Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2020

SUY NGẪM VỀ TIỀN SỬ VIỆT



Sau nhiều nỗ lực về bản thảo và tài chính, cuốn sách thứ bảy trong chuyên đề Tìm lại cội nguồn của nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy hôm nay ra mắt bạn đọc. Khác những cuốn trước, viết theo phong cách khảo cứu, cuốn này tác giả sử dụng bút pháp viết sử. Nhận thức là một quá trình. Có thể nói, cuốn này là sự kết tinh, cô đọng những khám phá mới nhất, chính xác nhất về tiền sử người Việt, điều mà tác giả hy vọng sẽ mở đầu cho nền sử học mới của dân tộc.
Thôn Minh Triết xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc Lời nói đầu của tác phẩm.




          

HÀ VĂN THÙY
   Khảo cổ học là khoa học bắt đầu và kết thúc với vật cổ. Một khi không có vật cổ, khảo cổ học chấm dứt! Suốt thế kỷ XX, chúng ta chỉ biết cốt sọ cổ nhất của người Việt tại Sơn Vi 32.000 năm. Những câu hỏi bức xúc được đưa ra: Phải chăng ngưới Sơn Vi là người hiện đại xuất hiện sớm nhất trên đất Việt Nam? Họ từ đâu tới? Không lời đáp! Rồi khi phát hiện bộ xương người Lưu Giang Quảng Tây 68.000 năm và cốt sọ hang Tampa Lin Bắc Lào 63.000 năm, có thêm cật vấn: “Họ là ai, từ đâu ra, có quan hệ thế nào với người Sơn Vi và những người Việt cổ khác?” Khảo cổ học im lặng!

Những năm cuối thế kỷ XX, bùng nổ thông tin gây chấn động: “Người hiện đại Homo sapiens xuất hiện ở châu Phi 200.000 năm trước. Khoảng 70.000 năm trước, theo ven biển Ấn Độ Dương, người từ châu Phi di cư tới Việt Nam. Nghỉ lại ở đây 20.000 năm để gia tăng nhân số, 50.000  năm trước, người từ Việt Nam lan tỏa ra các đảo Đông Nam Á và chiếm lĩnh Ấn Độ. 40.000 năm trước, do khí hậu phía Bắc được cải thiện, người từ Việt nạm đi lên khai phá Hoa lục. 30.000 năm trước, từ Siberia vượt qua eo Bering, chinh phục châu Mỹ…”  Giới khảo cổ học choáng váng. Tuy nhiên, khám phá từ ADN không thể nghi ngờ! Như vậy, thực tế cho thấy, con người đã có mặt tại Việt Nam từ 70.000 năm trước. Nhưng thổ nhưỡng và khí hậu khắc nghiệt đã xóa đi mọi dấu vết của họ, khiến cho 40.000 năm chìm vào đêm tối!

Người từ châu Phi tới Việt Nam là ai? Chưa bao giờ di truyền học trả lời câu hỏi rất quan trọng này. Dựa trên bằng chứng khảo cổ là những cốt sọ, nhân học đưa ra lời đáp: “Vào thời đồ đá, trên đất Việt Nam xuất hiện hai đại chủng Australoid và Mongoloid. Họ hòa huyết với nhau và con cháu họ hòa huyết tiếp sinh ra bốn chủng người Việt cổ Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid, cùng thuộc nhóm loại hình Australoid. Sang thời kim khí, người Mongoloid phương Nam xuất hiện và trở thành chủ thể dân cư. Người Australoid biến mất khỏi đất này không hiểu do di cư hay đồng hóa?” Đây là khám phá quyết định chiều hướng của lịch sử: những con người được sinh ra ở Việt Nam 70.000 năm trước làm nên dân cư và văn minh phương Đông!

Điều không bình thường là, gần hết thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI, chưa có bất cứ nghiên cứu nào về khoảng thời gian 40.000 năm “ngoài vòng khảo cổ!” Tổ tiên Việt đã sống thế nào trong suốt thời gian dằng dặc ấy? Không giải được câu hỏi này, không thể nói gì về tiền sử người Việt! Khi không có hiện vật khảo cổ, là lúc trí tưởng tượng bắt đầu. Có thể là kịch bản như thế này:

70.000 năm trước, trên đường sang phương Đông, một dòng người châu Phi theo bờ Tây của Borneo, bước vào đồng bằng Sundaland, rồi đi lên hướng Bắc. Lúc này đang Thời Băng hà, mực nước biển thấp hơn hôm nay 130 mét. Đông Nam Á là lục địa mênh mông. Không hiểu vì sao họ không tỏa ra chiếm lĩnh vùng đất màu mỡ này mà đi tiếp tới miền Trung Việt Nam rồi dừng lại. Chúng tôi đoán, chỉ đoán thôi, có khoảng 2000 đến 3000 người thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid tới được Việt Nam. Sau hành trình 15.000 năm gian nan, tới đây họ đã gặp “địa đàng ở phương Đông”với khí hậu ấm áp, rừng cây xanh tươi, nhiều muông thú, hoa trái, sông suối nhiều ốc, sò, tôm, cá… Những nhóm nhỏ khoảng 15-20 người gặp nhau khi cùng săn bắn và hái lượm. Tình yêu đến và những đứa trẻ ra đời. Theo năm tháng, dân số tăng lên. Một số ít sống trong hang động còn phần lớn dựng những túp lều bằng cây lá dưới tán rừng.

Ban đầu, theo tập tục truyền lại từ tổ tiên, họ đập vỡ những hòn sỏi, chế tác những chiếc búa đá cũ dùng cho săn hái. Nhưng rồi, từ cuộc sống định cư, vào thời gian rảnh rỗi, người đàn bà bắt đầu chăm sóc những vạt rau đầu tiên bằng cách nhặt bỏ cỏ dại, tưới nước, bón phân... Họ cũng chọn rồi chăm sóc những cây cho quả bằng cách chặt dây leo, tỉa bớt cành và cây dại xung quanh, cho cái cây “của mình” nhận được nhiều ánh sáng hơn. Người hái lượm phát hiện ra khoai sọ, một loại cây cho củ ngon, lành mà lại dễ trồng, rồi kê, cao lương… Cứ như thế, từng chút một, những vạt rau, những vườn cây quả, những luống khoai lang khoai sọ ra đời, bổ sung lượng thức ăn quan trọng vào cuộc sống săn hái.

Không phải khảo cổ mà di truyền học khám phá, trong quá khứ có hai lần số lượng lớn người rời Việt Nam chiếm lĩnh thế giới. Lần đầu vào 50.000 năm trước, đi ra các đảo Đông Nam Á và Ấn Độ. Đợt sau, 40.000 năm trước, đi lên Hoa lục rồi sang châu Âu và qua eo Bering chinh phục châu Mỹ. Di cư là kết quả của bùng nổ dân số. Vậy thì nguyên nhân nào làm nên hai cuộc bùng nổ dân số vĩ đại trên? Cố nhiên không phải do lượng thú hoang tăng đột biến, cung cấp nguồn dinh dưỡng lớn. Chỉ có thể là lượng thức ăn lớn nhận được từ những cây trồng “bán thuần hóa” đã tạo ra năng lượng giúp cho nhân số tăng nhanh! Vậy là, trong 40.000 năm âm thầm ấy, người Việt không chỉ săn bắn hái lượm mà còn sở hữu thực vật “bán thuần hóa” tạo ra khối lượng thức ăn quan trọng. Phương thức sống ấy đi suốt theo hành trình của người Việt.

Khám phá cuộc di cư lần thứ nhất, di truyền học phản bác quan niệm của khảo cổ và nhân học cho rằng “1.500 năm TCN, người Arian xâm lăng Ấn Độ, đẩy người Indonesian từ đất Ấn sang xâm chiếm Đông Dương.” Khám phá cuộc di cư thứ hai, di truyền học bác bỏ quan niệm định hình của thế kỷ XX “người từ Trung Quốc đi xuống làm nên dân cư và văn hóa Việt Nam.”

Năm 2013, nhờ thành tựu kỳ diệu của di truyền học, khoa học tìm ra chủ nhân hang Điền Nguyên, xác nhận việc người Việt đặt chân tới bờ Nam Hoàng Hà 40.000 năm trước. Trong khi đó, khảo cổ học, từ khai quật hàng chục di chỉ trên lưu vực Dương Tử và Hoàng Hà, khám phá 20.000 năm trước, người Việt chế tác công cụ gốm đầu tiên và 12.400 năm trước thuần hóa thành công lúa nước… Công cụ đá mới, đồ gốm, kê, lúa, rồi gà, chó, lợn… theo chân người Việt đi lên lưu vực Hoàng Hà, sáng tạo những văn hóa khảo cổ nổi tiếng Giả Hồ, Ngưỡng Thiều... Tại Ngưỡng Thiều, người Việt cổ mã di truyền Australoid hòa huyết với người Mongoloid sống du mục trên bờ Bắc, sinh ra người Việt hiện đại Mongoloid phương Nam. Người Mongoloid phương Nam tăng số lượng, trở thành chủ thể dân cư lưu vực Hoàng Hà…

Đúng là, từ giữa thiên niên kỷ III TCN, người lưu vực Hoàng Hà di cư xuống phía Nam. Nguyên nhân sự kiện này từ đâu? Hầu hết học giả thế giới cho rằng, đó là sự mở rộng của nông nghiệp. Vậy, động lực nào thúc đẩy con người làm việc đó? Phải chăng là để thực hiện giấc mơ “khai hóa văn minh?” Hoàn toàn không có chuyện lãng mạn như vậy! Phải hiểu thực chất của vấn đề, là nguyên nhân lịch sử. Sau 40.000 năm làm chủ Hoa lục, người Việt tạo dựng nhà nước Lương Chử hùng mạnh với nền văn hóa rực rỡ. Hơn ai hết, họ mong muốn cuộc sống hòa bình. Nhưng rồi chiến tranh khốc liệt xảy ra khi năm 2698 TCN, những bộ lạc du mục hung hãn trên bờ Bắc Hoàng Hà do họ Hiên Viên cầm đầu, đánh vào Trác Lộc, chiếm giang sơn của người Việt, lập nhà nước Hoàng Đế. Hàng triệu người mất đất, phải rời bỏ ruộng vườn chạy về phía nam. Cuộc chiến khốc liệt và dai dẳng đã hằn lên những nếp nhăn trong Kinh Thư, cuốn sử mở đầu của Trung Quốc: “Phạt Tam Miêu, đầy Tam Miêu tam phục, ngũ phục…” “Ngươi phải ghi nhớ, không được để Tam Miêu quấy rối Trung Quốc!” (Lời vua Nghiêu dạy bề tôi). Đấy là ở thời Nghiêu Thuấn, “thời đại Hoàng Kim.” Từ sau thời Chu, hàng triệu người Tiên Ti, Hung Nô vào chiếm đất, mặc sức chém giết… đẩy những đợt sóng người Việt chạy về nam tìm đường sống. Hoàn toàn không phải chuyện mở rộng nông nghiệp lãng mạn mà là cuộc chạy trốn cái chết. Đó là buổi giao thời, khi người Việt hiện đại Mongoloid phương Nam – lớp con cháu đi làm ăn xa, từ Núi Thái-Trong Nguồn trở về, thay máu đồng bào và đổi mới kỹ năng sống, đưa tộc Việt từ văn minh đá chuyển sang văn minh kim khí của thời đại Phùng Nguyên-Đông Sơn rực rỡ.                                     

Cuốn sách trong tay sẽ nói với bạn về một lịch sử chưa từng biết: rời đất Việt Nam, người Việt chiếm lĩnh thế giới, làm nên phần lớn loài người. Tiếng Việt là chủ thể làm nên ngôn ngữ Trung Hoa, chữ Việt là chủ thể làm nên chữ viết Trung Hoa. Những thành tựu rực rỡ của văn hóa phương Đông là sản phẩm sáng tạo của người Việt…

Chân thành cảm ơn bạn tôi, Tiến sỹ Đào Trọng Liên trợ giúp tiền in cuốn sách này.

                                                                                                                                                                                                                                                         Sài Gòn, Hè năm 2019

                                                                                              Hà Văn Thùy








Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2020

CẢM THỨC THI CA VIỆT NAM CỦA TRƯƠNG SỸ HÙNG MỘT ĐÓNG GÓP MỚI TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC




Nhà thơ NGUYỄN QUANG THIỀU


     Mấy vần thơ nhật trình của Hồ Chí Minh, Thoáng gặp thơ xưa, Thơ nhạc trong ký sự lịch sử của Phạm Việt Long là ba phần trong cuốn sách Cảm thức thi ca Việt Nam ( Tập I) của giáo sư, tiến sỹ Trương Sỹ Hùng. Cho dù đây chỉ là tập 1, nghĩa là sẽ còn những tập khác, nhưng tôi thấy tác giả đã dựng lên một cấu trúc thời gian trọn vẹn cho lịch sử thi ca Việt Nam. Từ một số nhà thơ cổ điển mà đại diện là thi hào Nguyễn Du đến nhà thơ, nhà văn hóa, nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh và tác giả đương đại Phạm Việt Long. Mỗi một giai đoạn thi ca Việt Nam mà cuốn sách đề cập đều gắn với một giai đoạn lịch sử đặc biệt của dân tộc. Cũng như mỗi nhà thơ trong tập này làm nổi bật một nét đẹp của ngôn ngữ thi ca. Đó là vẻ đẹp văn hóa Việt và minh triết Việt.
     Bàn luận về một số bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh được sáng tác trong những chuyến đi của người là giáo sư, tiến sỹ Trương Sỹ Hùng bàn đến văn hóa và tư tưởng trong một nhà chính trị lỗi lạc, một danh nhân văn hóa. Mỗi bài thơ trong mỗi chuyến đi của chủ tịch Hồ Chí Minh là một bản tuyên ngôn về văn hóa và tình yêu con người của dân tộc Việt Nam, vừa mới giành được độc lập sau một thời gian dài làm nô lệ và kể cả trong những ngày bị tù đày. Lúc đó, thế giới có thể chưa hiểu nhiều về Việt Nam thì qua những bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, họ sẽ thấy được từng nét bản chất văn hóa, tư tưởng và khát vọng của con người Việt Nam. Và những bài thơ như vậy chính là những diễn văn tin cậy nhất của một lãnh tụ cao nhất, công bố về tổ quốc mình. Khi chúng ta hiểu được tình thế của Việt Nam trong bối cảnh lịch sử đó, chúng ta sẽ hiểu giá trị lớn lao trong những chuyến đi và những bài thơ được sáng tác trong hoặc từ những chuyến đi đó để tạo nên khát vọng của một con người và một vị thế mới của dân tộc.
     Bàn về những tác phẩm thi ca của thi hào Nguyễn Du, chọn Truyện Kiều là một lẽ đương nhiên. Nhưng ở đây giáo sư, tiến sỹ Trương Sỹ Hùng đã chọn Văn chiêu hồn và đã làm sáng tỏ vô cùng sâu sắc một áng văn thực sự bất hủ không chỉ của thi ca Việt Nam, mà còn là của thi ca nhân loại. Với sự am hiểu sâu sắc về thể loại, với những đặc tính và ngôn ngữ thể loại của Văn chiêu hồn, tác giả đã cho người đọc thấy được tư tưởng nhân loại của thi hào Nguyễn Du. Với cách tiếp cận đầy cảm hứng và khoa học, giáo sư, tiến sỹ Trương Sỹ Hùng cho thấy thơ ca của đại thi hào Nguyễn Du chứa đựng tính nhân bản cao cả của người Việt Nam, ở đó cho thấy độ sâu của tư tưởng, sự huyền diệu của tiếng Việt
     Mỗi bài thơ được giáo sư, tiến sỹ Trương Sỹ Hùng mở rộng ra với tất cả những gì liên quan trực tiếp và gián tiếp đến bài thơ đó. Chính vì thế nhà nghiên cứu đã cho chúng ta nhìn thấy một chiều kích khác của những bài thơ mà chúng ta đã từng đọc. Ngoài những vấn đề của văn hóa và lịch sử liên quan đến bài thơ hoặc là thời đại mà bài thơ ra đời, những phân tích, theo “cảm thức” của Trương Sỹ Hùng còn cho chúng ta thấy được tuổi thơ, gia đình, công việc, bạn bè của nhà thơ. Tất cả những điều đó nhằm dựng lên một bộ hồ sơ hoàn hảo nhất về chủ thể sáng tạo. Bởi tất cả những điều đó đều có tác động, ảnh hưởng đến cảm quan, tư duy, ngôn ngữ và tư tưởng của nhà thơ và rồi nó được hiện ra trong ngôn từ, hình ảnh, biểu tượng và cấu trúc của tác phẩm.
     Giáo sư, tiến sỹ Trương Sỹ Hùng thấu hiểu sự sinh ra của một bài thơ. Đó chính là lý do ông dựng lên một bộ “hồ sơ” quan trọng về cuộc đời nhà thơ, về các mối quan hệ xã hội, về những biến cố lịch sử trong thời đại nhà thơ sống, về môi trường văn hóa mà nhà thơ tiếp nhận….Tất cả những điều đó trực tiếp hoặc gián tiếp tạo nên cảm hứng và tư tưởng cho những sáng tạo của nhà thơ. Và để hiểu một cách đầy đủ nhất một tác phẩm thi ca, người đọc cần hiểu rõ mọi liên quan đến đời sống tinh thần của nhà thơ đã sáng tác ra tác phẩm thi ca ấy.
     Thông qua những cảm nhận, những nghiên cứu và việc giải mã các hình ảnh, biểu tượng…của tác phẩm thi ca, nhà nghiên cứu Trương Sỹ Hùng đã từng bước làm sáng tỏ và cho người đọc thấy được lịch sử, văn hóa, tư tưởng và chiều kích của tiếng Việt. Người đọc không chỉ được tiếp tận vẻ đẹp thi ca Việt, ngôn ngữ Việt, tâm hồn Việt mà còn tiếp cận với cả một nền văn hóa, một lịch sử dân tộc được tác giả dựng lên từ những tác phẩm thơ cụ thể. Với cách cảm nhận và nghiên cứu của mình, tác giả Trương Sỹ Hùng đã dựng lên tinh thần tôn vinh văn hóa dân tộc thông qua tôn vinh những giá trị thơ ca cũng như kêu gọi sự tôn kính với văn hóa truyền thống và kêu gọi lòng yêu nước. Cách tiếp cận thi ca của ông khác với cách tiếp cận thi ca của những nhà phê bình, nghiên cứu văn học khác. Đó cũng là một trong những nguyên nhân làm cho bạn đọc nhận ra những góc nhìn mới mẻ của những tác phẩm thi ca, tưởng như đã được mặc định một cách nhìn trong hàng chục, hàng trăm năm qua.
     Đóng góp của giáo sư, tiến sỹ Trương Sỹ Hùng là một đóng góp quan trọng trong nghiên cứu khoa học về thi ca Việt Nam hay nói rộng hơn là nghiên cứu về ngôn ngữ Việt, tâm hồn Việt, minh triết Việt và văn hóa Việt.


    

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2020

CÓ NHỮNG BÊN THUA CUỘC KHÁC

  
Bác Hồ duyệt đội danh dự Quân đội Xô Viết trong chuyến thăm Liên Xô 1955
Bài: Đinh Hoàng Thắng
 
Thế giới là cuộc cờ vĩ đại mà các cường quốc thường là những “tay chơi cờ độn nước”. Kẻ thức thời biết dựa vào loại cờ nào. “Ai cho kén chọn vàng thau tại mình”. Cờ Tàu, tốt muôn đời vẫn là con tốt, kể cả khi nó chiếu được tướng. Cờ Tây, chơi đến tận hàng cuối, tốt có thể về hậu. Nhưng cờ Tây thì phải đi với nhau đến tận cùng mới có kết quả. Phải biết gắn mình vào thế trận chung với các quân cờ khác, dù đó là vua hay hậu, tượng, xe, để đi đến thắng lợi.

Hệ tư tưởng trong chiến tranh Việt Nam nhiều khi chỉ là lớp vỏ bên ngoài. Ta – Tây – Tàu, giữa đồng chí cùng “phe” vẫn thấu thị được bản chất các sáo ngữ. Sau chiến tranh, những tưởng ý thức hệ hết chỗ đứng. Nhưng không! Cứ mỗi thập kỷ qua đi, dưới lá bài “cùng chung vận mệnh”, một dạng hệ tư tưởng trá hình, Bắc Kinh lại đạt được những bước tiến mới trên con đường độc chiếm Biển Đông và bành trướng xuống Đông Nam Á. Cái “vỏ” bốn tốt và mười sáu chữ vàng liệu có cứu được Việt Nam thoát khỏi cuộc xung đột mới trên đất liền hoặc ở tận mãi ngoài các đảo xa?

“Ông Liên Xô bà Trung Quốc…”

45 năm về trước, ngày 15/5/1975, tại một cuộc mit-tinh lớn ở Hà Nội, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn khẳng định, thắng lợi từ cuộc kháng chiến của Việt Nam “cũng là thắng lợi của các lực lượng xã hội chủ nghĩa”. Mặc dầu tuyên bố thế, nhưng vốn “đi guốc trong bụng” Trung Quốc và Liên Xô nên ông Lê Duẩn biết rất rõ, 30/4/1975 chính là ngày mà ý chí độc lập của người Việt đã cho “đo ván” những kẻ muốn lợi dụng ý thức hệ để chia cắt đất nước, đẩy dân tộc Việt Nam vào cuộc phân tranh dai dẳng.

Chỉ cần “soi” các mục tiêu sâu xa của cả Liên Xô lẫn Trung Quốc suốt thời kỳ chiến tranh, có thể thấy anh Cả lẫn anh Hai hẫng hụt như thế nào trước các hiệu ứng ngày 30/4/1975. Bắc Kinh từ 1954 bằng mọi cách đã thao túng Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, với mục tiêu kéo dài, nếu có thể thì vĩnh viễn, chia cắt giải đất hình chữ S, biến nó thành khu đệm để Trung Quốc làm quân bài ngã giá với Mỹ hay cạnh tranh với Liên Xô. Mục tiêu xa hơn nữa là trong quá trình “chống lưng” cho Việt Nam và các lực lượng cộng sản châu Á, Trung Quốc luôn luôn rắp tâm dọn đường để đưa hàng triệu nông dân từ đại lục tràn ngập lãnh thổ Đông Nam Á.

Liên Xô, khiêm tốn hơn, chẳng có tham vọng lãnh thổ hay di dân. Tuy nhiên, khi đấu tranh võ trang ở miền Nam có dấu hiệu mạnh lên, lo sợ ảnh hưởng đến đường lối “chung sống hoà bình”, Mátxcơva đã đe Hà Nội chớ giải phóng nửa nước bằng con đường bạo lực! “Đốm lửa” ấy có thể thiêu rụi cả “cánh đồng” cách mạng. Đấy cũng là căn nguyên của cuộc sát phạt “xét đi… xét lại” gây báo tang thương cho một bộ phận tinh hoa trong nội bộ cộng sản Việt Nam. Nhưng với diễn tiến các sự kiện, về sau Mátxcơva đã lần lượt cho hàng loạt đoàn tàu chở đầy ắp các thiết bị và khí tài quân sự sang Hà Nội để viện trợ cho chiến trường.

Một mặt, Liên Xô dùng Việt Nam kềm chân Mỹ, để bản thân được rảnh tay ở trời Âu, đối phó với cả Tây lẫn Đông Âu. Mặt khác, muốn “làm le” với thế giới về sức mạnh của ba dòng thác, dùng cuộc kháng chiến của Việt Nam để khuếch trương thanh thế với tư cách là “thành trì của cách mạng thế giới”. Bên tung bên hứng! Về phần mình, Việt Nam cũng tự nhận đất nước là nơi tập trung các mâu thuẫn thời đại, cho nên “nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa/ vui gì hơn làm người lính đi đầu/ trong đêm tối, tim ta thành ngọn lửa!” (Tố Hữu).

Tuy nhiên, “soi” từ cấp độ đại chiến lược, các đế chế như Trung Hoa hay Xô Viết ít khi chịu làm tù binh cho bất cứ một phương án duy nhất nào. Họ bao giờ cũng chuẩn bị nhiều con bài trong tay cùng một lúc. Nếu cho rằng cả Bắc Kinh lẫn Mátxcơva cũng đều lãnh đủ như các “bên thua cuộc” khác với hệ quả không đảo ngược thì quả là không đúng. Ngay cả trước năm 1975, khi chủ trương ép Việt Nam đánh Mỹ theo tiến độ riêng của mỗi nước thất bại, Trung Quốc và Liên Xô vẫn gây cho Việt Nam một số khó khăn.

Lịch sử ghi lại hai sự kiện ngoại giao chấn động: chuyến thăm Bắc Kinh (tháng 2/1972) và Mátxcơva (tháng 5/1972) của tổng thống Richard Nixon. Nixon đến Trung Quốc, dù lúc bấy giờ giữa hai nước chưa có quan hệ ngoại giao, nhằm ép Hà Nội ký một hiệp ước hòa bình có lợi cho Mỹ. Nixon hy vọng, sự xích lại gần nhau giữa Mỹ với hai đồng minh hàng đầu của Hà Nội sẽ khiến cho Bắc Việt Nam nhượng bộ trong các cuộc hoà đàm Paris. Nhất là về cuối, lãnh đạo Liên Xô bắn thông điệp muốn Việt Nam kết thúc cuộc chiến tranh tỏ ra tốn kém đối với đất nước này.
 Tự nhận là “NATO phương Đông”
    Ngày 15/5/1975, trong khi Bí thư thứ nhất Lê Duẩn từ Hà Nội đang nhiệt liệt gửi đến nhân dân Camphuchia anh em – bạn chiến đấu cùng chiến hào – “lòng biết ơn vô hạn và tình đoàn kết sắt son”, thì một số đơn vị bộ đội Việt Nam, với súng AK và ba lô con cóc, chỉ sau có một bữa trưa duy nhất liên hoan mừng thắng lợi (đúng trưa 15/5), đã lại lên đường ra tiền tuyến, giáp chiến với Khmer Đỏ đang say máu “cáp Duồn” (chặt đầu người Việt) ngay tại các tỉnh trên biên giới Tây Nam.
    Nhưng cũng gần 4 năm sau thời điểm ấy, chiều 11/4/1979, đại sứ Trung Quốc bên cạnh “Khmer Dân chủ” quần áo nhếch nhác bẩn thỉu, nước mắt đầm đìa, đã cùng với bảy đồng nghiệp, nuốt hận đào tẩu qua đất Thái Lan. Lần đầu tiên, đại diện của một vương triều trung tâm (Trung Quốc) buộc phải rút khỏi vùng đất chư hầu (Campuchia). Bỉnh bút Naya Chanda trong tác phẩm “Vietnam’s Invasion of Cambodia, Revisited” đã mô tả khoảnh khắc 41 năm về trước, khi các cố vấn Trung Quốc buộc phải lang thang trong rừng già Campuchia suốt 61 ngày, ngủ trong các lều lợp cỏ tranh, ăn đồ hộp trên đường tháo chạy.
    Tuy nhiên, mẻ lưới lớn trước đó Trung Quốc đã “cất” được vào tháng 10/1971 là thay thế Trung Hoa Dân quốc nắm giữ chiếc ghế hội viên thường trực tại HĐBA/LHQ. Trung Quốc trở thành một trong những trung tâm quyền lực có tiếng nói và ảnh hưởng trên vũ đài thế giới. Bắc Kinh còn tự xưng là “NATO phương Đông”, khi Đặng Tiểu Bình sang tận Mỹ để tìm kiếm nguồn đầu tư cho nền kinh tế đang yếu kém của mình. Sau thời điểm đó, Trung Quốc trắng trợn cưỡng chiếm biển đảo của Việt Nam, mở các gọng kìm trên mặt trận Tây Nam, biên giới phía Bắc và làm chảy máu Việt Nam suốt hơn 10 năm ở Campuchia…
    Nếu giải ảo sâu hơn các động lực chiến lược, trước khi cuộc chiến kết thúc, Trung Quốc đã chuyển chính sách trên đại cục cũng như trong quan hệ với Việt Nam. Tiên liệu được kết quả của chiến tranh, Trung Quốc nhanh chóng triển khai ngay những quân bài mới. Trước lúc Dương Văn Minh gặp đại diện “bên thắng cuộc”, Trung Quốc đã cho người bắt liên lạc, động viên “Big Minh” cầm cự, hứa sẽ đổ quân tiếp viện, giúp Sài Gòn dựng chính quyền mới ở miền Tây Nam bộ.
    Sự thật hắc ám nói trên không chỉ được biết đến qua tiết lộ của Dương Văn Minh, mà còn qua nhiều phản ứng cấp thời, cả công khai lẫn bí mật, của ban lãnh đạo Ba Đình. Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch từng nhận xét, trong quá trình điều chính sách, Trung Quốc đổi đồng minh như thay đồ lót. Một trong những thay đổi lớn hồi bấy giờ chính là “cái bẫy” mang tên Khmer Đỏ mà Trung Quốc đã dựng ra trước đấy để hiện thực hoá mưu đồ, không chia cắt được thì tiếp tục làm cho Việt Nam “chảy máu”. 
    Vậy là thời kỳ khoác áo ý thức hệ như những anh em đồng chí giữa Hà Nội và Phnom Penh dưới sự bảo trợ của Bắc Kinh chấm dứt. Chiến lược lợi dụng hệ tư tưởng lúc bấy giờ không còn tác dụng. Cùng khi ấy, chính sách dùng Việt Nam tiêu hao “đế quốc Mỹ”, để Liên Xô tạo thế cân bằng vũ khí chiến lược trên toàn cầu cũng “cuốn theo chiều gió”. Nghiêm trọng hơn, giai đoạn liền kề, Liên Xô ngày càng mắc phải mưu sâu kế hiểm, rơi vào vòng xoáy của chiến tranh lạnh và bị kiệt sức trong cuộc chiến tranh giữa các vì sao.

Tuy nhiên, do bất an trước các mối hiểm hoạ thường trực của Trung Quốc, chỉ sau cột mốc 30/4/1975 ba năm, vào ngày 3/11/1978, Hà Nội đã ký với Mátxcơva “Hiệp ước hữu nghị và hợp tác”. Hiệp ước là một văn kiện “có ý nghĩa chính trị xuất sắc” (lời Tổng Bí thư Brejnev). Nhưng chính văn kiện xuất sắc ấy đã cung cấp như một cái cớ để Trung Quốc “dạy cho Việt Nam bài học”. Điều này cho thấy “lá nho” ý thức hệ không chỉ bị xung đột Xô – Trung chôn vùi dưới lòng sông Ussuri năm 1969, mà tình đoàn kết Việt Nam – Campuchia, Việt Nam – Trung Quốc cũng bị tan thành mây khói trong các trận đánh đẫm máu trên chiến trường biên giới Tây Nam (1979) và chiến tranh biên giới phía Bắc (từ 1979 đến 1989).
    Liên Xô – Bên thua cuộc kép
    Trên thực tế, Liên Xô đã phải gánh chịu một tình huống “thua cuộc kép”. Chiến tranh kết thúc đã tước mất “cái bẫy để kìm chân Mỹ”, đồng thời Mátxcơva không đủ lực để bảo vệ Hà Nội khỏi sự trừng phạt của Bắc Kinh. Trong khi ấy, khủng hoảng về kinh tế – xã hội trên đất nước Xô viết ngày càng bộc lộ rõ. Việt Nam và Liên Xô không thể tiếp tục thực thi bản Hiệp ước như cũ. Trên một số lĩnh vực, hợp tác song phương bắt đầu có nhiều dấu hiệu suy giảm. Mátxcơva cắt dần viện trợ cho Hà Nội.
   Thậm chí, đế chế Xô Viết lại dấn bước trên “con đường đau khổ” mới. Liên Xô tiếp tục bị “toang” ở Đông Âu. Để tranh thủ Trung Quốc, Mátxcơva đành phải gây sức ép buộc Hà Nội sớm đưa ra một thời gian biểu rút quân triệt để và dứt khoát khỏi Campuchia. Tình trạng “thua cuộc kép” này của CCCP và sự tụt giảm trong các mối quan hệ Việt – Xô kéo dài cho đến khi Liên Xô và cả hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ hoàn toàn vào năm 1991. Và cái kết cục bi thảm của “tấn trò đời” ý thức hệ lần này cũng chính là sự tiếp nối các tình tiết “sông Ussuri 1969” và “Mekong 1979” mà thôi.
    Như vậy, ý thức hệ thực ra đã chết trong các cuộc đánh nhau giữa Liên Xô với Trung Quốc, Việt Nam với Campuchia, Trung Quốc với Việt Nam. Nhưng chủ nghĩa dân tộc – câu chuyện ngàn năm ấy – bao giờ cũng mới và có sức sống mãnh liệt. Vấn đề được thua trong mọi cuộc xung đột chỉ mang ý nghĩa tương đối. “Trong mọi cuộc chiến tranh bất kể bên nào thắng thì nhân dân đều bại”. Nguyễn Duy đã đúng! Chỉ có người Việt, từ cả hai chiến tuyến, chịu mất mát và khổ đau. Còn các ông lớn – Mỹ, Liên Xô hay Trung Quốc – họ đều tính lỗ lãi theo hệ giá trị riêng của mỗi bên liên quan đến cuộc chiến. Các cuộc chiến tranh Đông Dương không phải là ngoại lệ.
    Điều lạ lẫm là ngay cả khi Trung Quốc và Liên Xô đã sớm gạt bỏ vai trò bung xung của hệ tư tưởng để đi vào “bốn hiện đại hoá” (1976) và “перестройка” (cải tổ, 1986), thì lãnh đạo Việt Nam, tuy đã giương ngọn cờ “đổi mới” (1986) nhưng vẫn kiên định chủ nghĩa quốc tế vô sản, vẫn gắn “độc lập dân tộc” với “chủ nghĩa xã hội”. Bắc Kinh hẳn nhiên đã lợi dụng và gây sức ép tối đa qua các chủ trương nửa vời này (appeasement), buộc Hà Nội đi vào hội nghị Thành Đô (9/1990), để lại những hệ luỵ về sự can dự của Trung Quốc đối với hậu trường chính trị Việt Nam cho mãi tới tận hôm nay.
     Theo Địa-chính trị trong chiến tranh Việt Nam của James Burnham, chuyên gia phân tích từ Cơ quan Tình báo Chiến lược (OSS), tiền thân của Cục Tình báo Mỹ CIA, lịch sử dường như lặp lại một vòng tròn định mệnh. Trong một báo cáo đề ngày 20/11/1964, Burnham nhận xét: “Cuộc chiến tại Việt Nam không phải là vấn đề địa phương, vấn đề cục bộ. Đó là một chiến trường quan trọng trong cuộc tranh giành châu Á, Tây Thái Bình Dương và Biển Đông”.
    Hơn nửa thế kỷ, Biển Đông giờ đây lại dậy sóng dữ. Nhưng lần này, “các vai diễn” thay đổi và lời tiên đoán năm xưa của Kissinger (Việt Nam sẽ phải nhờ Mỹ để xử lý mối bang giao với Trung Quốc) dường như được chứng nghiệm. Covid-19 đảo lộn nhiều thứ, nhưng có một thứ bất biến. Đó là mâu thuẫn Trung – Mỹ sau đại dịch sẽ không thuyên giảm, thậm chí nhiều chuyên gia đánh giá một cuộc chiến tranh thế giới mới, mang tính tổng lực đã/đang diễn ra trên thực tế. Tình trạng Washington và Bắc Kinh nặng lời công kích và tiến hành trả đũa lẫn nhau trên mọi phương diện đang truyền đi những tín hiệu báo động đến hầu hết các chuyên gia về an ninh quốc tế.
    Nói bang giao Việt – Mỹ quan trọng, nhưng nó luôn quan trọng vì nhân tố thứ ba là nhìn nhận từ cái lăng kính địa-chính trị nghiệt ngã nói trên. Hiện nay, cuộc cờ khu vực/thế giới ngả theo hướng: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga và châu Âu đều đang trải qua những biến động dữ dội, khôn lường qua đại dịch Vũ Hán. Mỹ và Trung Quốc đều đang cố gắng khai thác tối đa thất bại của phía bên kia để phục vụ cho lợi ích đối nội, đối ngoại. Các nước đều đang khai triển những bước khác nhau nhưng cùng chuẩn bị cho một cuộc thư hùng mới trong tương lai.
    Mỹ Trung giành nhau “chiếu trên” để tái định hình trật tự thế giới, Liên bang Nga (tuy GDP chưa bằng Italy, chỉ ngang một tỉnh lớn của Trung Quốc) vẫn mơ “giấc mơ” của Liên Xô cũ về tầm ảnh hưởng ở Á – Âu. Nói lại câu chuyện “ông Liên Xô bà Trung Quốc/ ông đi guốc bà đi giầy…” trên bối cảnh này là để làm nổi bật cái minh triết của người dân Việt, cái hằng số bất di bất dịch trong bang giao quốc tế. Mọi quốc gia trên đời, lúc nào và bao giờ cũng hành động xuất phát từ lợi ích quốc gia – dân tộc. Mọi mỹ từ vàng son hay có cánh đều chỉ để che đậy cái thực tế nghiệt ngã bên trong.
   “Vỏ” ý thức hệ, “ruột” Đại Hán
    Thật ra từ năm 1968, nhà tình báo vĩ đại Phạm Xuân Ẩn, trong một báo cáo mật gửi về Trung tâm, đã thể hiện tầm nhìn sáng suốt của mình khi ông phân tích: “Cuộc đấu tranh chống Mỹ là trước mắt và có thời gian, nhưng kẻ thù nguy hiểm và lâu dài nhất sau này của Việt Nam chính là Trung Quốc, chứ không phải là Mỹ”. Xin được nhắc lại là từ 1968, con người có tên như cuộc đời ấy đã khẳng định như thế. Không rõ, văn phòng giúp việc các Tổng bí thư ĐCSVN sau này, có sao lưu bức điện với nội dung chiến lược quan trọng ấy cho các thế hệ lãnh đạo sau 1990?
    Nhiều nhà nghiên cứu khác trong và ngoài nước cũng đều nhấn mạnh đến cái gọng kìm địa-chính trị của Trung Quốc đối với Việt Nam là vấn nạn thiên thu, dù dưới màu sắc ý thức hệ như thời chiến tranh hay là tham vọng Đại Hán như ngày nay. Và vị thế địa chính-trị ấy cũng lại là con dao hai lưỡi, nó có thể giúp đất nước vươn lên, nhưng cũng có thể đẩy lùi một Việt Nam loay hoay giữa ngã ba đường vào thời kỳ Bắc thuộc mới và kéo dài như sinh thời ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã cảnh báo.
    Trong công hàm gần đây nhất ngày 17/4/2020 gửi Tổng thư ký LHQ, Trung Quốc đã “cương quyết yêu cầu Việt Nam rút tất cả người và vật dụng trên các đảo và đá ở Trường Sa”. Rõ ràng, giải pháp đối với Việt Nam lúc này là phải sớm hội nhập vào không gian Ấn Thái Dương tự do và rộng mở (FOIP) để huy động bằng được sức mạnh toàn diện của dân tộc và của quốc tế. Khó có thể tin rằng sự giàn xếp sau hậu trường giữa hai đảng cộng sản về “kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội” hay “vận mệnh tương thông, văn hoá tương đồng” có thể làm thay đổi chính sách “sát ván” của Bắc Kinh đối với Hà Nội.
    Càng để lâu tình hình bất định như hiện nay, Việt Nam càng tiếp tục bị Trung Quốc lợi dụng, thế giới hiểu nhầm. Trung Quốc đang gấp rút biến các đảo cưỡng chiếm thành chuỗi căn cứ giúp họ có đủ sức mạnh để cấm đoán tàu bè qua lại. Bắc Kinh hoàn toàn phớt lờ các phản kháng của Hà Nội, khiến cho sự chia rẽ trong nội bộ Việt Nam ngày càng sâu sắc.
    Thế giới là bàn cờ vĩ đại mà các cường quốc thường là những tay “chơi cờ độn nước”. Việt Nam muốn hay không cũng đang trong bàn cờ chung ấy. Vấn đề là phải thức thời, biết chọn chơi loại cờ nào? “Còn như vào trước ra sau/ Ai cho kén chọn vàng thau tại mình” (Kiều của Nguyễn Du). Cờ Tàu, tốt muôn đời vẫn là con tốt, kể cả khi nó chiếu được tướng. Cờ Tây, chơi đến tận hàng cuối, tốt có thể về hậu. Việt Nam có cơ để trở thành một cường quốc tầm trung. Nhưng cờ Tây thì phải đi với nhau đến tận cùng mới có kết quả. Phải biết gắn mình vào thế trận chung với các quân cờ khác, dù đó là vua hay hậu, tượng, xe, để đi đến thắng lợi.
    Có thể chia sẻ với TS. Đỗ Kim Thêm từ “Diễn đàn Thương mại và Phát triển LHQ” (UNCTAD): Tỉnh thức về thân phận của dân tộc là vấn đề kiến thức, xác định ý muốn để thay đổi là vấn đề của quyết tâm chính trị, vấn đề của sự chọn lựa! Chúng ta cùng giúp nhau tỉnh thức trong tình tự dân tộc. Đất nước đang đứng trước nguy cơ! Hy vọng, hồn thiêng sông núi vẫn phù hộ cho con dân nước Việt. Đất nước mỗi khi lâm nguy chắc chắn sẽ xuất hiện một Trần Nhân Tông hay một Lê Thánh Tông, kể cả nếu gốc gác là nông dân thì chí ít cũng phải có một khát vọng lớn như anh hùng áo vải Nguyễn Huệ.

*

   Sự hung hăng của Trung Quốc trong cuộc trường chinh “Nam tiến” ngày càng đặt Việt Nam trước tình thế không thể kéo dài mãi chính sách “lửng lơ con cá vàng”. Việt Nam không thể chần chừ giữa ngã ba đường. Người dân sau đại dịch đang kỳ vọng lãnh đạo sẽ chớp được thời cơ có một không hai hậu Covid-19 để hành động. Phải khắc phục ngay tình trạng không bình thường trong nội trị và ngoại giao. Bời những ai quan tâm đến thời cuộc đều lấy làm tiếc, vì niềm tin của quần chúng vừa mới le lói sau đại dịch nay lại đang mất dần qua phiên giám đốc thẩm về tử tù Hồ Duy Hải, hay xử sơ thẩm vụ người mẹ đơn thân đánh BOT Huệ Như.
    Liệu cái khung khổ “cùng chung vận mệnh” có cứu Việt Nam thoát khỏi một cuộc xung đột mới do Trung Quốc gây ra trên đất liền hoặc ở tận mãi ngoài các đảo xa? Liệu lời kêu gọi phải bám chặt lấy thị trường Trung Quốc để phát triển có khả thi, khi cả về trình độ marketing lẫn tiền bạc doanh nhân Việt vẫn còn dưới cơ các nhà buôn Tàu. Nhưng xử lý các vấn đề làm ăn với Trung Quốc như thế nào khi như chính các chuyên gia phải thừa nhận, chúng ta chưa có chủ nghĩa dân tộc về kinh tế? Các chuyên gia cảnh báo rằng, bối cảnh cả chính trị lẫn kinh tế hiện nay khác xa với năm 2000, nhất là giờ đây Trung Quốc đã chế ngự được Lào và Campuchia, khóa chặt lối ra bán đảo Đông Dương của Việt Nam.
   

Để có thêm thông tin mời xem:

Quyết tâm xây dựng Việt Nam thành một nước văn minh, giàu mạnh, vươn lên đỉnh cao của thời đại: Diễn văn đọc tại cuộc mit-tinh lớn ở Hà Nội mừng chiến thắng (Ngày 15 tháng 5 năm 1975).


Vài nét về quan hệ Việt Nam – Liên Xô từ năm 1975 đến năm 1990

The Geopolitics of the Vietnam War

Richard Nixon, Henry Kissinger và Sự sụp đổ của Miền Nam

Hội nghị Thành Đô

Việt Nam và Trung Quốc không còn “thắm tình anh em” vì Biển Đông?

Chiến Tranh Lạnh và Thân Phận Việt Nam

https://www.rfa.org/vietnamese/news/blog/what-can-vn-do-to-confront-china-in-scs-05042020112008.html Khả năng đối phó của Việt Nam trước dã tâm của Trung Quốc ở Biển Đông

Đâu là nguyên nhân cuộc chiến Việt-Trung tháng Hai năm 1979?

Trung Quốc trong trật tự thế giới

Nguyễn Trần Bạt: Cần bám chặt lấy thị trường Trung Quốc một cách khôn ngoan để phát triển kinh tế

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2020

BÀI HỌC LẠC QUAN CÁCH MẠNG VÀ DỰ BÁO CHIẾN LƯỢC QUA NHẬT KÝ TRONG TÙ


Hướng tới 130 năm ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, sáng 17 tháng 5 năm 2020, viện Trí Việt thuộc Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam đã tổ chức tọa đàm khoa học Tinh hoa tư tưởng đạo đức phong cách Hồ Chí Minh tại Hà Nội. Khá nhiều giáo sư, tiến sĩ, các nhà nghiên cứu…từ các trường đại học và các viện chuyên ngành trong Nam, ngoài Bắcđã tham dự. TMT xin giới thiệu  bài một tham luận đã được trình trong cuộc họp.


TRƯƠNG SỸ HÙNG
                                               (Trung tâm nghiên cứu văn hóa Minh Triết)

Khổ thứ ba bài thơ Song thập nhất (双十一) trong Nhật ký trong tù là bốn câu thơ chữ Hán, tương đương tiếng Việt là:

 Kháng Nhật cờ bay khắp Á châu

Cờ to cờ nhỏ chẳng đều nhau

Cờ to đã hẳn là nên có

Cờ nhỏ dù sao thiếu được đâu!

                                     (Nam Trân) (1)

Nguyên văn:

满亚洲  Kháng Nhật tinh kỳ mãn Á châu

   Tinh kỳ đại thiểu hữu sai thù

   Tinh kỳ đại đích cố tu hữu

        Tiểu đích kinh kỳ hữu khả vô

     Đó là cảm xúc của một nhà chiến lược cách mạng vĩ đại, một thi sĩ lớn, nhân dịp kỉ niệm 26 năm ngày 11 tháng 11, kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918). Đây không phải tùy hứng ngẫu nhiên, do tác giả bắt gặp lượng thông tin báo chí mà chính là sự nắm bắt thực tế, suy ngẫm thời thế, bởi trước khi xảy ra chiến tranh ba năm - năm 1911 Hồ Chí Minh thời trẻ có tên là Nguyễn Văn Ba, đã làm công nhân phục vụ trên tàu Amiral Latouche Tréville, lênh đênh trên đại dương và đã ghé khắp các miền lục địa Âu, Á. Vả lại, trưởng thành ở tuổi 25 - 30 lại thông minh sắc sảo khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất diễn ra, Người thực sự là nhân chứng sống. Giờ đây nhà thơ Hồ Chí Minh hiện đang bị giam trong nhà tù địa phương. Tưởng Giới Thạch (蔣介石1887 - 1975) đương chức là Đảng trưởng Quốc dân đảng. Trên “vũ đài lịch sử rất phức tạp này, Tưởng Giới Thạch đã diễn xuất khó khăn lạ thường. Ngoài việc phải tranh giành thiên hạ với Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông không những phải chiến thắng với những người đứng đầu Quốc dân đảng có tư cách và danh vọng cao như Uông Tinh Vệ, Hồ Hán Dân, mà còn phải đánh bại các phái thực lực ở địa phương đang ôm binh quyền giữ thế…mà Tưởng muốn tước cõi, cắt quân số, dồn tất cả quyền lực về trung ương” cũng chưa được. Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã và đang diễn ra gay gắt. Với châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng, đánh đuổi Pháp - Nhật từng bước trở thành nhu cầu cấp bách, nhằm mục đích giải phóng dân tộc.

Những năm ba mươi của thế kỷ XX,  Hồ Chí Minh lúc ấy lấy tên Nguyễn Ái Quốc để giữ bí mật khi hoạt động trong phong trào Quốc tế Cộng sản. Đế quốc thực dân Pháp - Anh đã liên kết với nhau bắt giam (1931 - 1933), và định sát hại Người tại Hồng Kông nhưng không thành. Cùng lúc đó, Tưởng Giới Thạch đã và đang tiến hành nhiều cuộc vây quét đánh chiếm các căn cứ địa của Đảng Cộng sản Trung Quốc, buộc Đảng Cộng sản Trung Quốc phải tiến hành cuộc di chuyển quân đội, gọi là cuộc Vạn lý trường chinh, rút về khu căn cứ Thiểm Tây, rồi tụ lại ở Bắc và Tây Bắc Trung Quốc. Thực chất đây là một cuộc nội chiến dai dẳng. Vùng Nam, Đông Nam gần như là vùng tạm thời kiểm soát của chính quyền Quốc Dân đảng. Đế quốc Nhật đẩy mạnh hoạt động xâm lược Trung Quốc. Ba lần Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trương bắt tay thân thiện với Quốc dân Đảng để cùng nhau đánh đuổi ngoại xâm, chương trình còn có tên gọi "Quốc Cộng hợp tác" để chống Nhật, nhưng Tưởng Giới Thạch không hợp tác. Khi xảy ra “sự biến Tây An”, Trương Học LươngDương Hổ Thành làm cuộc binh biến, bắt giữ Tưởng Giới Thạch, nhằm gây áp lực buộc Tưởng Giới Thạch hợp tác, song không có kết quả như ý muốn. 42 tướng lĩnh chỉ huy của Quốc dân Đảng bỏ sang đội ngũ quân xâm lược Nhật Bản. Dù đã tuyên chiến với Đức và Ý nhưng chính quyền Quốc dân Đảng vẫn không vận động chủ trương chống chủ nghĩa phát xít. Tình trạng hỗn độn về an ninh xã hội và tư tưởng chính trị bất hòa kéo dài trong nội địa Trung Quốc đến ngày 01 tháng 10 năm 1949; khi nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập mới tương đối ổn định. Đúng là: “Toàn bộ lịch sử ngoại giao và lịch sử kinh tế Viễn Đông đã làm cho người ta hoàn toàn tin chắc rằng trên cơ sở của chủ nghĩa tư bản, không thể nào ngăn cản được sự thay đổi sâu sắc ngày càng chín muồi giữa Nhật Bản và Mỹ.”(2). Vì thế kiểu ngoại giao con thoi thường diễn ra với nhiều góc độ quan hệ, nhiều đảng phái, nhiều xu hướng chính trị, kinh tế khác nhau lẻ tẻ xuất hiện. Hồ Chí Minh là thành viên của Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội chống xâm lược quốc tế đang trên đường đến Trùng Khánh, nhưng bị chính quyền địa phương bắt giữ, không hiểu do vô tình hay hữu ý do nguyên tắc máy móc. Xem ra những hình thức cấu tứ trữ tình trong Nhật ký trong tù cũng có bóng gió chỉ trích:

 

Mỹ đoàn khứ liễu Anh đoàn đáo


 Đáo xứ hân phùng nhiệt liệt tình

 

Ngã dã “phóng Hoa đoàn” nhất bộ


 Khước tao đặc chủng đích hoan nghênh

Bản dịch:

Đoàn Mỹ đi rồi đoàn Anh đến

Khắp chốn mừng reo tỏ nhiệt tình

Ta cũng “một đoàn” thăm quý quốc

Lại dành riêng một lối hoan nghênh.

 (Nam Trân - Hoàng Trung Thông)

Trên đường giải đi bị xiềng xích chân tay khổ ải như thế mà tác giả dùng thủ pháp thơ trào phúng để phô diễn tình cảnh của mình vẫn là được “giành riêng một lối hoan ngênh” thì quả là lạc quan cách mạng, chỉ có ở những bậc chiến sĩ  kiên cường quả cảm. Khi các đại biểu Mỹ, Anh trong phe đồng minh chống phát-xít đến Trung Quốc, đều được chính quyền Tưởng tiếp đãi nhiệt tình; còn Hồ Chí Minh là đại biểu của Việt Nam độc lập đồng minh hội, cũng là đồng minh của Trung Quốc chống phát-xít Nhật, nhưng lại bị chính quyền địa phương của Tưởng giải loanh quoanh đi đến 13 huyện và “mười tám nhà lao đã ở qua”. Sự nhiễu loạn ở Trung Quốc làm cho nhiều phe phái, đảng lập có biết đâu rằng, tiềm ẩn trong tâm trí Hồ Chí Minh đang ngày đêm trăn trở với sự nghiệp cách mạng độc lập dân tộc của Việt Nam. Tìm thêm giải pháp hỗ trợ chưa thấy, lại bị ngược đãi tàn nhẫn, cho nên:

  

 Hoàn cầu chiến hỏa thước thương thiên

  

 Tráng sĩ tương tranh phó trận tiền

   

 Ngục lý nhàn nhân nhàn chiếu mệnh

    

Hùng tâm bất trị nhất văn tiền.

Bản dịch:

Tráng sĩ đua nhau ra mặt trận

Hoàn cầu lửa bốc rực trời xanh

Trong ngục người nhàn nhàn quá đỗi

Chí cao mà chẳng đáng đồng trinh

                                             ( Nam Trân)

Tự trách mình như thế, Hồ Chí Minh nhận thức sáng suốt là do hoàn cảnh nhất thời, nên luôn tự nhắc nhở mình không ngừng rèn luyện trí tuệ, mài sắc ý chí cách mạng sáng tạo linh hoạt:

   

Mễ bị thung thì, hẩn thống khổ

綿 

Ký thung chi hậu, bạch như miên

     

Nhân sinh tại thế dã giá dạng

 

Khốn nạn thị nhĩ ngọc thành thiên

Bản dịch:

Gạo đem vào giã bao đau đớn

Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông

Sống ở trên đời người cũng vậy

Gian nan rèn luyện mới thành công

                          (Văn Trực – Văn Phụng)

Ý chí ấy, tâm nguyện ấy, được nhà thơ chiến sĩ Hồ Chí Minh bộc lộ lúc đang bị giam giữ:


 Ninh tử bất cam nô lệ khổ

    

 Nghĩa kỳ đáo xứ hựu phiêu dương

 

 Khả liên dư tố tù trung khách

 

Vị đắc cung thân thướng chiến trường

Bản dịch:

Thà chết chẳng cam nô lệ mãi,

Tung bay cờ nghĩa khắp trăm miền;

Xót mình giam hãm trong tù ngục,

Chưa được xông ra giữa trận tiền.

                                           ( Nam Trân)

Chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam Hồ Chí Minh vì tình nghi Người là đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc. Là một nhà hoạt động lâu năm trong phong trào cộng sản quốc tế, Hồ Chí Minh nắm bắt rất chắc mọi thông tin về tình hình thế giới nói chung và sâu sát hơn cả là những diễn biến từng ngày, từng giờ ở Trung Quốc và Việt Nam. Tuy nhiên, tính danh Hồ Chí Minh mới lần đầu xuất hiện trên đất Trung Quốc, nên quan lại các cấp huyện, tỉnh của Quốc dân Đảng cũng chưa có cơ hội tìm hiểu. Mặt khác với kinh nghiệm dày dạn trong hoạt động bí mật của Người, nên suốt thời gian bị giam giữ, rồi chúng lại giải Người đi khắp các nhà lao mà vẫn không tìm được chứng cớ buộc tội. Hồ Chí Minh không lạ gì gương mặt chính trị của bản thân Tưởng Giới Thạch trước khi đối lập với  Đảng Cộng sản Trung Quốc. Khi còn tại thế, Tôn Trung Sơn đã từng cử Tưởng Giới Thạch sang Liên Xô học tập kinh nghiệm xây dựng đất nước, và thời trẻ, ông ta cũng đã học sĩ quan quân đội tại Nhật Bản. Không chỉ có thế, Tưởng Giới Thạch còn là người sáng lập và là hiệu trưởng Trường quân sự Hoàng Phố - chính là nơi Nguyễn Ái Quốc từng có quan hệ. Rất biết, nhưng tình thế éo le, lúc này Người đang “bị hiềm nghi tố Hán gian” mà chưa rõ tung tích. Hồ Chí Minh đã chủ động vận dụng lợi thế tự do nhân thân, giữ thế im lặng nhất thời, coi đó như là nguyên cớ duy nhất trong cử chỉ, phát ngôn và xử trí linh hoạt để chiến thắng kẻ thù trước mắt. Vì vậy thời điểm sáng tác tập thơ Nhật ký trong tù đã ghi lùi lại 10 năm (29.8.1932 - 10.9.1933); cũng là thủ pháp nghệ thuật nhằm bịt kín mối nghi ngờ bất thường của đối phương có thể xảy ra. Và rất có thể, tất cả các thi phẩm mang tính “nhật ký” trong tập thơ, luôn luôn là lời tâm sự riêng tư, tự nhắc mình luôn cảnh giác bằng tất cả vốn sống từng trải. Bài học cụ thể trên dưới 10 năm trước, Nguyễn Ái Quốc đã từng chịu đựng tra tấn trong nhà tù của thực dân Anh ở Hồng Kông, không tạo điều kiện gì thuận lợi hơn khi bị Quốc dân Đảng Trung Quốc bắt giam.

Về phía Đảng Cộng sản Trung Quốc, những năm bốn mươi của thế kỷ XX tập thể Bộ chính trị đã tập kết ở Diên An lo củng cố lực lượng kháng Nhật cứu nước. Nhật ký Diên An ngày 18 tháng Tư năm 1943 của P.P. Vla-đi-mi-rốp có nhận định: “Nhật Bản vẫn chuẩn bị tấn công Liên Xô như trước và chú trọng củng cố vị trí của mình ở Hoa Bắc. Quan hệ ngày càng đặc biệt căng thẳng giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc dân Đảng đang khuyến khích Nhật Bản tấn công Liên Xô. Nếu cuộc xung đột ấy biến thành nội chiến, thì hậu phương của Nhật ở Trung Quốc sẽ được đảm bảo vững chắc. Ngoài ra, Nhật có thể đưa thêm nhiều sư đoàn tăng cường cho đạo quân Quan Đông. Các sự kiện đang phát triển theo chiều hướng ấy. Bọn chiếm đóng đang lợi dụng thời cơ và ra sức loan truyền những tin đồn có tính chất khiêu khích Về cuộc đấu tranh chung với Đảng Cộng sản Trung Quốc chống lại Quốc Dân đảng.

Bọn đặc vụ Quốc dân Đảng không chỉ len lỏi vào Diên An, mà vào cả đặc vụ toàn khu. Việc vạch trần bọn đặc vụ đang biến thành một chiến dịch được phát động từ trên xuống. Mao Trạch Đông, Khang Sinh đang cổ vũ chiến dịch ấy. Cả một số lãnh đạo khác cũng bắt đầu hoạt động cảnh sát. Những vụ bắt bớ hàng loạt gây ra một tâm trạng u buồn. Chỉnh phong lại mang thêm những nét quái gở mới.”(3) Không một diễn biến chính trị nào của châu Á và thế giới có thể khiến cho Hồ Chí Minh sao nhãng; nhưng lại phải giữ bí mật nên mối quan tâm sát sao của Người lúc này phải bảo toàn sinh mệnh. Mâu thuẫn lớn nhất trong tâm trí Người là:

       Thân thể tại ngục trung

       Tinh thần tại ngục ngoại

       Dục thành đại sự nghiệp

       Tinh thần cánh yếu đại

Bản dịch của Nam Trân:

Thân thể ở trong lao,

Tinh thần ở ngoài lao

Muốn nên sự nghiệp lớn

Tinh thần phải càng cao

Bị giam giữ trong khắp các nhà tù của Quốc dân Đảng, nhưng  những suy nghĩ lao lung của Hồ Chí Minh vẫn “canh cánh bên lòng” nỗi niềm yêu nước, làm sao đây khi vận mệnh dân tộc đang có cơ hội giành độc lập dân tộc để người dân được hưởng tự do có quyền dân chủ, làm chủ xã hội. Làm gì đây khi bị bắt vì nhà chức trách nghi oan làm gián điệp. Hồ Chí Minh đang giữ Thẻ hội viên đặc biệt của quốc tế tân văn xã, một Chứng minh thư do Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội phản xâm lược quốc tế cấp, và Giấy thông hành do tổ chức Đệ tứ chiến khu cấp. Vin cớ cả ba hình thức giấy tờ tùy thân đều đã quá hạn, Người bị tạm giữ để điều tra, xét hỏi hơn một năm. “Vì vậy mà cụ gầy như que củi. Tóc chóng bạc và rụng nhiều. Mắt nhìn kém. Nhưng cụ khổ nhất là mất thì giờ ngồi không. Trong khi cụ Hồ la lết tấm thân mệt lử từ nhà giam này đến nhà giam khác, có lẽ những việc lớn đang dồn dập trong nước và trên thế giới. Ai khuyên bảo đồng chí ? Ai giúp đỡ đẩy mạnh việc tổ chức ? Có lẽ các nước đồng minh đã đổ bộ lên Đông Dương ? Có lẽ Pháp - Nhật đã cắn nhau ? Có lẽ các đồng chí Đảng Cộng sản Đông Dương và các hội viên Việt Minh đương đau đớn hỏi nhau cụ Hồ đã bị tai nạn gì.

Lòng cụ Hồ rối như tơ vò vì phải ngồi im vô ích trong khi công việc đang đòi cụ và thời gian đi qua không chờ người.”(4)Bên ngoài, ngày 15-5-1943, Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản đã ra quyết định giải tán. Ngày 8-6-1943, Hội nghị cuối cùng của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản ra nghị quyết từ 10-6-1943, tất cả các hoạt động của Quốc tế Cộng sản kết thúc. Dù sao, Quốc tế Cộng sản đã đóng vai trò lịch sử lớn lao trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế từ khi thành lập, đã tạo nên một mốc son sáng ngời trong lịch sử phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, và đã hoàn thành vai trò lịch sử của mình là tuyên truyền Chủ nghĩa Cộng sản, thiết lập chuyên chính vô sản ở một số nước, thúc đẩy sự ra đời hàng loạt các Đảng Cộng sản ở các nước. Các Đảng Cộng sản đó đã trưởng thành về lý luận chính trị, đủ sức lãnh đạo phong trào cách mạng ở từng  nước mà không cần sự lãnh đạo từ một trung tâm quốc tế. Ảnh xạ của Quốc tế Cộng sản vẫn còn dọi sáng đến các Đảng Cộng sản châu Âu, châu Á, châu Phi, và Mỹ Latinh.

Thật là trớ trêu, là “người khách tự do”, là “khách tiên”, là “đại biểu dân Việt Nam”… mà bỗng dưng Người bị bắt giam:

使       

Túc Vinh khước sử dư mông nhục

 

Cố ý trì diên ngã khứ trình
             
 

Gián điệp hiềm nghi không niết tạo
             

Bả nhân danh dự bạch hy sinh
Tương đương tiếng Việt:

        Túc Vinh mà để ta mang nhục,
                  Cố ý làm cho chậm bước mình;
                  Bịa đặt vu ta là gián điệp,
                  Không dưng danh dự phải hy sinh.

                             ( Bản dịch của Nam Trân)

Bình tĩnh lạc quan suy xét, Hồ Chí Minh không một chút tỏ ra bi lụy hay oán trách số phận theo lẽ thường tình, Người vẫn bộc lộ thái độ dứt khoát, tin vào công lý và đòi tự do chính đáng:

       

Tẩu biến cao sơn dữ tuấn nham
     

Na tri bình lộ cánh nan kham
    

Cao sơn lộ hổ chung vô dạng           

 

 Bình lộ phùng nhân khước bị giam

 
   

 Dư nguyên đại biểu Việt Nam dân
 
 

 Nghĩ đáo Trung Hoa kiến yếu nhân
 
    

Vô nại phong ba bình địa khởi
 
 

 Tống  dư nhập ngụ tác gia tân

 
  

  Trung thành ngã bản vô tâm cứu
 
    

Khước bị hiềm nghi tố Hán gian
 
   

Xử thế nguyên lai phi dị dị
 
    
            Nhi kim xử thế cánh nan nan.

Người viết:

Đi khắp đèo cao, khắp núi cao
Ngờ đâu đường phẳng lại lao đao
Núi cao gặp hổ mà vô sự
Đường phẳng gặp người bị tống lao

Ta là đại biểu dân Việt Nam
Tìm đến Trung Hoa để hội đàm
Ai ngỡ đất bằng gây sóng gió
Phải làm “khách quý” ở nhà giam

Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng
Lại bị tình nghi là Hán gian
Xử thế từ xưa không phải dễ
Mà nay, xử thế khó khăn hơn

Biết rằng “nhất nhật tù thiên thu tại ngoại” - nhưng trong hoàn cảnh thực tại -  Hồ Chí Minh đang bị Quốc dân đảng bắt giam vì bị tình nghi là “Hán gian”, dù là tạm giữ thì cũng là mất tự do. Chính ở lý do này, nhà thơ vĩ đại Hồ Chí Minh đã vận dụng khôn khéo nhất, những tri thức luật pháp về quyền tự do của con người, đã được hệ thống hóa ở phương Tây để đưa vào nghệ thuật sáng tạo văn chương. Những câu thơ vừa lấp lánh chút ít ngôn từ triết lý, vừa đậm đà tính nhạc thi ca gây xúc động tâm tư tình cảm của con người ở bất cứ vị trí nào trong xã hội. Không để thời gian trôi đi vô tích sự, những câu thơ như đôi cánh vô hình của Nàng Thơ đã chuyên chở ý nghĩ tự do của tác giả đến với thế giới tự do của con người, đến với chân lý nghệ thuật. Tự nói lên suy nghĩ của mình khi ghi lại nhật ký bằng thơ, Người mở đầu:

        

     Lão phu nguyên bất ái ngâm thi

       

     Nhân vị tù trung vô sở vi

        

    Liêu tá ngâm thi tiêu vĩnh nhật

        

    Thả ngâm thả đãi tự do thì



Bản dịch:

Ngâm thơ ta vốn không ham

Nhưng vì trong ngục biết là chi đây

Ngày dài ngâm đợi cho khuây

Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do

                                       (Nam Trân)

Làm thơ hay viết văn đối với Hồ Chí Minh là công việc thường nhật, dường như người siêng năng lau chùi vũ khí văn hóa cho ngày càng sắc bén, tạo ra lợi ích cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, mang lại tự do cho nhân loại. Nghệ thuật viết của Người ở tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh” càng nhạy bén tinh tường hơn với hiện thực cuộc sống. Dĩ nhiên hình ảnh hiện thực được tái tạo bởi sáng tạo nghệ thuật của Hồ Chí Minh dù là lãng mạn cách mạng hay thù tạc cá nhân thì mỗi câu thơ, mỗi bài thơ vẫn vút lên một hào khí yêu cuộc đời chân chính, yêu tự do với thái độ dân chủ tự cường. Bị nhà chức trách “giải đi sớm” thì:

     

     Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng

         

     U ám tàn dư tảo nhất không

   

     Noãn khí bao la toàn vũ trụ

           

    Hành nhân thi hứng hốt gia nồng

Bản dịch:

 Phương đông màu trắng chuyển sang hồng

           Bóng tối đến tàn quét sạch không

 Hơi ấm bao la trùm vũ trụ

  Người đi thi hứng bỗng thêm nồng                                

                    (Nam Trân)

Hoàn cảnh bất đắc dĩ vô tình đẩy Người vào vòng lao lý, nhưng ý chí cao cả của Hồ Chí Minh vẫn nổi lên rất rõ:

          Thân thể tại ngục trung

          Tinh thần tại ngục ngoại

          Dục thành đại sự nghiệp

          Tinh thần cánh yếu đại

      Bản dịch:

Thân thể ở trong lao

Tinh thần ở ngoài lao

Muốn nên sự nghiệp lớn

Tinh thần phải càng cao

                        (Nam Trân)

Tinh thần lạc quan cách mạng của Người lúc nào cũng tỉnh táo, cảnh giác giữ mình, hướng cho đồng chí mình luôn nhìn nhận cách mạng Việt Nam nằm trong diễn biến của tình hình thế giới.

 

Ngoại cảm Hoa thiên tân lãnh nhiệt
舊山

Nội thương Việt địa cựu sơn hà

Ngục trung hại bệnh chân tân khổ
 

Bản ưng thống khốc khước cuồng ca

Bản dịch:

“Ngoại cảm" trời Hoa cơn nóng lạnh

“Nội thương" đất Việt cảnh lầm than

Ở tù mắc bệnh càng cay đắng,
Đáng khóc mà ta cứ hát tràn
                                 
(Nam Trân)

Bài thơ Học đánh cờ gợi mở cho người đọc một tầm suy nghĩ chiến lược bao gồm cả cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945), chiến tranh Thái Bình Dương, và cuộc cách mạng tháng Tám ở Việt Nam, nằm trong bối cảnh “Kháng Nhật cờ bay khắp Á châu”.

Sau bốn ngày thủ đô Paris thất thủ, bị quân Đức chiếm đóng, ngày 18 tháng 9 năm 1940 phát xít Nhật đã gửi tối hậu thư cho toàn quyền Catơru ở Đông Dương, yêu cầu Pháp phải đóng cửa biên giới Việt - Trung, đình chỉ tiếp tế xăng dầu cho Tưởng Giới Thạch trên đường sắt Hải Phòng - Vân Nam. Tập kích bất ngờ vào cảng Trân Châu sáng ngày 8 tháng 12 năm 1941, phát xít Nhật tuyên chiến với Anh - Mỹ - Úc và Canada; đồng thời đổ bộ quân vào đảo Bornéo, đánh chiếm tô giới Anh ở Thiên Tân, Thượng Hải. Ngay từ đầu năm 1942, cuộc chiến đang bước vào giai đoạn ác liệt. Phát xít Đức huy động lực lượng quân sự cao nhất, tấn công tàn sát vào miền Tây Nam Liên Xô. Núp sau danh nghĩa “phòng thủ chung Đông Dương” ngày 29 tháng 7 năm 1941 Nhật ép Pháp ký Hiệp ước quân sự mới, không hạn chế quân số và người Nhật đổ vào Đông Dương; được tự do đi lại trên khắp lãnh thổ. Ngày 8 tháng 12 năm 1941 văn bản Hiệp định quân sự Pháp - Nhật chính thức trao phần lớn quyền cai trị thuộc địa cho Nhật. Rõ ràng Pháp đã gián tiếp giúp sức phát xít Nhật chống phá Trung Quốc, dựa vào Nhật để đối phó với phong trào yêu nước của nhân dân Đông Dương.(3) Tình hình biên giới Việt - Trung và các nước Đông Dương thật là rối ren. Đưa quân ồ ạt vào Đông Dương, phát xít Nhật ôm mộng làm bá chủ Đông Nam Á, xâm chiếm từng phần phía Nam Trung Quốc.

Trên báo Việt Nam độc lập, số ra ngày 21 tháng 12 năm 1941, Nguyễn Ái Quốc đã viết bài Thế giới đại chiến và phận sự dân ta chỉ rõ nhiệm vụ của toàn dân lúc này là phải đoàn kết trong các tổ chức của Việt Minh “đồng tâm hiệp lực, muôn người một lòng nhân cơ hội này mà khôi phục Tổ quốc, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập.” Bàn cờ thế giới do các nước lớn đã bày ra thế trận. Pháp thua, Nhật cuồng vĩ, Trung Quốc chưa gỡ xong nội chiến… Mọi chuyện diễn ra mau lẹ, ấy thế mà vô tình người có vai trò chủ chốt nhất trong lãnh đạo phong trào đấu tranh giành độc lập của Việt Nam lại đang phải tạm thời im lặng. Thực tế im lặng là để cho thế lực thù địch mải mê đi tìm Nguyễn Ái Quốc lừng danh trên diễn đàn chính trị và cách mạng, còn Hồ Chí Minh đang giữ vị trí “trọng tài” trong bàn cờ chiến tranh Thái Bình Dương, mà Người đang giương cao ngọn cờ chiến thắng cho các dân tộc bị áp bức bóc lột trong khu vực. Liên hệ như thế, người đời đương đại và mai sau thấy rõ từng bài thơ trong Nhật ký trong tù đều là thành tựu lao động sáng tạo nghệ thuật của Hồ Chí Minh là ở tầm vĩ nhân, thần thánh của dân tộc Việt Nam hiện đại:


Nhàn tọa vô liêu học dịch kỳ
 

Thiên binh vạn mã cộng khu trì
退   

Tấn công thoái thủ ưng thần tốc
 

Cao tài tật túc tiên đắc chi

     

Nhãn quang ưng đại tâm ưng tế
     

Kiên quyết thời thời yếu tấn công
     

Thác lộc song xa dã một dụng
     

Phùng thời nhất tốt khả thành công
     

Song phương thế lực thản bình quân
     

Thắng lợi chung tu thuộc nhất nhân
     

Công thủ vận trù vô lậu trước
     

Tài xưng anh dũng đại tướng quân

Bản dịch:

Nhàn rỗi đem cờ học đánh chơi,
Thiên binh vạn mã đuổi nhau hoài
Tấn công, thoái thủ nên thần tốc
Chân lẹ, tài cao ắt thắng người

Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ
Kiên quyết, không ngừng thế tấn công
Lạc nước, hai xe đành bỏ phí
Gặp thời, một tốt cũng thành công

Vốn trước hai bên ngang thế lực
Mà sau thắng lợi một bên giành
Tấn công, phòng thủ không sơ hở
Đại tướng anh hùng mới xứng danh

                           (Văn Trực – Văn Phụng)

Con Người thi nhân Hồ Chí Minh thoát thai từ một dân tộc “phận nghèo nước mất dân nô lệ”(5) đã và đang muốn “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (6) trước toàn thể loài người. Cũng có lúc Hồ Chí Minh xác định mình là người lính trực tiếp xung trận đấu tranh:

      

Ninh tử bất cam nô lệ khổ
      

Nghĩa kỳ đáo xứ hựu phiêu dương
      

Khả liên dư tố tù trung khách
      

Vị đắc cung thân thướng chiến trường

Bản dịch:

Thà chết chẳng cam nô lệ mãi
Tung bay cờ nghĩa khắp trăm miền
Xót mình giam hãm trong tù ngục
Chưa được xông ra giữa trận tiền.

(Nam Trân)

Hồ Chí Minh là người chiến sĩ kiên cường trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc bị áp bức bóc lột. Người đã hoạt động lâu năm nên kinh nghiệm dày dạn của Người đã hun đúc được đức tính “Kiên trì và nhẫn nại/không chịu lùi một phân/ Vật chất tuy đau khổ/ Không nao núng tinh thần.” Bài Tự miễn (Tự răn mình) Người viết:

    

Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh
    

Tương vô xuân noãn đích huy hoàng
    

Tai ương bả ngã lai đoàn luyện
使     

Sử ngã tinh thần cách kiện cường

Bản dịch:

Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;
Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.

                                             (Nam Trân)

Suy nghĩ trong lúc bị cùm kẹp trong nhà giam là vậy, khi bị lính áp tải di chuyển đến nhà lao khác, Hồ Chí Minh vẫn ung dung tự tại, coi thường hiểm nguy, vẫn hướng tới một niềm tin thắng lợi ngày mai của cuộc cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lại quyền sống, giành lại quyền độc lập dân tộc. Nhân chuyện đi đường, Người đã khái quát một một hành trình tri thức cuộc sống từng trải:

     

Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan
    

Trùng san chi ngoại hựu trùng san
     

Trùng san đăng đáo cao phong hậu
     

Vạn lý dư đồ cố miện gian.

Bản dịch:

Đi đường mới biết gian lao,
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng;
Núi cao lên đến tận cùng,
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non

Trên thực tế diễn biến sự kiện Hồ Chí Minh bị Quốc dân đảng Trung Quốc bắt giam hơn một năm là do phương tiện liên lạc lúc đó còn bị hạn chế. Thứ nữa, Tưởng Giới Thạch cũng đang xử lý mọi việc “rối như canh hẹ”, chắc cũng không thể quan tâm được cụ thể từng việc, hoặc cũng có khi quan lại địa phương ủy thế cậy quyền mà làm càn. Mặc dù chỉ ngay sau khi Hồ Chí Minh bị bắt khoảng hơn một tháng, với danh nghĩa Phân hội Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo (cơ quan thuộc Hội chống xâm lược quốc tế) đã gửi điện cho Viện trưởng Viện Lập pháp của Quốc dân Đảng Trung Quốc tại Trùng Khánh yêu cầu thả Hồ Chí Minh. Chánh văn phòng TW Ngô Thiết Thành lệnh cho chính quyền Quảng Tây “xét và phóng thích”. Ngày 9-8-1943, Trương Phát Khuê ở Đệ tứ chiến khu cũng nhận được yêu cầu thả Hồ Chí Minh. Chỉ vì quanh co uẩn khúc nhiều chặng đường di chuyển nhà giam hay còn một lý do nào khác mà mãi đến ngày 10-9-1943, Hồ Chí Minh mới được trả tự do. Căn cứ vào văn bản Nhật ký trong tù thì có thể từ đầu tháng 2 năm 1943, Người chỉ còn bị quản thúc tại Cục Chính trị của Đệ tứ chiến khu. 12 bài thơ trước bài Trời hửng được sáng tác trong khoảng thời gian này.

   Nhật ký trong tù ra đời đã được 70 năm. Con người và sự kiện lịch sử đã đánh dấu một trang sử vàng thắng lợi vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Bài học lạc quan cách mạng, kiên trí chịu đựng mọi gian lao thử thách nhất định sẽ góp phần củng cố niềm tin vào tương lai huy hoàng của công cuộc đổi mới tư duy kinh tế đang diễn ra ở Việt Nam. Vấn đề dự báo chiến lược trong thương trường, trong bảo vệ và xây dựng đất nước, trong quan hệ ngoại giao, trong định hướng xây dựng nền quân sự hiện đại, nền văn hóa mới đậm đà bản sắc dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn đang là thiết thực.







 (1) Những bản dịch thơ Nhật ký trong tù chúng tôi sử dùng trong bài đều căn cứ theo bản in năm 1960, Nxb. Văn học, H. và công trình Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù, Nxb. Giáo dục, H,1995

(2) Lênin toàn tập, tập 27, Nxb. Sự thật, H, 1963

(3) Nhật ký Diên An ngày 18 tháng Tư năm 1943 của P.P. Vla- đi- mi- rốp có nhận

(4) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb. Văn học, H, 1970

(5) Lịch sử hiện đại, tập II, Nxb. Sự thật, H, 1963

(6) Thơ Tố Hữu

(7) Thơ Nguyễn Đình Thi