nghề truyền thống do cha ông của họ gìn giữ từ hàng ngàn năm qua. Thêm một nguyên nhân nữa là giá tơ tăng. Người dân không thể bám trụ với nghề, và dù còn rất gắn bó với nghề do cha ông để lại, họ vẫn phải ngậm ngùi chuyển sang ngành nghề khác để phục vụ cho cuộc mưu sinh.

Xuất hiện nhiều ảnh hưởng tiêu cực do quá trình đô thị hóa mang lại

Quá trình đô thị hóa, nhất là sự xuất hiện của những khu đô thị mới đã phá vỡ cơ cấu xã hội nông thôn truyền thống nơi đây. Quan hệ họ hàng, ruột thịt, làng xóm đã bị thay thế bởi hệ thống các mối quan hệ khác phức tạp hơn và mở hơn rất nhiều. Lối sống, những hệ giá trị xã hội đang biến đổi từng ngày và  cách tư duy trọng tình đang dần bị những giá trị mới của cơ chế thị trường thay thế. Những thực hành có tính truyền thống trong xã hội cũng bị biến đổi một cách đáng kinh ngạc: lễ hội truyền thống của làng đã bị thương mại hóa và những lễ nghi cổ xưa bị rút gọn, đất đai dùng cho hoạt động tâm linh (đất chùa, miếu…) bị chiếm, lấn và dùng sang những mục đích khác. Ruộng đất dùng để canh tác những cây trồng, vật nuôi nông nghiệp đang dần bị lấp đầy bởi những tòa nhà chọc trời, khu sinh thái nhân tạo từ đó dẫn đến sự thay đổi nhanh chóng về mặt cảnh quan; những xưởng dệt, sân phơi tơ lụa đang dần không còn phù hợp với không gian đô thị ngày càng mở rộng theo những xa lộ mới.

Những thay đổi về chỉ số kinh tế nói lên sự suy giảm của hoạt động du lịch và dịch vụ, trung gian gắn liền với sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thu nhập đến từ du lịch và hoạt động thương mại thuần túy đang bị thu hẹp lại do thay đổi cơ cấu ngành nghề và cơ cấu lao động. Lượng khách du lịch quốc tế đến đây ngày càng ít dẫn đến thu nhập thực tế từ hoạt động này cũng bị cắt giảm đáng kể.Trước kia, điểm du lịch làng nghề Vạn Phúc là một trong những điểm sáng du lịch làng nghề của tỉnh Hà Tây thì đến nay làng nghề này đã không giữ được vị thế tiên phong của mình trong loại hình du lịch làng nghề trên cả nước và ở thủ đô.

Xuất hiện những tác động về mặt môi trường theo hướng tiêu cực

Sông Nhuệ êm đềm từ xa xưa giờ đã trở thành dòng kênh nước đen và bị ô nhiễm, bốc mùi nặng nề trong mùa khô. Trước kia vấn đề môi trường cần quan tâm ở đây là hệ thống xả thải và xử lý hóa chất do làng nghề xả ra môi trường thì ngày nay vấn đề đó trở nên lớn hơn nhiều. Dòng sông Nhuệ đã trở thành một kênh xả thải của hàng loạt nhà máy và các hoạt động công nghiệp khác ở đầu nguồn, người dân trong làng với sức ép dân số thải lượng rác thải lớn hơn rất nhiều ra môi trường ngày càng bị hạn chế không gian của làng nghề. Chất thải xây dựng cũng là một vấn đề nan giải đối với Vạn Phúc khi trục đường vành đai 3 Lê Văn Lương được mở rộng và kéo theo đó là hàng loạt dự án xây dựng liền kề với làng hoặc có đường giao thông đi qua làng nghề.

Sự đóng góp của hoạt động du lịch vào thu nhập thực tế của người dân địa phương đang có những chuyển biến mạnh

Ngành Du lịch phát triển nhanh chóng đã mang lại nguồn thu nhập rất lớn trong cơ cấu kinh tế của địa phương. Tuy nhiên, nguồn thu đó chủ yếu đến tay những người làm du lịch và làm dịch vụ trung gian. Ngoài ra, qua khảo sát tại làng nghề, những sạp hàng ở dãy phố dọc bờ sông Nhuệ có tỷ lệ người dân bản địa thấp, chủ yếu là những người có vốn đến từ khu vực, các làng và khu vực lân cận quanh Q. Hà Đông. Thu nhập thực tế mà người dân bản địa thu được từ hoạt động du lịch chủ yếu đến từ hoạt động phục vụ khách du lịch ăn uống, tham quan tại nhà của họ và bán những sản phẩm thủ công do họ sản xuất ra (lụa).

Định hướng phát triển bền vững cho làng nghề Vạn Phúc

Cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển du lịch (cụ thể ở đây là công bằng về lợi ích kinh tế)

Để làm được điều này cần tăng cường sự phân phối lại thu nhập, trong đó định hướng phát triển loại hình du lịch cộng đồng mà hình thức lưu trú homestay trở thành hạt nhân của hoạt động này. Chính quyền địa phương và hiệp hội làng nghề cần cố gắng gia tăng tỷ lệ người dân bản địa tham gia vào hoạt động du lịch và hoạt động thương mại tại chính quê hương họ thông qua việc cho vay vốn mở sạp hàng, sửa sang nhà cửa, công trình phụ đạt chuẩn để đón tiếp khách và đầu tư vào máy móc duy trì nghề. Việc thuyết phục sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các công ty lữ hành và người dân bản địa cũng góp phần phân chia lại lợi ích và thúc đẩy hoạt động du lịch tăng trưởng trở lại.

Kìm hãm những hoạt động thương mại hóa có khả năng đe dọa đến sự tồn vong và phát triển của nghề truyền thống

Giải pháp đầu tiên là hạn chế sự có mặt của những hàng hóa có xuất xứ bên ngoài làng nghề, đặc biệt là hàng lụa có nguồn nguyên vật liệu công nghiệp và xuất xứ từ Trung Quốc. Tiếp đó, chính quyền địa phương cần phải tìm cách bán được nhiều hơn hàng hóa có xuất xứ tại địa phương thông qua hoạt động quảng bá, marketing nhằm khẳng định lại giá trị của sản phẩm làng nghề, trong đó nhấn mạnh đến phẩm chất và tính độc nhất của chúng. Người dân địa phương cần được giáo dục lòng tự hào về nghề truyền thống để từ đó gắn bó với nghề hơn và chuyên tâm vào cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm của làng nghề.

Đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của khách du lịch

Hiện nay đến làng nghề, ngoài hoạt động mua sắm tại các cửa hàng, tham quan các điểm di tích lịch sử văn hóa và ăn uống tại nhà người dân địa phương khách du lịch khó có thể tìm kiếm được hoạt động nào khác trong thời gian rỗi. Để giữ chân khách ở lại làng lâu hơn và thỏa mãn nhiều hơn nhu cầu của du khách, ngành Du lịch và chính quyền dịa phương, người dân trong làng cần đa dạng hóa sản phẩm du lịch bổ trợ như tổ chức các buổi biểu diễn nghệ thuật, các hoạt động nhằm thúc đẩy sự tham gia của khách du lịch vào những hoạt động sản xuất, sinh hoạt thường ngày của nhân dân (thử dệt lụa, kéo tơ và may mặc); có thể phát triển loại hình giải trí thôn dã như câu cá, thăm thú đồng ruộng và tự nấu ăn trong không gian của làng nghề.

Duy trì chất lượng môi trường

Làng nghề đã nhận được đề án tách rời khu vực sản xuất ra khỏi nơi cư trú của người làng (nhà dân). Đề án này giúp ngăn chặn những tác động xấu đến môi trường do sự tùy tiện của người dân nhưng có nguy cơ đe dọa đến tính truyền thống cũng như hấp dẫn dành cho hoạt động du lịch. Làm thế nào để làng nghề vẫn có thể gìn giữ được bản sắc truyền thống của nó đồng thời vẫn đảm bảo các vấn đề môi trường như giữ gìn sự trong lành của nguồn nước, hạn chế xả các loại chất thải hóa chất và hạn chế tiếng ồn là vấn đề then chốt cần giải quyết tức thì là hạt nhân của phát triển du lịch bền vững tại làng nghề.

Lập quy hoạch phát triển du lịch

Hiện nay làng nghề vẫn phát triển một cách tự phát, chính quyền địa phương và ngành Du lịch chưa có tác động đáng kể đến hoạt động du lịch nơi đây. Hiện tượng suy giảm khách du lịch và mức độ thỏa mãn của họ tác động đến mong muốn quay lại điểm ngày càng giảm dẫn đến sự suy giảm các chỉ số kinh tế - xã hội của các hoạt động liên quan đến du lịch. Vấn đề này nếu không được giải quyết tốt, rất có thể làng lụa Vạn Phúc đang là một điểm sáng tiên phong trong hoạt động du lịch làng nghề của cả nước sẽ trở thành một điểm chết  của hoạt động du lịch và chịu ảnh hưởng nặng nề của xói mòn văn hóa truyền thống. Lập quy hoạch du lịch liên quan đến nguồn vốn đầu tư, xác định sự sử dụng không gian khác nhau của làng nghề và định hướng cơ cấu lao động, kinh tế của điểm.

Liên kết với những điểm du lịch văn hóa - tự nhiên phụ cận

Nhằm gia tăng mức độ thỏa mãn của khách du lịch và đa dạng hóa sản phẩm du lịch của vùng du lịch; cần xây dựng các tour làng nghề - sinh thái - mua sắm hoặc làng nghề - di tích lịch sử, du lịch làng nghề - lễ hội và du lịch thiền gắn liền với không gian văn hóa làng (đình, chùa).

Sự suy giảm hoạt động du lịch tại làng nghề dệt lụa Vạn Phúc phần nào đã cảnh báo về những hậu quả của việc phát triển không tuân theo những nguyên tắc phát triển bền vững tại những điểm du lịch đặt nặng nguồn tài nguyên vào yếu tố văn hóa. Chưa phải là quá muộn khi chúng ta đánh giá lại những chính sách quản lý và định hướng phát triển sao cho phù hợp với đặc thù nguồn tài nguyên cũng như những yêu cầu do quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đặt ra.





Ths.Trương Sỹ Tâm


Đại học Văn hóa Hà Nội


Thứ Tư, 7 tháng 8, 2019

PHÙNG HƯNG THIÊNG HÓA TRONG TRUYỀN THUYẾT VÀ THẦN TÍCH




                                   TRƯƠNG SỸ HÙNG


 


Đường Lâm được mệnh danh “đất cổ hai vua”, nay thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam từ trước thế kỷ X là vì có hai vị anh hùng dân tộc Phùng Hưng ( 761 – 802; 馮興)và Ngô Quyền ( 897 – 944 ; 吳權). Hai người sống cách nhau 102 năm, nhưng cả hai linh hồn đều đã trở thành bất tử bởi công lao to lớn với cộng đồng người Việt từ khi non sông mới đang độ trưởng thành một liên minh rộng lớn.Truyền thuyết dân gian thêu dệtvà thần tích Đại Việt đều có ghi nhận.

    Thân sinh của Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh, cựu chiến binh trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Đường năm 722, do Mai Hắc Đế(?–722;梅黑帝) lãnh đạo. Chuyện Mai Hắc Đế lúc 10 tuổi, còn mang tục danh Mai Thúc Loan chứng kiến mẹ đi lấy củi trong rừng bị hổ vồ, rồi lại bị mồ côi cả cha mẹ sau đó không lâu, chắc cũng ám ảnh ông và cả gia đình qua những chuyện sinh hoạt thường nhật. Thủ lĩnh Mai Hắc Đế của ông rất khỏe mạnh, từng là đô vật, giỏi võ, thể hiện là người có chí lớn. Thuở hàn vi, ông đã lập phường săn, chiêu mộ trai tráng trong vùng mưu cầu đánh đuổi ngoại xâm. Tụ nghĩacùng các tướng quân ưu tú như Phòng Hậu, Thôi Thặng, Đàn Vân Du, Mao Hoành...(1)Phùng Hạp Khanh đã góp phần đánh giặc cứu nước. Hưu chiến trở về quê hương Đường Lâm, ông chăm chỉlàm ăn, trở thành người giàu có nhất vùng.

Ngược dòng gia phả tính từ Phùng Hưng, tìm về cội nguồn còn thấy một vị cao tổ 7 đời trước là Phùng Tói Cái, làm quan lang Đường Lâm - người đã được vua Đường Cao Tổ đãi yến tiệc trong cung. Như vậy, dòng họ Phùng ở Đường Lâm đã nối nghiệp làm quan lang từ thời tiền Việt – Mường, nghĩa là cho đến đờithứ bảy, Phùng Hưng vẫn còn là thành viên của một cộng đồng tộc người Việt Mường trước thế kỷ X- khi chưa có sự chia tách(3), đã từng hiện hữu tại trung du Bắc Bộ Việt Nam ngày nay.

Phùng Hưng tên tự là Công Phấn, con trưởng của Phùng Hạp Khanhvà mẫu sinh họ Sử. Phả và tích đều nói đến kỷ niệm sinh ba - sau thời gian mang thai dư ngày, thừa tháng, dân gian gọi là “chửa trâu”; trong một lần bà sinh được bangười con trai.Phùng Hưng cất tiếng khóc chào đời trước làm anh cả. Em thứ hai là Phùng Hải, tên tự Tư Hào. Em út là Phùng Dĩnh, tự là Danh Đạt. Về giấc mộng thiên sứ xin đầu thai làm conhọ Phùng trong truyền thuyết dân gian kể rằng; khi bà vợ đi lễ cầu tự trở về bỗng nhiên thấy trong người khác lạ, bèn kể cho chồng biết sự thể. Đáng lưu ý là đêm ấy cả hai vợ chồng Phùng Hạp Khanh đều nằm mơ thấy một tiên ông tự nhiên xuất hiện và tự xưng là thiên sứ vâng lệnh thượng đế xuống ban phúc lộc cho người có nhân đức. Tiên ông đưa cho một chùm ba quả đàothơmmùi mới chín, dặn lời là đưa cho người vợ ăn, thì sẽ sinh con có tài. Vừa nói hết câu, vị tiên ông xoa đầu người chồng ba cái rồi biến mất.Phùng Hạp Khanh tỉnh giấc,mừng lắm, ngước nhìn ra cửa sổ phía tây, ông còn nhớ rõ ràng từng chi tiết trong giấc mộng, và cứ nghĩ ngợi miên man không biết thế nào. Vợ chồng đều tin rằng đó là điềm lành.Từ đấy, phu nhân “mang thai 14 tháng. Vào một ngày đẹp trời - 25 tháng 11 năm 760 - bà sinh được ba bé trai, tướng mạo khác thường”.

Tương truyền, ngay từ khi mới lớn lên, dù tầm hiểu biết lúccòn thơ dại, nhưng Phùng Hưng cũng luôn biết nhường nhịn, giúp đỡ những người xung quanh. Tuổi trưởng thành, ông không bao giờ thể hiện thái độ tự ti, xem thường người nghèo khó, mặc dù bản thân gia đình quan langgiàu có, nổi danh. Tri thức và thể lực giúp Phùng Hưng ngày càng đồng cảm,yêu thương dân bằng hành động cụ thể và hành vi xử thế với cộng đồng lớn nhỏ. Đường Lâm cổ thời vốn là vùng đất gò đồi với những rừng cây rậm rạp, người thưa vắng. Bởi vậy chim muông, cầm thú còn đa dạng, nhiều vô kể, lắm khi chúng hung hãn, đe dọa, giết hại cả sinh mạng con người.

Dư luận gần xa đồn thổi, thêu dệt khá nhiều chi tiết ly kỳ về truyền thuyết giết hổ bảo vệ dân làng của chàng trai trẻ Phùng Hưng.Truyện kể rằng, khi ba anh em 18 tuổi thì bố mẹ đều mất. Phùng Hưng là người có sức khỏe và khí phách đặc biệt; nối nghiệp cha đảm nhiệm chức hào trưởng đất Đường Lâm. Cho tới nay dân gian vẫn còn lưu truyền câu chuyện ông dùng mưu kế giết hổ dữ, mang lại bình yên cho làng xóm. Chuyện kể rằng, tại Đường Lâm quê ông thời ấy rừng núi rậm rạp với nhiều cây cổ thụ. Mấy tầng tán cành lá cùng hàng trăm loại cây leo chằng chịt nên rất nhiều thú dữ hoành hành. Ai ai cũng hoang mang, lo sợ, nhiều ngườikhông dám vào rừng làm nương, kiếm củi nữa. Có người đánh liều đi rừng đã bị bỏ mạng hoặc nhìn thấy hổ hoảng loạn bỏ chạy tháo thân. Nỗi ám ảnh đe dọa cuộc sống của người dân lành cứ thế đồn đại vang xa. Phùng Hưng suy xét, bình tĩnh, quyết tìm ra mưu kế đối diện với sự thật thảm khốc. Khi Phùng Hưng vừa độ trai tráng, thì có một con hổ dữ từ rừng sâu thỉnh thoảng lại xông thẳng vào khu vực sinh sống của dân làng bắt gia súcvà giết người ăn thịt mà không ai dám chống cự. Phùng Hưng liền đặt kế tìm cách tịêu diệt hổ cứu dân lành.

 Làm một người giả bằng rơm, cho mặc quần áo như người thật, Phùng Hưng đặt nhân hình giữa quãng đường rừng gần làng, nơi hổ thường xuất hiện. Quả nhiên, nhập nhoạng tối hôm ấy, hổ quen thói xông vào lùng sục thì bắt gặp người nộm, nólaovào cắn xé. Cọc gỗ độn rơm, lạt tre, quần áo… cũ bị rách tả tơi thành nhiều mảnh, vung vãi. Hai, ba lần lặp lại như thế, hổ nản ý, lần sau khi vào làng hổ không vồ bắt hình nhân bằng xương tre bện rơm nữa. Trải qua mấy đêm cởi trần, thân đóng khố, trát bùn kín người, phủ thêm một ít sợi rơm ngụy trang, ăn gió nằm sương cho mất hơi người; chờ cơ hội một buổi trời chập choạng tối, Phùng Hưng đứng vào đúng chỗ đặt bù nhìn rơm trước đây. Quen thói, hổ tự nhiên vào làng như mọi lần không một chút do dự, định cọ nhẹ vào hình nộm bên đường để đuổi muỗi.Bất ngờ Phùng Hưnglựa thế, nhảy phắt lên lưng hổ, ghì chặt chân vào cổ, tay thọc mạnh, nắm chặt tai con mãnh thú. Người quyết chí đánh chết hổ. Lúc sau hổ đuối sức, Phùng Hưng lôi hung khí giắt sẵn trong người, đập vỡ sọ. Hổ lăn ra chết.Mối taihọa, lo sợ thường trực của dân làng được giải tỏa.Tố chất của một vị thủ lĩnh tài trí, mưu lược và biết thương dân, đúng với tư tưởng nhân nghĩa của dân tộc ta, mà sau này Nguyễn Trãi có nhắc đến trong Bình Ngô đại cáo"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo".

Phùng Hưng đặc biệt nổi danh với tài diệt mãnh thú. Lần khác, Phùng Hưng còn đánh bại cùng một lúc hai con trâu rừng khiến người người đem lòng nể phục. Kể từ đó, nhân dân không còn lo sợ bị hổ dữ tấn công khi vào rừng núi nữa. Họ cũng vô cùng biết ơn người tù trưởng anh hùng của vùng đất Đường Lâm.Lại nói, Phùng Hưng vốn đã nuôi chí đánh giặc từ lâu, nay nhờ việc diệt hổ dữ mà được nhân dân hết lòng cảm phục. Nhân cơ hội ngàn năm có một đó, ông đã đứng lên phất cờ khởi nghĩa chống lại nhà Đường đang đo hộ Nam Việt. Và ông đã nhận được nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của đông đảo các tầng lớp nhân dân.

Thần tích làng Thịnh Hào chép truyện: “có con yêu quái tên gọi là Hắc Hán thường tác oai tác quái, hãm hại dân lành. Một hôm Phùng Hạp Khanh trên đường về nhà, lúc đó trời đã tối, con yêu hiện ra chặn đường bị ông rút kiếm chém, từ đó nó biến mất, không xuất hiện nữa. Vì trừ yêu quái, có công với dân nên Ngọc Hoàng thượng đế cho ba vị thần xuống đầu thai làm con của Phùng Hạp Khanh.Đoạn sau thần tích viết:“Một hôm, đang giờ ngọ vào giấc ngủ trưa, Hạp Khanh mơ thấy ba người. Một người đội mũ đầu hổ, mặc áo chầu thêu rồng, tự xưng là Đại La thiên sứ. Một người chít khăn phốc đầu, mặc áo màu xanh nhạt, tự xưng là Giao Hải đại quan tôn thần. Một người đội khăn đỏ, mặc áo gấm xanh sẫm, tự xưng là Thiên La võ tướng. Cả ba đều diện mạo đường hoàng, thân cao mười thước, có sức đuổi gió, chém chớp, tiến đến trước nhà cùng Hạp Khanh tương kiến, muốn chuyện trò. Trong khi hàn thuyên, những người này tự bảo rằng:

- Lúc trước, ông đã trừ Hắc Hán, có thể cứu giải nguy nan cho chúng sinh. Thượng đế khen ngợi lắm, cho rằng ông có công lớn trừ ác. Vì vậy, ngài sai chúng tôi tới đây trao cho ông chức tước mãi mãi, để ông được thành tựu. Ông hãy nhận lấy tước trời, không được từ chối”.

     Sau chuyện giết hổ, trừ họa cho dân, kỳ tích đầu tiên của một vị con trai quan lang lại càng nổi danh trong tâm trí cộng đồng với sựkiện Phùng Hưng khởi sự chống lại cuộc xâm lược của nhà Đường, giành độc lập cho dân Việt,đã được khẩu ngữ dân gian thiênghóa trong đời sống tâm linh hơnnghìn năm qua.

Nam Việt thời thuộc Đường còn gọi là An Nam đô hộ phủ. Các quan đô hộ nhà Đường ra sức vơ vét của cải của người dân Việt, bắt mọi người phải đóng sưu cao thuế nặng, khiến ai ai cũng tỏ ra căm giận.Năm 767, Cao Chính Bình, hiệu úy châu Vũ Định giúp kinh lược sứ An Nam là Trương Bá Nghi đánh bại cuộc xâm lược của quân Chà Và từ phía Nam, về sau giữ chức An Namđô hộ xứ. Nhưng rồi “ngựa quen đường cũ” khi Cao Chính Bình có vị trí quan cai trị, y lại ra sức bóc lột tham tàn sức lực lao động của tầng lớp dân đen bằng mọi thủ đoạn.

Sinh trưởng trong một gia đình đời đời làm hào trưởng đất Đường Lâm. chứng kiến cảnh quan lại nhà Đường, đứng đầu là đô hộ phủ Cao Chính Bình tàn ngược, áp bức vơ vét của cài cùa nhân dân không cùng, Phùng Hưng quyết định dựng cờ nghĩa chiêu hiền đãi sĩ, phát động cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm.     Trong niên hiệu Đại Lịch (766-779), chưa rõ đích xác vào năm nào, nắm vững tình thế căm phẫn quân xâm lược nhà Đường của người dân, lợi dụng khí thế một toán quân lính ở Tống Bình nổi loạn, Phùng Hưng tập hợp được cả một đội quân đồng lòng hiệp sức chống lại chính quyền đô hộ.

Cuộc khởi nghĩa do Phùng Hưng lãnh đạo được sự hưởng ứng rộng rãi của tất cả các tộc người hiện là chủ nhân của các miền đất Giao châu. Lấy đất quê hương là Đường Lâm làmcăn cứ,xây dựng cơ sở vật chất, trấn áp bộ máy ngụy quyền của nhà Đường, khiến cho thanh thế quân đội của tướng giỏi Phùng Hưng ngày càng lan rộng. Năm tháng qua đi, những trận đánh nhỏ lẻ giành thắng lợi tuyệt đối, khiến những quan chức động, sách, bản, làng, quận, huyện… nhìn thấy mà nản chí dẹp trừ, đã từng bước nhượng bộ, thậm chí có người bị hào khí chống ngoại xâm cuốn hút đã tình nguyện đóng góp lương thực, tiền bạc xin theo nghĩa quân. Dường như một địa thế tác chiến đã được định sẵn, cả miền đất rộng lớn, dân cư đông đúc quanh thành Phong Châu, đã và đang dần dần trở thành căn cứ đánh giặc.Tướng quân Phùng Hưng tự xưng là Đô Quân, Phùng Hải xưng là Đô Bảo và Phùng Dĩnh xưng là Đô Tổng. Ba anh em cầm đầu ba cánh quân đi trấn giữ những nơi hiểm yếu, tiếp tục chiêu binh lập trại huấn luyện quân sĩ. Lập tức Cao Chính Bình sai quân đi đánh dẹp, đàn áp nhưng chưa hề có lần nào đánh thắng được đội quân của ba anh em họ Phùng. Cuộc kháng chiến chống, đánh quan quân nhà Đường của quân dân Nam Việt ở thế giằng co,diễn ra hơn 20 năm.

Được sự hưởng ứng nhiệt tình, trợ giúp đúng lúc của một tướng lĩnh người cùng làng là Đỗ Anh Hàn, lực lượng quân đội của anh em Phùng Hưng ngày càng lớn mạnh không ngừng. Lúc đầu Phùng Hưng nhận thấy lực lượng chưa thật đủ mạnh để đè bẹp quân địch, chính ông đã tạo ra một thời gian cầm cự để thu nạp quân sĩ, dự trữ lương thực, mua sắm thêm vũ khí, chuẩn bị chu đáo cho cuộc tổng tấn công quyết thắng. Với tinh thần “tướng sĩ một lòng phụ tử”, vào tháng 4 năm Tân Mùi (791) dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của Phùng Hưng, quân dân Nam Việt đã vây đánh và chiếm được thành Tống Bình. Mở đầu chiến dịch, Phùng Hưng chia lực lượng quân đội của mình thành 5 đạo, mỗi đạo là một mũi tiến công; phân công các tướng Phùng Hải, Phùng Dĩnh, Đỗ Anh Hàn, Bồ Phá Cần chỉ huy 4 đạo. Đại tướng Phùng Hưng trực tiếp chỉ huy một mũi tiến đánh, vây hãmthành. Ba người cháu gái họ Phùng cũng được chủ tướng bố trí thành ba đội xung kích, góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng, đánh đuổi quân xâm lược.Cuộc chiến diễn ra quyết liệt, quân Đường thua đau, tàn quân nhao nhác. Thần tích làng Thịnh Hào xưa cho biết: “Chính Bình sợ bị cướp quyền nên đã đầu độc Ứng Kế. Bọn Túc Nguyên Khánh, Hồ Hoài Nghĩa là quân tả, hữu của Ứng Kế chạy trốn khỏi thành, theo Phùng Hưng (…) Chính Bình cấp báo vua Đường xin viện binh. Lý Phục được cử sang làm tiết độ sứ Nam Việt”. Và cuộc chiến kéo dài ròng rã 20 nămcũng không thay đổi được tình thế. Phùng Hưng được quân sĩ hết lòng ủng hộ, “lúc ấy là năm Tân Mùi (791); Hưng bèn họp các tướng lại bàn bạc xem nên đánh hay nên cố thủ. Trong đám bộ hạ có viên tướng A Bà tiến lên nói:

 - Xưa dùng binh thường có ngụy đạo, đánh địch từ chỗ bất ngờ, biết trước được thắng bại. Nay, bọn Đường trong thì mất lòng trời, ngoài thì bừa bãi, pháp lệnh hà khắc, tham tàn. Trên mất lòng người, dưới trái ý dân; vậy mà sao chủ tướng tự sinh niềm nghi ngại, cố thủ một cách vô ích ở chốn thâm sơn cùng cốc, khiến cho bọn ác nắm được càng bọ ngựa ở đường lớn mà quân điều phạt lại trù trừ không tiến? Thần tuy bất tài, nhưng cũng xin đưa một lữ quân tiến thẳng vào Long thành, bêu đầu Chính Bình dâng lên vương chủ… Tướng Đỗ Anh Luận – người cùng làng Đường Lâm, TSH chú thêm – nói:

     - Xin vương chủ thu nhận lời nói của A Lang, điều sáu mặt quân, tiến thẳng vào thành, vây phủ, quây chúng lại mà trừng phạt, bị khóa đầu đuôi, bọn Chính Bình không thể cứu trợ nhau, sẽ tự tan ra những mảnh như ngói vỡ.(4)Ba anh em Đỗ Anh Luận, Đỗ Anh Nho, Đỗ Anh Cán hưởng ứng cuộc khởi nghĩa ngay từ đầu, giờ đây vẫn là nhân tố tích cực, cổ vũ tinh thần anh em binh sĩ.”Anh Cán học rộng, mưu cao, nổi danh tiếng một thời, Phùng Hưng coi trọng như thầy, bạn quý. Hàng loạt tướng văn, tướng võ như: Triệu An, Lăng Bình, Đỗ Nhưng, Triệu Cừ, Hà Toại, Lục Hàm, Lưu Kiều, Thành Yến…đồng thanh:

   - Lời nói của Đỗ điền sứ rất đúng! Xin vương chủ tin theo! Chúng thần sẽ cố gắng hết mình, cương chủ không cần lo lắng gì. Vương khen ngợi bá quan, cho em trai Phùng Hải giữ chức cự lão tướng quân chỉ huy 1000 tướng sĩ; cùng các tướng Triệu An, Lăng Bình, Đỗ Nhưng, Triệu Cừ, tiến đánh thành Long Đỗ phía bắc, ngăn chặn quân cứu viện nhà Đường. Phía nam thành Đại La do em trai vương là cự lực tướng quân Phùng Dĩnh chỉ huy; với các tướngHà Toại, Lục Hàm, Lưu KiềuHà Toại, Thành Yến chia bốn mũi tiến công. Xanh lực quân Bồ Phá Lặc cùng các tướng Thúc Kiển Lỗ, Định Khước Ban, Lý Lâu Tiếp chỉ huy 1000 binh sĩ, chia làm hai vệ quân thảo điển, tiến đánh Tô Cừ ở phía đông đánh chặn đường thoát của giặc. Đỗ Anh Cán làmđại thủ lĩnh, Đỗ Anh Nho làm phòng bị sứ; cùng các tướng Loan Hào, Tổng Mục làm tuần thú các châu Đường Lâm, Trường Phong.”(5)Chẳng may Đỗ Anh Cán “bị Cừu Tư giết, lấy đầu nộp cho nhà Đường, Đỗ Anh Nho quyết đoán cùng vương chủ đánh gấp, tiến gấp. Phùng Hưng thống lĩnh một vạn quân; cùng 28 vị tướng như Chử Viêm, Bốc Chiêm, Điền Phương thẳng tiến vào thành đánh Cao Chính Bình.”Trước sau, với hơn 4 vạn tướng sĩ của nhà Đường đã kéo sang giày xéo, địnhnuốt chửng Nam Việt, dưới ngọn cờ phi nghĩa của Cao Chính Bình, nhưng chúng cũng chỉ chuốc lấy sự thất bại đau đớn ê chề. Ở trận quyết chiến năm 791- như thần tích thuật lại - “Sĩ tốt của Đường chết không đếm xuể, thây chết đầy đồng, máu chảy thành sông. Nước hai dòng Nhĩ Hà và Lô giang biến thành màu đỏ”.(6)Thừa thắng, Phùng Hưngchia nhỏ toàn quân đoàn Nam Việt thành 8 mũi, đồng lòng hiệp sức giải phóng kinh thành, giết hết gia quyến thân thuộc của giặc. Ngược lại với bè lũ ngoại xâm, thế suy, lực yếu, Cao Chính Bình buộc phải cho rút quân vào cố thủ trong thành. Cố thủ trong thành rồi cũng không giữ được, nỗi lo sợ trước hùng khí quân đội Phùng Hưng, khiến cho y ăn ngủ không yên, cuống cuồng hoảng loạn, lâm bệnh, ốm chết.

      Phùng Hưng lên ngôi vua trị vì đất nước Nam Việt.Dù đã chiếm lĩnh thành trì, lập ngôi, xưng vương chính danh, trông coi chính sự đất nước, nhưng việc lo cho dân yên ổn làm ăn lắm khi cũng trùng điệp trắc trở. Vua Phùng Hưng đang được lòng dân mến mộ, tướng sĩ tin yêu thì chẳng may người lâm bệnh qua đời ngày13 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (tức ngày 13 tháng 9 năm 802DL) thọ 41 tuổi. Quốc sửĐại Việt sử ký toàn thưKhâm định Việt sử thông giám cương mục đều ghi nhận ông mất năm 791 sau khi đánh đuổi được giặc Đường.Gần đây, giới sử học  xác định ông mất khoảng tháng 5 năm 791.

Sau khi mất, Phùng Hưng được nhân dân suy tôn là Bố Cái Đại vương. Chép về sự kiện ra đi về cõi vĩnh hằng của tiên đế Phùng Hưng hình như các tác giả không muốn ghi thật chi tiết; và “vương khởi binh năm Đinh Mùi niên hiệu Đại Lịch thứ hai (767) đến năm Trinh Nguyên thứ 7- Đường Đức Tông, được cả thảy 25 năm thì hết. Miếu thờ ở phường Thịnh Quang, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên, thành Thăng Long.(7)”

    Về danh hiệu Bố Cái đại vương, vì các sử thần triều Lê hiểu nghĩa “Bố Cái” là “Cha Mẹ” nênĐại Việt sử ký toàn thư cũng viết: “Mậu Thân (768) Đường Đại Lịch năm thứ 3 đổi Giao Châu thành An Nam đô hộ phủ.” Và “Phùng Hưng nổi binh vây phủ, Chính Bình vì lo mà chết. Phùng Hưng vốn con nhà hào phú, có sức khỏe, có thể vật được trâu, đáng được hổ…Con là AnTôn xưng (cha) là Bố Cái đại vương. Tục gọi cha là Bố, mẹ là Cái cho nên lấy làm hiệu”(8)Lời chua (phụ chú) trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục: “Bố Cái, sử cũ chua tục cổ nước ta gọi cha là bố , gọi mẹ là cái, nên đặt Bố Cái làm tôn hiệu.”(9)cũng tương tự như sử cũ. Trong Tổng luận sách Đại Việt sử ký tiền biên, sử gia Lê Tung gọi Phùng Hưng là Phùng Bố Cái: “Phùng Bố Cái là bậc anh hùng ở Đường Lâm, ghét chính sách ngược đãi hà khắc của Chính Bình, anh em thừa thời nổi dậy cứu dân , dẹp loạn ban đức lập công có thể gọi là vị vua nhân hậu. Chỉ tiếc con ông là An không biết nối giữ cơ nghiệp được lập nên do Phá Lặc, rồi đầu hàng Triệu Xương; dù có Đỗ Anh Hàn là bề tôi lo việc nước cũng không cứu nổi…”(9)Ở đây, nghĩa của từ “BỐ” là vua, tương đương tiếng Mường là Bua (như BuaTản = vua cả núi Tản Viên)(10)“Cái” tương đương như Mẹ thiêng (Cái Ứa = Chim cái trong tục tôn thờ vật tổ theo thần thoại Chim Ây Cái Ứa)(11)nhưng đã biến nghĩa là to lớnthủy tổ của người Việt Mường.Câu thành ngữ Việt “Con dại cái mang” đã đồng nhất trách nhiệm của cha mẹ vào một từ CÁI. Bố Cái có thể là liên từ chỉ một ông vua vĩ đại là Phùng Hưng. Vậy, BỐ CÁI có nghĩa chỉ Phùng Hưng là bậc cha mẹ của muôn dân trăm họ. Tục ngữ người Việt có câu “Thương dân dân lập đền thờ”cùng với quan niệm thờ cúng tổ tiên, mà cha mẹ là Phật sống trong nhàlà thế.

Các bản sách Đại Nam quốc sử diễn ca đềuở thế kỹ XIX có đoạn viết về Phùng Hưng:

Xiết bao phú trọng, chính hà,
Sinh dân sầu khổ ai là xót chăng?
Đường Lâm mới có Phùng Hưng,
Đã tài kiêu dũng, lại lưng phú hào.
Cõi Tây nổi việc cung đao,
Đô quân tôn hiệu, Tản Thao hiệp tình.
Đem quân thẳng đến vây thành,
Đại La thế bức, Chính Bình hồn tiêu.
Nhân phủ trị mở ngôi triều,
Phong châu một giải nhiếp điều mấy niên.
Đế hương phút trở xe biền,
Đại vương Bố Cái tiếng truyền muôn thu.
Phùng An con nối thơ ngu,
Nghe quan nhu viễn bầy mưu hàng Đường..(12)



     Tương truyền vua Phùng Hưng mất đi nhưng linh hồn người vẫn thiêng lắm. “Vương thường hiển linh, dân cho là thần, mới làm đền thờ ở phía tây phủ, bốn mùa cúng tế”. Theo thần tích thì sau khi Phùng Hưng mất, dân lập “miếu thờ ở phường Thịnh Quang” và “phường Quảng Bá cũng cùng thờ cúng.”Chốn ấy nay thuộc phường Thịnh Hào, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Sử liệu và truyền thuyết dân gian cho đến nay vẫn lưu truyền những câu chuyện về sự linh thiêng của Bố Cái đại vương. Việt điện u linh khẳng định: “Sau khi mất, Bố Cái đại vương rất hiển linh.Dân các làng thường nghe có tiếng ngựa xe đi lại ầm ầm trên nóc nhà hoặc trên ngọn cây cao, ngẩng trông thì thấy ẩn hiện trong những đám mây là cờ ngũ sắc và kiệu vàng rực rỡ, lại có cả tiếng nhạc văng vẳng nữa.

Bấy giờ, nếu có việc lành hay dữ sắp xảy ra thì thế nào đêm đến cũng sẽ có dị nhân báo cho các vị hào trưởng biết để thông tin cho cả làng hay, cho nên, ai cũng lấy làm lạ, bèn cùng nhau lập đền thờ vương ở phía Tây của phủ.

     Đền thờ vương rất linh thiêng. Mọi việc cầu mưa, cầu tạnh đều được linh ứng. Ai gặp việc khó như bị kẻ xấu lấy trộm hoặc giả là muốn cầu tài, đến lễ thần đều được như ý. Bởi vậy, người đến lễ rất đông, khói hương chẳng lúc nào dứt.” (12)Đoạn trên được tác giả thần tích dẫn lại sau hơn 120 năm. Ngô Quyền trên đường đi đánh giặc Nam Hán đã được Phùng Hưng về báo mộng. “ Đến khi Ngô tiên chúa sáng nghiệp khai quốc; quân Nam Hán sang xâm lược, tiên chúa rất lo lắng, đêm mơ thấy vương mặc áo giáp sáng, đốc lĩnh trăm vạn hùng binh, tướng soái ngàn người, đều cầm đao, thương, qua, kích, cờ , biển, voi, ngựa đông vô kể. Khi gặp tiên chúa vương tự xưng họ tên  và nói:

     - Bọn thảo khấu ngu xuẩn ấy đâu đáng nhắc tới! Ta sẽ giúp hiền khanh một tay.

Tiên chúa lấy làm lạ tỉnh giấc. Đến khi dẹp xong giặc, tiên chúa xuống chiếu cho xây dựng đền thờ đường bệ nghiêm trang, trồng hoa cỏ, treo cờ lớn, cử nhạc, nổi trống cúng lễ thái lao. Các triều sau làmtheo thành lệ.” .Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285) thời Trần, vua sắc phong sắc thần Phùng Hưng là Phù Hựu đại vương.Năm Trùng Hưng thứ tư gia phong thêm hai chữ Chương Tín. Năm Hưng Long thứ 20, vua Trần Anh Tông gia phong thêm hai chữ Sùng Nghĩa. Lăng mộ Phùng Hưng ngày nay vẫn được gìn giữ, tôn tạo ở đầu phố Giảng Võ, quận Ba Đình, nội thành Hà Nội. Đền thờ Phùng Hưng được dựng lên ở nhiều nơi trong gần 1.300 qua trên nhiều địa điểm khác nhau như quê hương Đường Lâm, đình Quảng Bá, miếu Tây Hồ, đình Triều Khúc ở Thanh Trì. Lăng Đại Áng, Phương Trung, Hoạch An hay phủ Thanh Oai…vẫn hiện hữu.

      Lẽ thường, khi không còn giữ được độc lập tự chủ thì vua quan, dân chúng đều trở thành nô lệ phụ thuộc. Sau 9 năm tự chủ vương triều nhà Phùngquân nhà Đường lại táichiếm đặt nền cai trị Nam Việt. Dấu tíchtông tộc họ Phùng ở Đường Lâm bị bọn quan quân nhà Đường truy tìm, giết hại. Quan lang, dân Việt theo nhau vào các miền các vùng rừng núi, trung du, men theo các triền sông lớn nhỏ,tỏa vềcác vùng hạ lưu ẩn tính danh lập nghiệp, chờ thời đóng góp công sứcvào sự nghiệp đánh giặc cứu nước.Ngày nay, các chi dòng của họ Phùng vẫn còn rất nhiều di duệ cư trú làm ăn tại các địa phương. Những chi gần nhất với đời thứ 8 của Phùng Hưng định cư lâu đời ở các miền đất, nay thuộc Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ. Các chi, dòng họPhùng Quang ở Vĩnh Phúc,Phùng Xuân ở bên bờ sông Bùi đoạn qua huyện Chương Mỹ, Phùng Văn ở Ba Vì, Phùng Huy ở Thanh Hóa… vẫn ghi đậm những ký ức về bậc tổ vua Phùng Hưng với niềm tự hào chính đáng.

Thần tích ghi lại là lăng mộ Phùng Hưng được đặt ở phía tây thành Tống Bình, ngày nay ở đầu phố Giảng Võ vẫn được giữ gìn chu đáo,. Tại quê hương và nhiều nơi khác đã xây dựng đền thờ Phùng Hưng, để tỏ lòng nhớ thương và cúng lễ cầu mong vong linh người phù hộ cho dân chúng được an cư lạc nghiệp.

Sau khi mất Bố Cái đại vương Phùng Hưng rất linh thiêng. Những câu chuyện lạ kỳ được lưu truyền trong dân gian và thư tịch cổ, như trong sách Việt điện u linh viết rằng:“Sau khi mất, Bố Cái đại vương rất hiển linh. Dân các làng thường nghe có tiếng ngựa xe đi lại ầm ầm trên nóc nhà hoặc trên ngọn cây cao, ngẩng trông thì thấy ẩn hiện trong những đám mây là cờ ngũ sắc và kiệu vàng rực rỡ, lại có cả tiếng nhạc văng vẳng nữa. Bấy giờ, nếu có việc lành hay dữ sắp xảy ra thì thế nào đêm đến cũng sẽ có dị nhân báo cho các vị hào trưởng biết để thông tin cho cả làng hay, cho nên, ai cũng lấy làm lạ, bèn cùng nhau lập đền thờ vương ở phía tây của phủ đô hộ.

Đền thờ vương rất linh thiêng, mọi việc cầu mưa, cầu tạnh đều được linh ứng. Ai gặp việc khó khăn như  bị kẻ xấu lấy trộm hoặc giả là muốn cầu tài, đến lễ thần đều được như ý. Bởi vậy, người đến lễ rất đông, khói hương chẳng lúc nào dứt. Khi Ngô tiên chủdựng nước, bọn giặc Nam Hán sang cướp nước ta, tiên sinh ngày đêm lo nghĩ tìm cách chống đánh. Thế rồi một đêm, Ngô tiên chủ nằm mơ, thấy có một cụ già áo mũ chỉnh tề, đến trước mắt, nói rõ họ tên của mình và bảo rằng:

- Tôi đã trù tính, sắp sẵn các đội thần binh để giúp sức nhà vua, xin nhà vua hãy gấp tiến binh, đừng lo nghĩ gì cả. Đến khi Ngô tiên chủ ra đánh giặc ở sông Bạch Đằng, nghe trên không có tiếng binh mã ầm ầm, và quả nhiên trận ấy được đại thắng.

Ngô tiên chủlấy làm lạ, liền sai sửa sang ngôi đền, khiến cho đền rộng rãi và lịch sự hơn xưa. Xong, Ngô tiên chủđem các thứ lễ vật cùng cờ quạt chiêng trống đến để tế lễ. Sau, các triều quen dần thành lệ. Thời Trần, vào năm Trùng Hưng thứ nhất (1285), nhà vua (Nhân Tông) sắc phong là Phù Hựu Đại vương. Năm Trùng Hưng thứ tư (1288) lại gia phong thêm hai chữ Chương Tín. Năm Hưng Long thứ 20 (1312), vua (Anh Tông) gia phong thêm hai chữ Sùng Nghĩa nữa. Đến nay, sự linh thiêng vẫn được sùng phụng như xưa.

Cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng kéo dài hơn 20 năm (766-791). Những ngày chuẩn bị kết liễu cuộc đời cướp nước của Cao Chính Bình; quân dân Nam Việt đã chiến đấu anh dũng liên tục suốt bảy ngày đêm, kết quả là đã đánh bại bốn vạn quân giặc. Ngay lập tức, Phùng Hưng chỉ huy quân lính chiếm luôn thành Tống Bình làm kinh đô. Tại đây, ông được nhân dân suy tôn là Bố Cái Đại vương.Trong bản thần tích làng Thịnh Hào cũng có đoạn ghi chép tương tự: “Sau khi vương chết, rất linh ứng, dân chúng cho là thần, lập tức dựng đền ở phía tây đô phủ để thờ cúng. Phàm có những việc trộm cắp bất minh, đến đền minh thệ, lập tức sẽ thấy lành dữ. Vì vậy, ở đây hương hỏa không ngớt. Đến khi Ngô tiên chúa sáng nghiệp khai quốc, quân Nam Hán sang xâm lược; tiên chúa rất lo lắng, đêm mơ thấy vương mặc áo giáp sáng, đốc lĩnh trăm vạn hùng binh, tướng soái ngàn người, đều cầm đao thương qua kích, cờ biển ngựa voi đông vô kể. Khi gặp tiên chúa, tự xưng họ tên rồi nói rằng:

- Bọn thảo khấu ngu xuẩn ấy đâu đáng nhắc tới. Ta sẽ giúp hiền khanh một tay.Tiên chúa lấy làm lạ, tỉnh giấc. Đến khi dẹp xong giặc, tiên chúa xuống chiếu cho xây dựng đền thờ đường bệ, nghiêm trang, trồng hoa cỏ, treo cờ lớn, cử nhạc, nổi trống, cúng lễ thái lao. Các triều sau đều theo lễ này”.

Tựu trung, cơ sự làm nên, hay suy thoái là do trí tuệ và nghị lực của từng con người cụ thể tạo ra. Thế kỹ XIV, sách Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên khi chép việc Phùng An để mất nước khá trung thực: “Hai năm sau đó, vua Đường Đức Tông sai Triệu Xương sang đô hộ nước ta. Triệu Xương tới nới, trước hết, cho sứ giả mang lễ vật đến dụ dỗ Phùng An. Phùng An xin hàng phục. Từ đó, họ Phùng tản mác mỗi người một nơi.”(13)Mặc dầu vậy, ca dao xứ Đoài xưa vẫn truyền đời câu:

Gương Phùng Hưng ở Đường Lâm,

Vẫn còn ghi những tháng năm huy hoàng.

Thế mới biết vận nước hưng vong, vua anh minh dũng lược, mưu trí thì dân ấm no hạnh phúc luôn biết tôn vinh mãi mãi. Chính sử, thần tích và truyền thuyết luôn bám sát, thêu dệt làm cho nét đẹp tính cách ngày càng đẹp hơn và nét khiếm khuyết vẫn cần ghi chép lại để làm gương soi cho hậu thế.

CHÚ THÍCH



(1) Mai Thúc Loan với khởi nghĩa Hoan Châu, Nxb Khoa học xã hội, H, 2009

(2) Trương Sỹ Hùng, Sử thi thần thoại Mường, Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1992

(3) Trương Sỹ Hùng, Thần thoại Đông Nam Á, Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1993

(4, 5) Thịnh Hào phường thần tích (盛豪坊神跡)– ký hiệu 02260 - Thư viện Hán Nôm.

(6) Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Hồng Bàng, Gia Lai,2002.

(7) Tên các đia danh do tú tài Lê Doãn Địch chép lại thần tích năm 1839 và đều có chú thích: Thịnh Quang đã đổi là Thịnh Hào, Quảng Đức đổi thành Vĩnh Thuận, Phụng Thiên đổi thành Hoài Đức, Thăng Long đổi thành Hà Nội ở thời nhà Nguyễn.

(8) Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H, 1972.

(9) Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb Giáo dục, H,1998

(10) Trương Sỹ Hùng-Bùi Thiện, Vốn cổ văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, H, 1995.

(11)  Trương Sỹ Hùng, Sử thi thần thoại Mường, Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1992

(12) Lê Ngô Cát - Phạm Đình Toái, Đại Nam quốc sử diễn ca, Sông Nhị xuất bản, H, 1949.

(13) Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh, Nxb Văn hóa, H, 1960.