Thứ Năm, 24 tháng 10, 2019

TRAO ĐỔI TIẾP VỀ CHUYỆN BIỂN ĐÔNG



Tiến sĩ VŨ NGỌC HOÀNG

nguyên Phó ban Tuyên giáo trung ương

     Sau bài viết “Trao đổi nhanh về chuyện Biển Đông” đầu tháng 9 vừa qua, tôi đã nhận được nhiều ý kiến bình luận, phản biện. Trước hết, tôi rất cảm ơn quý anh chị và bạn đọc. Nhân đây, xin được trao đổi tiếp về chuyện Biển Đông xung quanh các ý kiến phản biện đó.

     1. Có ý kiến cho rằng, hiện tại xét về tương quan lực lượng thì Trung Quốc mạnh hơn ta nhiều, ta không đủ sức chống lại họ, mà cũng không thể bài Hoa, kiện là có cớ để họ lấn tới, tấn công ta. Tôi xin thưa, ta đâu có định chống Trung Quốc. Đây chỉ là quyền tự vệ chính đáng bằng giải pháp hòa bình của một dân tộc văn hiến, có chủ quyền và biết tự trọng, chứ đi chống Trung Quốc để làm gì. Ta chỉ muốn sống hòa hiếu, hữu hảo thật lòng với láng giềng, trong đó có Trung Quốc, và bạn bè quốc tế năm châu. Bao đời nay Việt Nam vốn là một dân tộc yêu hòa bình và đường lối ngày nay là muốn làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới. Ta cũng không hề có ý định bài Hoa, mà bài làm sao được khi hai dân tộc sống gần cạnh nhau đã do thiên định, nhân dân hai bên biên giới sáng sớm nào cũng nghe tiếng gà gáy của nhau, và Việt Nam cũng rất cần có thị trường lớn bên cạnh để cùng nhau hợp tác phát triển trên tinh thần bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Còn việc ta phải kiện Trung Quốc như tôi đã nói là vì họ ép ta phải làm thế, ta càng nhân nhượng họ càng lấn tới, họ đã xúc phạm ta, nên không có cách khác, không thể để chân lý bị chà đạp, chủ quyền quốc gia và các quyền lợi chính đáng của dân tộc bị cường bạo cưỡng chiếm. Không kiện là hữu khuynh, coi chừng thỏa hiệp vô nguyên tắc. Kiện để mở đường, để làm cơ sở cho các đấu tranh tiếp theo. Nếu chỉ đấu tranh song phương thì lâu nay đã làm, và không có kết quả, dễ bề cho họ ép ta. Cần phải đa phương, phải quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, dựa vào luật pháp và cộng đồng quốc tế để đấu tranh. Có ý kiến bảo nên bắt đầu bằng việc đưa vấn đề Trung Quốc giành biển của Việt Nam ra Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, đồng thời tiếp tục kiện ra quốc tế. Kiện về chuyện Bãi Tư Chính và Hoàng Sa, Trường Sa nữa, từng vụ cho từng vấn đề. Tôi nghĩ thế là rất cần thiết, đáng lẽ phải làm sớm rồi, còn kiện cụ thể những gì và như thế nào thì chắc chắn các nhà nghiên cứu luật pháp sẽ thông thái hơn tôi. Việc khởi kiện cũng nên khẩn trương làm ngay, càng sớm càng tốt, vì họ đang ngày càng lấn tới, để càng lâu càng khó, và hành động thực tế của họ đã vượt qua ranh giới đỏ rồi. Gần đây, họ còn tuyên bố một cách ngạo mạn rằng khu vực bãi Tư Chính là của họ, rồi họ kêu gọi Việt Nam đối thoại hòa bình, mặt khác cùng lúc họ tiếp tục cho nhiều tàu lớn lấn sâu hơn vào phía bờ biển của Việt Nam, chỉ còn cách đất liền một đoạn ngắn. Cần phải rất cảnh giác với các chiêu bài của Trung Quốc. Đối thoại là đối thoại vấn đề gì phải cho rõ. Bãi Tư Chính đang yên ổn là của Việt Nam, luật pháp quốc tế cũng đã rành rành như vậy, nhưng họ đang chuyển sang vùng tranh chấp, coi chừng ta lại mắc mưu. Họ đi những “nước cờ” rất bài bản với âm mưu thâm sâu, ta không thể đối phó từng nước một trong thế bị động và lúng túng. Và cần phải chống “nhóm lợi ích” thân Tàu, coi chừng chúng nó bán rẽ Tổ Quốc ta cho Phương Bắc.

     Về chuyện tương quan lực lượng thì từ ngày xưa đã thế, Trung Quốc lúc nào cũng to lớn hơn Việt Nam. Mười mấy lần họ xâm lăng nước ta trước đây xét về tương quan lực lượng vật chất họ đều mạnh hơn ta. Trong các cuộc kháng chiến vệ quốc trước đây, Việt Nam thậm chí đã phải bắt đầu bằng gậy tầm vông. Tương quan lực lượng ngày ấy còn chênh lệch hơn nhiều so với bây giờ, thế mà cha ông ta đã dám hành động dũng cảm, rất đáng tự hào và kính trọng. Từ xưa đến nay Việt Nam chưa bao giờ gây chuyện với Trung Quốc, mà chỉ có việc Trung Quốc luôn ức hiếp và nhiều lần xâm lược Việt Nam. Họ luôn có âm mưu thâm hiểm muốn biến nước ta thành thuộc quốc chư hầu của họ. Chẳng lẽ vì tương quan lực lượng của ta yếu hơn mà đất nước và dân tộc này phải cúi đầu nhịn nhục, không có quyền ngẩng lên để đấu tranh tự vệ. Và ngày nay vấn đề tương quan lực lượng cần được hiểu theo tư duy mở, trong đó có yếu tố con người, truyền thống văn hóa, chân lý, bạn bè và luật pháp quốc tế nữa.

     Còn ý kiến nói rằng nếu ta chống lại họ thì tạo cớ cho Trung Quốc tấn công lấy biển của ta? Vì sao lại xem việc thực hiện quyền tự vệ chính đáng của Việt Nam là tạo cớ cho kẻ xâm lăng thực hiện âm mưu. Quả là một kiểu tư duy không thể hiểu nổi. Đó chỉ là kiểu ngụy biện cho một sự nhu nhược về tinh thần và bản lĩnh. Thực ra họ chẳng cần cái cớ ấy đâu. Chính họ đã tạo ra rồi cái cớ hết sức vô lý khi nói vùng biển của Việt Nam là của họ, còn Việt Nam từ chủ nhân họ vu cáo là kẻ xâm phạm đấy thôi.

     2. Có ý kiến giải thích rằng Trung Quốc đã làm được gì ở đó đâu, còn VN ta đã đặt được dàn khoan ở Bãi Tư Chính rồi, đất nước vẫn hòa bình yên ổn, thế mới là sách hay và khôn khéo, có chuyện gì đâu mà phải la ầm lên. Nghe nói vậy càng thấy buồn lo. Ta đặt dàn khoan trên phần lãnh hải thuộc chủ quyền của đất nước ta, sao lại đi so sánh với việc Trung Quốc ngang nhiên tự do đi vào “vườn nhà” của ta. Họ còn nói đó là vùng chủ quyền của họ và yêu cầu ta phải rút đi. Thật là một sự xúc phạm! Thực tế họ đã xâm lăng ta mấy tháng nay rồi và đang biến một vùng biển rộng lớn của ta thành của họ, thế mà lại nói họ chưa làm được gì. Sao lại phải biện minh cho hành vi ngang ngược của kẻ xâm lăng? Tại sao lại phải ru ngũ nhân dân? Biện minh theo kiểu đó thì vô tình hoặc cố ý làm lợi cho kẻ xâm lăng.
Lần này coi ra họ rất quyết liệt hành động. Việc chiếm được biển của Việt Nam có ý nghĩa lớn lao đối với họ, còn không chiếm được thì chiến lược về giấc mộng Trung Hoa có thể bị phá sản. Và họ nhận thấy lúc này về phía Việt Nam có những yếu tố thuận lợi cho việc thực hiện âm mưu của họ. Trung Quốc đang sử dụng kế sách “không cần đánh mà vẫn thắng”, tức là không cần nổ súng vẫn lấy được biển, đó là thượng sách. Họ vừa muốn chiếm biển của ta, vừa không muốn “mất” Việt Nam, tức là vẫn giữ được một VN nằm trong tầm kiểm soát của họ. Vì vậy, tốt nhất là làm sao lấy được biển mà VN ít phản đối hoặc là chỉ phản đối chiếu lệ. Nhưng đồng thời họ cũng hăm dọa bằng tàu lớn súng nhiều và sẵn sàng động binh. Còn diễn biến thực tế trên chiến trường mấy tháng nay thì rõ ràng họ đang tiến và ta đang thua từng bước. Họ tiến vào ngày càng sâu hơn, gần đất liền hơn. Từ chỗ họ nói Tư Chính là vùng tranh chấp rồi sau đó họ nhanh chóng chuyển sang nói là vùng biển của họ và vu cáo cho Việt Nam cố tình lấn chiếm, yêu cầu Việt Nam phải rút đi, rồi bảo Việt Nam phải đối thoại để cùng khai thác...

     Tình hình thật nghiêm trọng nhưng nhiều người vẫn tỏ ra như chưa có gì nghiêm trọng. Mấy tháng nay họ đã vào ra vùng biển của ta nhiều lần, như đi chợ, như ao nhà của họ. Có đợt cả tháng sau ta mới lên tiếng. Đẩy đuổi thì xem ra không đủ sức làm lâu dài. Lên án cũng không ra lên án. Đẩy mạnh tuyên truyền cho nhân dân VN và thế giới biết bản chất của vấn đề cũng không làm. La làng lên cho mọi người biết là kẻ cướp đã đột nhập nhà tôi cũng không. Kiện cũng không chịu kiện. Tăng thêm đối tác chiến lược mới cũng không. Hợp tác quân sự mới cũng không thấy…. Nói chung dân chúng không hiểu thái độ và đối sách của lãnh đạo nước ta ra sao. Mà xem ra đây cũng không phải là sự bình tỉnh của một cao thủ có kế sâu nên nhiều người đã bảo “chẳng hiểu vì sao mà phải thế”.

      3. Có người phê bình rằng các ý kiến từ nhân dân không hiểu hết tình hình nên nhận định, đề xuất không phù hợp. Thậm chí có ý kiến còn phê phán chì chiết những tiếng nói từ những người yêu nước. Trong nhân dân, có người không đủ thông tin như lãnh đạo cũng là chuyện bình thường, nhưng có thể họ lại hiểu lòng dân hơn lãnh đạo. Ý kiến nào không hiểu tình hình mà nói không đúng thì nên chỉ ra, nói lại xem thử thế nào là đúng. Nhưng riêng việc mấy tháng nay Trung Quốc liên tục (gần như thường xuyên) xâm phạm biển của Việt Nam một cách trắng trợn, họ tuyên bố đó là biển của họ, Việt Nam thì không la, không kiện, không nói rõ cho nhân dân biết, đặc biệt lãnh đạo đất nước không lên tiếng mạnh mẽ rõ ràng quan điểm…, đó có phải là sự thật hay dân nói sai? Thực tế mấy tháng nay quốc dân đồng bào không được các cơ quan hữu trách hoặc báo chí chính thống thông tin kịp thời và đầy đủ cho biết tình hình Biển Đông của Việt Nam đang bị xâm phạm. Cứ làm như mọi việc vẫn bình thường, không có chuyện gì xảy ra, thậm chí kẻ xâm lăng vẫn còn được coi là “đối tác chiến lược toàn diện” quan trọng nhất của VN. Tại sao không thông báo kịp thời mọi việc cho nhân dân biết rõ tình hình? Phải chăng sự quan tâm của nhân dân đối với chủ quyền của đất nước là không cần thiết, đó không phải là việc của nhân dân? Tất nhiên gần đây báo chí chính thống ít nhiều cũng đã có nói đến, dù chỉ ở mức độ hết sức khiêm tốn. Hãy nhớ rằng, từ lâu Trung Quốc đã tác động nhiều thông tin ra thế giới và trong nước để chuẩn bị dư luận, và hiện nay họ vẫn đang ngày đêm tác động thông tin để nhiễu loạn phía Việt Nam. Còn phía ta, cần xem lại ta đang ứng xử ra sao đối với tình hình đất nước rất nghiêm trọng vì chủ quyền của quốc gia đang bị xâm phạm? Trong số những người dân yêu nước có thể người này người khác có lúc nóng nảy, nói sai điểm này điểm khác, đụng chạm…thì nói lại, uốn nắn. Nhưng phải biết quý trọng tấm lòng của họ, nuôi dưỡng, hun đúc và tích góp chí khí của dân tộc để mà giữ nước. Không nên, không được làm điều gì gây tổn thương cho lòng yêu nước của nhân dân.

     4. Một số ý kiến phản biện rằng, nói đến liên minh quân sự là nguy hiểm, dễ gây ra chiến tranh. Mà họ cũng đã nổ súng đâu, đã có chiến tranh đâu mà nói đến liên minh chiến đấu. Lần trước tôi cũng đã nói không liên minh quân sự với ai để chống nước khác là quan điểm đúng đắn. Việc đó cũng là thể hiện tinh thần của một dân tộc yêu hòa bình, ghét hiếu chiến. Nhưng trong tình thế đất nước bị xâm lăng thì cần liên minh để bảo vệ chủ quyền. Chẳng lẽ thà chịu mất nước chứ nhất định không được liên minh chiến đấu để bảo vệ? Như ta đã biết và thường ca ngợi chiến thắng của phe Đồng Minh trong đại chiến thế giới II - đó chính là một liên minh chiến đấu vì hòa bình. Và khi ấy Việt Nam cũng đã đứng về phe Đồng Minh. Việt Nam và Lào đã nhiều lần cùng liên minh chiến đấu mà đến nay ta vẫn luôn ca ngợi liên minh ấy. Sau năm 1975 Việt Nam và Liên-xô cũng có lúc như vậy. Những lúc ấy, đó là sự cần thiết của tinh thần tự vệ chính đáng. Còn nói họ đã làm gì đâu mà ta lại tính đến việc liên minh chiến đấu? Sao lại biện minh là họ chưa làm gì? Họ đã chính thức xâm chiếm lãnh hải tức là một phần Tổ Quốc của chúng ta bị xâm lăng rồi, chứ sao lại nói “họ đã làm gì đâu”. Chẳng lẽ đợi đến khi “chậm mất rồi”, “thua mất rồi” thì mới bàn đến việc liên minh chiến đấu để tự vệ? Chủ động chuẩn bị tốt các biện pháp bảo vệ đất nước cũng là một cách phòng ngừa để chiến tranh không xảy ra. Còn nếu cuối cùng nó vẫn xảy ra thì đó là việc do đối phương muốn vậy, ngoài ý muốn của ta. Trong trường hợp ấy chúng ta sẽ chủ động hơn.
Trước đây có lúc Việt Nam đã ủng hộ và tham gia phong trào không liên kết. Gần đây cũng có ý kiến bảo chỉ cần nói Việt Nam không liên kết với bất cứ nước nào, bên nào là đủ rồi. Tôi cũng nhất trí với ý kiến ấy, nhưng đó là nói về đường lối đối ngoại đối với các vấn đề khác không liên quan đến chủ quyền của Việt Nam trong quan hệ quốc tế (ví dụ trong chiến tranh thương mại Mỹ-Trung hoặc các cuộc xung đột trên thế giới và khu vực). Riêng đối với việc bảo vệ chủ quyền quốc gia của Việt Nam thì tôi giữ ý kiến sẳn sàng liên minh với bất kỳ nước nào ủng hộ chủ quyền của ta để tự vệ chính đáng. Tất nhiên là không ỷ lại dựa dẫm ai và hành động liên minh đó trên thực tế chỉ thực hiện khi có xung đột. Nhưng về nhận thức, quan điểm thì phải xác định trước, chứ đợi đến lúc xảy ra xung đột rồi mới triệu tập họp lại để bàn thì quá trễ. Trong thời đại công nghệ ngày nay, những nước như Việt Nam ta chưa đủ điều kiện về công nghệ thì càng phải có liên minh mới sử dụng được hệ điều hành từ vệ tinh của nước này hay nước khác.

     5. Có người hỏi lại “nếu liên minh chiến đấu thì liên minh với ai và như thế nào?” Đó là công việc của các nhà quân sự, họ sẽ thông thái hơn chúng ta, và tôi tin rằng họ sẽ không bó tay để đưa lưng cho người ta bắn và ngồi nhìn chủ quyền quốc gia thiêng liêng bị người khác cưỡng chiếm và xúc phạm. Ngày nay, các vấn đề chính trị, quân sự trong đối ngoại nhìn chung thường có gắn với lợi ích kinh tế. Phần biển đông thuộc nước ta đang chứa rất nhiều khoáng sản có giá trị lớn. Cần đẩy mạnh khai thác để có nguồn tài chính cho hiện đại hóa đất nước, không cần phải “để dành” mà kẻ tham dòm ngó và âm mưu cướp bóc. Tất nhiên chuyện Biển Đông không chỉ là tài nguyên mà còn vị thế chiến lược về địa kinh tế và địa chính trị mới quan trọng hơn nhiều. Ta có thể mở cửa rộng hơn với chính sách thuế phù hợp và thủ tục pháp lý thuận tiện để khuyến khích các đối tác từ các nước tôn trọng chủ quyền của VN vào hợp tác đầu tư khai thác theo luật pháp của Việt Nam và đôi bên cùng có lợi (ví dụ như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Ấn Độ, Nga, Ôxtrailia…). Đồng thời ta đề xuất phương án cùng nhau liên minh bảo vệ vùng biển này để bảo đảm cho công việc đầu tư khai thác được an toàn và an ninh. Còn Trung Quốc, khi nào họ thay đổi quan điểm, tôn trọng chủ quyền biển đảo của Việt Nam thì ta hoan nghênh và cũng mời họ vào tham gia hợp tác khai thác như các đối tác nói trên.

     6. Khi tôi nhấn mạnh mục tiêu “dân tộc và dân chủ” thì có ý kiến nói “còn mục tiêu Xã Hội Chủ Nghĩa nữa chứ”. Tôi hiểu ý kiến này muốn nói đến mục tiêu XHCN gắn với ý thức hệ trong mối quan hệ với Trung Quốc. Tôi không bát bỏ mục tiêu XHCN, nhưng đó là CNXH theo cách hiểu mà tôi cho là khoa học, khác xa cái CNXH theo mô hình của Liên-xô, Trung Quốc. Theo tôi, cần tiếp cận CNXH theo hệ giá trị - đó là những giá trị tốt đẹp thật sự, đạt được trong đời sống xã hội, chứ không phải theo mô hình thế này và thế kia, càng không phải bằng từ ngữ và khẩu hiệu. CNXH theo nghĩa chân chính thì nhất thiết phải là kết quả của một trình độ phát triển rất cao của dân tộc và dân chủ xã hội, chứ không phải là những ý muốn chủ quan được vạch ra để bắt hiện thực phải khuôn theo. Giải quyết tốt vấn đề dân tộc độc lập và phát triển, xã hội thật sự dân chủ, con người thật sự tự do và hanh phúc thì đó mới chính là con đường đúng đắn tiến tới CNXH, chứ không phải như mô hình của Liên-xô, Trung Quốc và phe XHCN trước đây. Để mất nước, mất độc lập, hoặc dân tộc bị kìm hảm không thể phát triển vượt lên, xã hội mất dân chủ thì CNXH chỉ là chuyện hão huyền, không bao giờ có thật. Chúng ta đã nêu rất nhiều khẩu hiệu về CNXH nhưng đến nay trên thực tế thì các nước tư bản phát triển (CNTB hiện đại) mới là những nước đã đến gần nhất với CNXH mặc dù họ không có khẩu hiệu nào và mặc dù họ vẫn còn rất nhiều khuyết điểm. Nói các nước tư bản phát triển, nhất là Bắc Âu và khu vực gần đó, đang gần nhất với CNXH là trên cơ sở nghiên cứu về năng suất lao động xã hội, thu nhập bình quân đầu người, vai trò của sở hữu xã hội, vấn đề phúc lợi xã hội, giáo dục và chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo vệ quyền con người, quyền tự do và dân chủ…. Còn Việt Nam ta thì nằm ở khoảng cách phía sau xa so với các nước đó, và càng xa hơn nữa đối với mục tiêu XHCN, thậm chí trong lòng xã hội VN hiện tại đang bao gồm rất nhiều yếu tố của CNTB hoang dã trộn lẫn các tàn dư phong kiến. Còn Trung Quốc thì thực chất đã biến tướng thành một đế chế phong kiến độc tài và bành trướng bá quyền cộng với CNTB hoang dã. Nếu đem Trung Quốc, hay Liên-xô trước đây, ra so sánh với các nước tư bản phát triển thì chính các nước tư bản phát triển ấy lại gần CNXH hơn. CNTB hiện đại ngày nay cũng đã khác rất xa, khác về chất so với CNTB hoang dã thời Marx đã sống và viết Tư Bản Luận. Chính họ (chứ không phải Liên-xô hay Trung Quốc) đang và sẽ tiếp tục chứng minh nhận định của Marx là đúng. Đó mới là tư duy khoa học chứ không phải kiểu lý luận giáo điều đã bị chính trị hóa về mô hình CNXH sai lầm của phe XHCN trước đây mà mãi đến nay vẫn chưa khắc phục xong. Còn cái tư duy về hai hệ tư tưởng chia thành hai phe đối lập nhau là TBCN và XHCN thì đã lạc hậu lắm rồi. Đó là sự sai lầm hơn một thế kỷ của nhiều nước, bắt đầu từ những người đứng đầu mấy nước lớn ở hai phe, đã gây ra rất nhiều mâu thuẫn trong cộng đồng quốc tế và những cuộc chiến tranh gây chết chóc đau thương cho nhiều chục triệu người, để rồi cuối cùng sau gần một thế kỷ phải quay lại coi nhau là đối tác, cùng nhau giải quyết các vấn đề chung của thế giới và khu vực. Việc chuyển từ thù địch sang làm đối tác và bè bạn của nhau là xu hướng tiến bộ, đúng đắn, nhưng chính điều đó cũng đã chứng tỏ việc phân chia thành hai hệ tư tưởng thù địch như trước đây là sai lầm nghiêm trọng. Với cái kiểu của Trung Quốc như hiện nay mà cứ nhân danh CNXH và hệ tư tưởng để đi theo họ trong khi không đủ bản lĩnh và trí tuệ để ứng xử thì ta chẳng những sẽ mất độc lập chủ quyền mà còn có nguy cơ bị đồng hóa chứ không bao giờ đến được CNXH chân chính (tôi dùng chữ chân chính ở đây để phân biệt với cái biến tướng, lợi dụng, nhân danh, giả mạo, lừa phỉnh). Tất nhiên ta luôn thật lòng mong muốn quan hệ hữu hảo để hợp tác cùng phát triển và làm đối tác tốt của Trung Quốc cũng như các nước khác. Nhưng đó phải là đối tác bình đẳng và được tôn trọng chủ quyền, cũng như độc lập tự do về tư tưởng và tự quyết định mọi công việc.

     7. Cũng có ý kiến nêu vấn đề có tính nguyên tắc trong giải quyết chuyện Biển Đông là, ngoài việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, phải giữ cho được hòa bình và quan hệ hữu nghị với Trung Quốc. Mới nghe qua dễ nghĩ rằng phương châm đó là đúng bởi vì ai cũng mong muốn hòa bình để xây dựng đất nước. Nhưng phải suy nghĩ sâu hơn đối với vấn đề này. Nếu cùng lúc đạt được cả ba mục tiêu (chủ quyền, hòa bình và hữu nghị) thì quá tốt rồi, không còn gì bằng. Ai mà chẳng muốn thế. Phương châm ứng xử ấy không riêng đối với Trung Quốc mà đối với tất cả các quốc gia khác cũng vậy thôi. Và tư duy đó đã có từ lâu rồi chứ không phải do ai mới nghĩ ra hôm nay. Có từ lâu rồi nhưng tình hình thực tế đến nay cho thấy ta không (hoặc chưa) thành công, chỉ vì Trung Quốc không muốn thế. Ta dại gì lại đi gây chiến hoặc bất hòa với một nước lớn ở bên cạnh mình. Nhưng yêu cầu hòa bình và hữu nghị ấy phải trên nguyên tắc cao nhất là đôi bên tôn trọng chủ quyền của nhau, họ không xâm lăng chiếm Biển, chiếm đất của ta. Hòa bình và hữu nghị phải do từ hai phía. Một mình ta có muốn bao nhiêu cũng không được nếu như Trung Quốc chẳng cần thứ ấy mà chỉ cần lấy cho được biển của nước ta. Thực tế đã cho thấy họ đâu có cần hữu nghị với VN. Ta không thể đem chủ quyền để đổi lấy hữu nghị và hòa bình một cách hình thức. Nếu làm như thế thì hữu nghị hòa bình ấy cũng chỉ là một kiểu nô lệ. Đó là “hòa bình, hữu nghị nô lệ”. Không thể chấp nhận mất chủ quyền, đó là vấn đề có tính nguyên tắc. Vậy nên, điều cốt lõi chi phối mọi việc ở đây là phải bảo vệ cho được chủ quyền. Còn hòa bình hữu nghị cũng là yêu cầu cần thiết nhưng phải trên cơ sở của nguyên tắc cao nhất là bảo đảm chủ quyền. “Không có gì quý hơn độc lập tự do” như Hồ Chí Minh đã nói là chân lý thiêng liêng mà vì nó bao nhiêu con người yêu nước đã phải ngã xuống cho đất nước này. Với bản chất và âm mưu của Trung Quốc như vậy mà yêu cầu phải đạt được đồng thời cùng lúc cả ba mục tiêu như nhau (là chủ quyền, hòa bình và hữu nghị) thì giống như đánh đố, tự làm bí đường cho quân ta.
     8. Có ý kiến phê phán chiều hướng muốn nghiêng về phía Mỹ và Phương Tây, muốn tăng cường quan hệ Việt-Mỹ lên đối tác chiến lược toàn diện và lưu ý phải đề phòng có ngày Mỹ và Trung Quốc thỏa hiệp với nhau, bán đứng ta hoặc bỏ ta giữa đường. Đúng là trong thực tế trước đây mấy nước lớn đã từng có lúc “bán” Việt Nam, trong đó phải kể nhiều nhất là Trung Quốc. Suy nghĩ cho chín chắn mọi điều là cần thiết, nhưng đồng thời cũng đừng để cho sự đa nghi hoặc chịu ảnh hưởng của chiến tranh tâm lý tung ra từ Phương Bắc làm cho ta không thấy được đường ra mà cứ nằm mãi trong vùng ảnh hưởng của họ. Sao lại đặt vấn đề phải nghiêng bên này hay bên kia? Việt Nam phải là một dân tộc trưởng thành, một dân tộc văn hiến, biết đứng vững trên đôi chân của chính mình bằng tinh thần độc lập và tự cường, không phụ thuộc, không thụ động hay dựa dẫm ỷ lại vào bất kỳ ai, kể cả đối với bạn tốt. Mà đã là bạn tốt thì không ai lại muốn ta thụ động và dựa dẫm. Chỉ có độc lập và tự lập mới giúp ta thật sự trưởng thành. Trước tiên phải biết dựa vào sức mạnh của một dân tộc có bản lĩnh, có truyền thống yêu nước, biết tự trọng, tự lực và anh hùng sáng tạo trong đấu tranh giữ nước. Người ta có thể chiến thắng một đạo quân, nhưng không ai có thể chiến thắng nổi một dân tộc kiên cường và thống nhất. Đồng thời tất nhiên cũng rất cần, luôn cần bạn bè tốt để gắn bó thủy chung, nhất là trong lúc khó khăn hoạn nạn có nhau. Như bài trước tôi đã nói, chỗ dựa vững chắc và đáng tin cậy nhất là nhân dân, là cộng đồng dân tộc. Xa rời nhân dân, không hành động theo ý chí và nguyện vọng của nhân dân thì sẽ đánh mất tính chính danh và không còn sức mạnh để chiến đấu.

     Sự thận trọng là cần thiết, nhưng nếu cứ luôn đặt câu hỏi rằng không biết sau này ai sẽ tốt mãi với ta và ai sẽ không thủy chung nữa, hay nước nào sẽ thỏa hiệp điều gì với nước nào trong cơ chế thị trường này thì chẳng thể nào có câu trả lời hoàn hảo được. Hiện tại thấy ai tốt thật lòng, trong đó có việc đầu tiên là tôn trọng chủ quyền và lợi ích chính đáng của ta thì kết bạn, nhất là khi xét thấy lợi ích chính đáng của đôi bên không mâu thuẫn nhau. Việt Nam là một dân tộc thủy chung với bạn bè, không bao giờ phản bạn. Còn ai không tốt với mình nữa thì không cần phải chơi thân đến mức mất cảnh giác như thời An Dương Vương. Một nước có thể hôm qua là đối tác chiến lược nhưng hôm nay lại chơi xấu - xâm phạm chủ quyền quốc gia của chúng ta thì có thể dừng (hoặc tạm dừng) đối tác chiến lược. Đó là chuyện rất bình thường. Thế giới vẫn sống với nhau như vậy đó thôi.
Có ý kiến còn nói đi với Tàu thì mất nước, đi với Mỹ thì mất chế độ, cả hai ông này đều nguy hiểm, không thể chơi thân với ai được. Ý kiến này thuộc loại không tin ai cả, cảnh giác tất cả. Về thực chất thì đó cũng là một cách suy nghĩ theo lối thụ động, không tin vào chính mình. Sao lại nghĩ sẽ mất cái này hoặc cái kia nếu đi với ông này hoặc ông kia. Mất cái này hay cái kia thì chính là tại mình, do mình, chứ đừng đổ lỗi cho ai. Biết dựa vào dân, tôn trọng và phát huy dân chủ, không tham nhũng, được nhân dân tin tưởng thì nước không mất và chế độ cũng vậy. Không lắng nghe nhân dân, không theo ý chí và nguyện vọng của nhân dân, mất dân chủ, để cho lòng dân ly tán thì nước sẽ mất và chế độ cũng sẽ không còn. Mà việc gắn bó máu thịt hay không gắn bó với nhân dân là do ta chứ không phải do Tàu hay do Mỹ, đừng đổ lỗi cho bất kỳ ai. Giữa Tổ Quốc và chế độ thì Tổ Quốc đương nhiên phải là trên hết. Chế độ chân chính nào cũng phải phục vụ cho Tổ Quốc chứ không phải ngược lại. Đồng thời, chế độ chính trị lúc nào cũng là một vấn đề đại sự. Một chế độ tốt được nhân dân ủng hộ sẽ giữ nước được lâu bền, một chế không tốt làm cho nhân dân ly tán và oán giận sẽ dẫn đến mất nước. Cần phải xây dựng một chế độ tốt cũng là kế sách để giữ nước lâu bền. Thế giới đã có những thay đổi lớn. Tàu hay Mỹ bây giờ cũng đều khác xưa. Tàu ngày xưa đã có lúc giúp ta (dù với động cơ này hay động cơ khác). Tàu bây giờ đang quyết liệt chiếm biển của ta. Mỹ ngày trước coi Đảng Cộng Sản Việt Nam là đối thủ. Mỹ bây giờ coi Đảng Cộng Sản Việt Nam cầm quyền là đối tác, Tổng thống Mỹ đã mời Tổng Bí thư Việt Nam sang Nhà Trắng ở Waishington để bàn chương trình hợp tác lâu dài.
Còn nói mất chế độ là chế độ gì? Nếu phong kiến thì mất càng tốt chứ sao. Nếu tư bản hoang dã thì cũng cần phải bỏ đi. Thế giới văn minh đã từ bỏ phong kiến và tư bản hoang dã. Còn chế độ XHCN thì chưa có (mà còn lâu lắm cũng không biết lúc nào mới có - như một vị lãnh đạo nước ta đã nói). CNTB hiện đại cũng chưa có. Vậy sợ mất chế độ nói ở đây thực chất là mất cái gì? Chắc người ta muốn nói đến chế độ xã hội do Đảng Cộng Sản Việt Nam đang lãnh đạo, nói cách khác là sợ mất vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN. Việc ấy thì chẳng ai có thể vào đây mà đánh mất được, chỉ trừ khi Đảng tự mình đánh mất. Mất còn ở đây phụ thuộc lòng tin của nhân dân. Mà lòng tin của nhân dân thì lại do sự trong sạch, chân chính và năng lực lãnh đạo của Đảng tạo nên, hoặc có hoặc không, hoặc còn hoặc mất. Muốn giữ thì cần phải giữ cái điều cốt lõi ấy chứ không phải đi giữ cái khác mà được đâu. Nếu không giữ được lòng tin của nhân dân thì không có Tàu, không có Mỹ cũng sẽ thất bại.

     9. Nói tới việc lựa chọn Phương Bắc hay Phương Tây thì câu chuyện sẽ rộng hơn và liên quan đến con đường phát triển. Nhưng đã có ý kiến phản biện thì nhân đây tôi cũng xin nêu mấy ý kiến của mình. Gần hai thế kỷ trước đây Marx đã phân chia quá trình phát triển của nhân loại sẽ lần lượt đi qua 5 giai đoạn theo các hình thái kinh tế xã hội là: Nguyên Thủy, Nô Lệ, Phong Kiến, Tư Bản Chủ Nghĩa và Xã Hội Chủ Nghĩa. Ta tôn trọng cách phân chia đó của ông. Nhưng quan sát thực tế một thế kỷ vừa qua những gì đã xảy ra ở Liên-xô và Đông Âu cho thấy lịch sử đã không như thế mà nhiều nước từ phong kiến lên thẳng XHCN và sau đó 7-8 thập kỷ thì lại từ XHCN ấy chuyển tiếp sang TBCN. Marx đã sai ở đây chăng? Theo tôi, trong vấn đề này ông không sai, mặc dù không phải Marx nói cái gì cũng đúng. Vậy ở đây là cái gì, giải thích ra sao? Cái XHCN ở Liên-xô và Đông Âu trước đây không phải là XHCN như tư duy của Marx. Trung Quốc và Việt Nam ta cũng bắt đầu từ đó. Tôi không phản đối ý kiến cho rằng, lịch sử ở một nước nào đó cũng có thể đi tắt đón đầu, nhưng phải hành động đúng quy luật khách quan, chứ không thể bằng ý chí chủ quan áp đặt, càng không thể thay thế nền tảng vật chất chưa có bằng bất cứ thứ chuyên chính gì. Bên cạnh cách phân chia giai đoạn như Marx, theo tôi có thể có một cách phân chia nữa, không phải theo hình thái kinh tế xã hội mà theo trình độ phát triển. Đó là các giai đoạn: Chưa phát triển, phát triển thấp, phát triển trung bình, phát triển cao và phát triển rất cao. (Lâu nay người ta thường nói là các nước chưa phát triển, đang phát triển và phát triển). Sự phát triển nói ở đây bao gồm cả số lượng và chất lượng; cả kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị và nhất là con người. Tìm mối liên hệ giữa hai cách phân chia giai đoạn như trên ta có thể thấy, ứng với CNTB là giai đoạn phát triển cao và ứng với CNXH phải là giai đoạn tiếp theo-phát triển rất cao. Theo đó, chính sự phát triển mới quyết định có hay không có CNXH, còn mọi thứ khác đều không thể đem lại CNXH. Xin chớ lầm tưởng mà sai đường. Hiện tại, các nước tư bản phát triển đã vượt xa các nước gọi là XHCN. Dù nói rất nhiều về mục tiêu XHCN nhưng nếu không phát triển thì chẳng có CNXH nào đâu. Dù không nói CNXH nhưng nếu phát triển tốt thì tất yếu sẽ có CNXH. Vì vậy mà ở phần trên tôi đã nói chính các nước tư bản phát triển mới là những nước tiến đến gần nhất CNXH. Theo đó, trong tư duy của tôi, CNXH và CNTB khác nhau chủ yếu là ở trình độ phát triển, chứ không phải ở tính chất khác biệt hay đối lập. Quá trình phát triển ấy như một sự tiếp nối tự nhiên chứ không phải là sự “lật đổ” và “thay thế”.

     Phương Tây nhìn chung đã phát triển hơn Phương Đông. Mỹ, Châu Âu, nhất là khu vực Bắc Âu và một số nước gần đó, đã phát triển hơn Trung Quốc, Việt Nam…Ngày xưa, có thời kỳ Châu Âu cũng chưa phát triển được, còn trong đêm dài của chế độ thần quyền, ai nói khác giáo hội có thể bị đưa lên dàn hỏa thiêu hoặc giá treo cổ. Sau đó, nhờ các phong trào Khai Sáng, Phục Hưng…đã thế tục hóa, giải phóng cho con người được tự do tư tưởng và tự do ngôn luận, từ đó mà có con đường để tiếp cận các chân lý khách quan. Châu Âu đã phát triển vượt lên. Trong khi đó Châu Á vẫn trong đêm dài của chế độ phong kiến kìm hảm con người nên đã nằm lại ở phía sau xa trong tiến trình phát triển. Vào cuối thế kỷ 18 sang thế kỷ 19 nhiều nước ở Châu Á đã bị các đối thủ từ Châu Âu phát triển hơn mình một nền văn minh đã đến chinh phục và đô hộ. Trong Châu Á ấy, có một số nước sớm nhận ra mặt ưu điểm của văn minh Phương Tây, họ đã biết tiếp thu và vận dụng phù hợp vào hoàn cảnh cụ thể của nước mình nên đã phát triển vượt lên, đa số nước còn lại nhìn chung vẫn chậm chạp và tụt hậu so với thế giới văn minh. Nước ta chịu ảnh hưởng khá nhiều của văn hóa Phương Bắc và thực tế cho thấy đến nay chúng ta vẫn còn tụt hậu khá xa ở rất nhiều mặt. Nền văn hóa Việt Nam của chúng ta có mặt mạnh nổi trội thuộc về văn hóa (trong) giữ nước và mặt yếu cũng nổi rõ thuộc về văn hóa (trong) phát triển. Nước ta nhiều lần bị mất nước không phải vì ta là nước nhỏ hoặc vì thiếu anh hùng, mà là vì sự lạc hậu. Khi mất nước rồi, bằng rất nhiều máu xương và sự anh hùng, cha ông ta đã lấy lại đất nước. Giành lại được nước rồi nhưng vẫn không phát triển, vẫn lạc hậu, và lại mất nước lần nữa. Cứ thế, lịch sử đã lặp đi lặp lại nhiều lần như vậy. Cái nguyên nhân mất nước ấy chỉ có thể giải quyết bằng sự phát triển mạnh lên mới là cách căn bản và lâu dài. Nếu từ nay trở đi, đồng thời với việc tiếp tục chọn lọc và phát huy phần tinh hoa văn hóa của dân tộc nói riêng, của Phương Đông nói chung, chúng ta biết cầu thị và tích cực nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc phần tinh hoa văn hóa của Phương Tây để phát triển dân tộc và quốc gia Việt Nam thì thiển nghĩ đó cũng là cách hợp lý và rất cần thiết. Muốn vậy, cần phải có một sự chuyển hướng, cải cách căn bản để phát triển. Không phát triển ta chẳng những không đạt được mục tiêu lý tưởng nào mà có thể còn mất độc lập dân tộc trong thời đại mới theo cách này hoặc cách khác.
     10.Thực tế lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới cho thấy có nhiều con đường khác nhau để phát triển, nhưng trong đó nổi rõ có hai con đường chủ yếu. Thứ nhất, phát triển bằng thể chế dân chủ và tự do, dựa chính vào nhân tố con người. Người ta thường gọi đó là “con đường dân chủ”. Thứ hai, phát triển bằng sự tập trung quyền lực, toàn trị, mệnh lệnh, mất dân chủ và thậm chí kể cả độc tài. Người ta còn gọi đó là “con đường chuyên chính”. Cả hai con đường đó đều có thể phát triển. Một bên dựa chính vào nhân tố động lực con người, còn bên kia thì dựa chính vào khả năng tập trung nguồn lực và quyền lực. Và đương nhiên con đường nào cũng đều có những gian khổ, chông gai, đừng nghĩ con đường nào là bằng phẳng, dễ dàng và chỉ có ưu điểm. Phương Tây ngày nay rất nhiều nước phát triển theo con đường thứ nhất. Phương Đông trước kia nhiều nước đi theo con đường thứ hai, nhưng thời kỳ sau đó đã có một số nước chuyển đổi theo con đường thứ nhất và họ đã thành công. Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapor, Đài Loan là loại nước và vùng lãnh thổ kiểu đó. Liên-xô trước đây cũng như Trung Quốc ngày nay đã có những thành công nhất định theo con đường thứ hai. Cả hai nước này thì Liên-xô đã từng và Trung Quốc ngày nay đang trở thành nước có nền kinh tế thứ nhì thế giới nếu tính theo tổng sản phẩm quốc nội. Tuy nhiên, nếu phân tích sâu hơn, thì sẽ thấy sự phát triển theo con đường thứ nhất mới bền vững, nhân dân hạnh phúc hơn vì có tự do, dân chủ, vấn đề con người được đặt vào vị trí trung tâm. Con đường thứ hai tuy cũng có thể phát triển nhanh trong một giai đoạn nào đó, nhưng nhân dân không hạnh phúc vì thiếu tự do dân chủ, và chắc chắn sự phát triển đó sẽ không bền vững, sẽ có khủng hoảng lớn về xã hội sau chu kỳ phát triển mạnh. Liên-xô trước đây và ngay cả Việt Nam ta thời Lê Thánh Tông…cũng đã cho thấy như vậy. Con đường phát triển thứ nhất là con đường mà rất nhiều nước tiên tiến trên thế giới đang đi, trong đó có các nước Tư bản hiện đại (chứ không phải như CNTB hoang dã ngày trước). Dân chủ cũng (phải) là vấn đề có tính bản chất của CNXH, là con đường đúng nhất để đến với CNXH chân chính. Đó là xu thế tiến bộ, xu thế lịch sử-thời đại. Thiết nghĩ, nước ta nên lựa chọn con đường thứ nhất - phát triển bền vững, có tự do dân chủ và hạnh phúc của nhân dân. Con đường ấy phù hợp với mong muốn của nhân dân Việt Nam. Đừng bao giờ quên mục tiêu “Dân chủ-độc lập-tự do-hạnh phúc” là các thành tố và tiêu đề của tên nước đã được nêu ra từ ngày tuyên bố độc lập năm 1945. Khi có quyền lực trong tay, bị quyền lực cám dỗ, nhiều người dễ quên đi mục tiêu dân chủ, thậm chí có người còn cao ngạo coi nhân dân chẳng ra gì, cứ như thể chỉ có mình mới là sáng suốt. Đi con đường thứ nhất ta còn có được cả khối dân chủ của thế giới văn minh, không phải đơn độc mỗi khi bị người khác bắt nạt.
     Tôi biết cũng có ý kiến lo lắng rằng, nếu đi theo con đường dân chủ thì không biết Đảng Cộng Sản có giữ được vai trò lãnh đạo không, hay đất nước lại bất ổn chính trị kéo dài (thậm chí sẽ đổ máu) do sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái, các nhóm cơ hội chính trị? Đặt câu hỏi như vậy cũng là dễ hiểu và đó là một câu hỏi nghiêm túc. Nhưng nghĩ như vậy thì chẳng lẽ Đảng Cộng Sản chỉ có thể giữ quyền lãnh đạo bằng cách mất dân chủ hay sao? (Trong khi mất dân chủ là trái với mục tiêu phấn đấu mà Đảng đã nêu ra). Nghĩ như vậy cũng là không còn tin tưởng vào khả năng của Đảng? Tôi thì không nghĩ như thế. Tôi nghĩ khác. Trong môi trường dân chủ Đảng sẽ trưởng thành và tốt hơn. Trong môi trường không dân chủ mà tập trung quyền lực thì Đảng cầm quyền sẽ thoái hóa. Đi theo con đường dân chủ, Đảng không thoái hóa mà lại trưởng thành, tốt hơn, dương cao ngọn cờ dân chủ và xứng đáng với ngọn cờ ấy là con đường để Đảng trường tồn cùng với sự phát triển của dân tộc và đất nước. Khác đi, để Đảng bị thoái hóa quyền lực thì Đảng sẽ tự kết thúc sứ mệnh của mình. Lúc đó có muốn giữ cũng không giữ được.
Đặc điểm của nước ta đến nay chỉ có một lực lượng chính trị duy nhất là Đảng Cộng Sản đang lãnh đạo. Nếu Đảng thoái hóa và mất hết lòng tin của nhân dân rồi, không còn lãnh đạo được nữa, thì lúc ấy lực lượng nào sẽ lãnh đạo? (Mà đất nước thì không thể không có lãnh đạo chính trị!) Một người bạn đã đặt cho tôi câu hỏi đó. Tôi nghĩ không phải lo như vậy đâu, cuộc sống sẽ tự mở đường. Trong Đảng dù có thoái hóa nữa vẫn còn nhiều người tốt, bộ phận tiên tiến đó cộng với các trí thức chân chính có tâm huyết với dân tộc và nhiều người yêu nước khác…họ sẽ tập họp nhau lại để thực hiện trách nhiệm với Tổ Quốc. Đó là nói trong trường hợp xấu nhất cho hết ý vậy thôi, chứ tôi tin một Đảng chính trị đã được rèn luyện như Đảng CSVN không dễ gì đầu hàng sự thoái hóa của chính mình để nhận lấy thất bại và tan rã.

     Khi Đảng CSVN dương cao ngọn cờ dân chủ, đại diện chân chính cho ngọn cờ đó, thúc đẩy thành công sự nghiệp ấy thì tôi tin nhất định nhân dân sẽ ủng hộ Đảng tiếp tục giữ vai trò lãnh đạo đất nước. (Xin nói thêm, không đồng nhất con đường dân chủ với chế độ đa đảng, mặc dù hai vấn đề đó có mối quan hệ nhất định với nhau - việc này sẽ bàn sau trong một bài khác).

     11. Về nước Mỹ và mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, tôi cũng xin bình luận ít lời. Họ tuyên bố độc lập cách đây 243 năm. Khoảng 100 năm trước đây họ đã là một quốc gia phát triển mạnh nhất thế giới. Vậy là chỉ khoảng 143 năm sau khi độc lập họ đã phát triển như vậy, trong khi nhiều nước khác tuyên bố độc lập trước họ rất lâu mà mãi đến nay vẫn còn ở phía sau xa. Thực tế đó cho thấy họ có nhiều kinh nghiệm phát triển bậc nhất thế giới. Theo một số học giả của Mỹ và thế giới, nguyên nhân thành công trước tiên thuộc về giáo dục. Một nền giáo dục khai mở và sáng tạo. Theo một số đánh giá của tổ chức quốc tế và các chuyên gia về giáo dục, trong 100 trường đại học được cho là top hàng đầu thế giới thì riêng nước Mỹ đã chiếm một nửa, còn lại tất cả các quốc gia khác trên khắp thế giới cộng lại chỉ bằng một nước Mỹ. Và, nếu tôi nhớ không nhầm thì cách đây gần 100 năm chính Lê-nin đã có lần nói phải đi học nền giáo dục của nước Mỹ để về xây dựng và phát triển Liên Bang Xô Viết. Rất tiếc là sau đó người ta đã không làm như thế. Mỹ cũng là nước có thị trường hàng hóa, thị trường công nghệ và thị trường vốn đứng đầu thế giới. Ngay cả Trung Quốc cách đây không lâu cũng đã tập trung đi học kinh nghiệm của Mỹ và nhờ họ giúp đở để thực hiện cải cách. Từ đó, Trung Quốc tiến vượt lên về kinh tế. Đặc biệt trong thời gian gần đây, Mỹ là quốc gia luôn lên tiếng đầu tiên và lên tiếng mạnh mẽ nhất để phê phán sự xâm lăng của Trung Quốc, ủng hộ việc bảo vệ chủ quyền biển của Việt Nam. Lợi ích của ta và họ trên Biển Đông hiện tại về cơ bản không mâu thuẫn mà phù hợp nhau. Trong quan hệ đa phương hiện nay, nếu tăng cường được mối quan hệ hữu nghị hợp tác với một quốc gia như nước Mỹ để trao đổi và tiếp thu kinh nghiệm phát triển của họ thì đó là việc cần thiết và nên làm đối với nước ta.

                                                                          Tp. HCM ngày 20.10.2019


Thứ Năm, 10 tháng 10, 2019

HỮU LOAN TÁC GIẢ ÁNG THƠ TÌNH RUNG CẢM MÃI VỚI CHUYỆN ĐỜI



HỮU LOAN (1916 - 2010)


Hữu Loan tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2 tháng 4 năm 1916 (theo lý lịch, ông sinh năm 1914) tại làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; học thành chung, rồi đi dạy học, tham gia Mặt trận Bình dân năm 1936, hoạt động Việt Minh ở thị xã Thanh Hóa. Năm 1943, ông về gây dựng phong trào Việt Minh ở quê. Cách mạng tháng Tám (1945) ông làm phó chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn. Hữu Loan là cộng tác viên của các tập san Văn học, xuất bản tại Hà Nội  trước năm 1945. Sau Cách mạng tháng, ông được cử làm Ủy viên Văn hóa trong Ủy ban hành chính lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính. Trong kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tham gia quân đội nhân dân Việt Nam, phục vụ trong đại đoàn 304. Sau năm 1954, ông làm việc tại báo Văn nghệ. Thời gian 1956-1957, ông tham gia Phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Năm 1958, nhà thơ Hữu Loan phải đi học tập chính trị, rồi bị quản thúc tại địa phương. Cuối đời ông về sống tại quê nhà ở tỉnh Thanh Hóa.
Săp tới kỷ niệm 10 năm ngày mất Hữu Loan, Thôn Minh Triết giới thiệu lại bài Màu tím hoa sim nổi tiếng của ông, sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và mấy dòng hồi tưởng đầy cảm xúc về câu chuyện riêng tư trong tình cảm vợ chồng.

MÀU TÍM HOA SIM

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệrớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu…

(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)

                                     và tác giả tự thuật:

     Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.
      Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.
     Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
     Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ…
     Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ …
     Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:-Ngọt quá.Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.
     Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
     Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”. 
     Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. 
     Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn …
     Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. 
     Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim… Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”
     Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!
     Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông … 
     Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi … 
     Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
     Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. 
     Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông . 
     Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. 
     Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì. 
     Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.
     Tưởng nhớ một nghệ sĩ tài ba, một cựu chiến binh, Trung tâm nghiên cứu văn hóa Minh Triết rất mong nhận được những bài viết và tư liệu của đông đảo bạn đọc và các nhà nghiên cứu lịch sử vă hóa, để chúng tôi có thể cùng thân tộc, địa phương quê hương tác giả và bạn bè,,, tổ chức một cuộc tọa đàm hay hội thảo vào đầu năm 2020.

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2019

HOA NAM CỤC – ANH LÀ AI ?


                                                                    Duan Dang

Phần 1

Hẳn người Việt không có ai chưa từng nghe đến cái tên tình báo Hoa Nam, con ngáo ộp khét tiếng trong đời sống chính trị nước Việt Nam. Thế nhưng, gần như chẳng mấy ai biết được tình báo Hoa Nam, hay Hoa Nam tình báo cục, nằm ở đâu trong cơ cấu tình báo của Trung Quốc.

Đối với người Việt, Hoa Nam tình báo ngày nay dường như cụm từ là để chỉ tất cả mọi vấn đề liên quan đến tình báo phương Bắc. Cứ tình báo Trung Quốc thì sẽ được gọi là tình báo Hoa Nam, vốn được xem là một phân cục tình báo phụ trách Nam Trung Quốc, Hồng Kông, Đông Dương và Đông Nam Á.

Định kiến này sẽ dẫn đến sự nhầm tưởng tai hại rằng chỉ có một cơ quan tình báo Trung Quốc hoạt động tại Việt Nam, dưới tên gọi tình báo Hoa Nam. Thực tế, có rất nhiều cơ quan tình báo Trung Quốc cùng hoạt động ngầm ở Việt Nam, cũng như bất kỳ nước nào khác trên thế giới. Vậy đối với người Việt, Hoa Nam tình báo bắt nguồn từ đâu và liệu có thực sự tồn tại một cơ quan như thế hay không? Câu trả lời là có và không.

Để tìm hiểu nguồn gốc Hoa Nam tình báo cục đối với người Việt, cần phải quay trở lại với thời kỳ quốc cộng liên minh kháng Nhật lần thứ hai ở Trung Quốc.

Tháng 10.1937, lãnh đạo đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) triệu tập hội nghị Bộ Chính trị về vấn đề hoạt động cách mạng ở 12 tỉnh phía nam Trung Quốc. Tại đại hội này, CCP quyết định thành lập Cục Trường Giang đặt tại Vũ Hán. Cục Trường Giang chịu trách nhiệm lãnh đạo hoạt động cách mạng ở phía nam và Tân Tứ quân ở miền nam, đàm phán với Quốc dân đảng và mở rộng tầm ảnh hưởng của cộng sản ở các khu vực thuộc quyền kiểm soát của Quốc dân đảng.

Cục Trường Giang lúc này được xem như Bộ Chính trị thứ hai, với sự góp mặt của 5 ủy viên Bộ Chính trị là Chu Ân Lai, Vương Minh, Bác Cổ, Hạng Anh và Khải Phong. Bộ Chính trị thứ nhất lúc đó đặt tại Diên An dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông. Cục Trường Giang lúc đó rất có trọng lượng trong CCP và bị Mao xem như là một cái gai.

Chính Chu Ân Lai, người được xem là ông tổ của tình báo cách mạng Trung Quốc, lúc đó đã nỗ lực thiết lập một mạng lưới tình báo hiệu quả trong lòng địch ở phía nam. Đến tháng 10.1938, Cục Trường Giang được đổi tên thành Cục Nam Phương đặt tại Trùng Khánh. Sau đó, vào năm 1939, Chu ra lệnh cho Phan Hán Niên, một tên tuổi điệp báo lẫy lừng của CCP, thiết lập một mạng lưới tình báo lớn có trụ sở tại Thượng Hải, lấy tên là “Hoa Nam Tình báo Cục”.

Cục Tình báo Hoa Nam chính thức ra đời dưới sự quản lý của Cục Nam Phương (Southern Bureau) từ năm 1939, mặc dù mạng lưới của nó đã được thiết lập rải rác từ trước đó.

Cục Nam Phương phụ trách lãnh đạo kháng chiến ở các vùng Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, Giang Tô, Hồng Kông và đặc biệt phụ trách quan hệ với các phong trào cách mạng ở Đông Nam Á.

Đây có lẽ là yếu tố then chốt khiến Cục Tình báo Hoa Nam trở nên khét tiếng ở Việt Nam và Đông Nam Á bởi việc cục này cài cắm gián điệp vào các phe phái đối địch với phong trào cộng sản ở khu vực hoặc thậm chí vào chính các đảng có quan hệ là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt khi kinh đô của phong trào cộng sản ở Đông Á khi đó nằm tại Thượng Hải và Hồng Kông. Đây là hai địa bàn đặt trụ sở chính của tình báo Hoa Nam do Phan Hán Niên lãnh đạo. Cơ quan này cài cắm nhiều điệp viên nằm vùng trong lòng giới ngoại giao và quân đội Nhật Bản cũng như Quốc dân đảng.

Một trong những thành tích chói sáng nhất của tình báo Hoa Nam thời Đệ nhị thế chiến là nắm trước được thời điểm chiến dịch Barbarossa xảy ra. Đây là cuộc tiến công chớp nhoáng do Hitler phát động nhằm vào Liên Xô.

Theo sử sách Trung Quốc, một điệp viên của Hoa Nam tình báo ở Trùng Khánh đã nghe ngóng được trong giới ngoại giao Nhật Bản về một kế hoạch tấn công Liên Xô của Đức Quốc xã vào ngày 22.6.1941. Thông tin này được chuyển đến Chu Ân Lai và Chu lập tức ký một bức điện gửi về Diên An, rồi từ đó nó được gửi đến Moscow vào ngày 20.6, hai ngày trước khi cuộc tấn công nổ ra.

Vài tháng sau đó, Hoa Nam tình báo tiếp tục nắm bắt được thông tin từ nhiều nguồn khác nhau về quá trình chuẩn bị của quân đội Nhật cho một cuộc chiến tranh với Mỹ. Đến tháng 10, Hoa Nam tình báo kết luận quá trình chuẩn bị đã cơ bản hoàn tất và quân đội của Thiên Hoàng sắp sửa gây chiến với Mỹ. Thông tin này được gửi về Diên An và một lần nữa được chuyển tiếp cho các lãnh đạo Liên Xô. Ngày 7.12.1941 chuyện gì đã xảy ra? Xin mời search nếu quên.

Đến lúc này, có lẽ câu hỏi liệu có thực sự tồn tại một tổ chức có tên Hoa Nam Tình báo Cục hay không đã được giải đáp. Vấn đề còn lại là Hoa Nam Tình báo Cục đã thoát thai hoán cốt ra sao trong dòng lịch sử kinh thiên động địa ở Đông Á tiếp diễn sau đó. Liệu nó có tiếp tục tồn tại hay không và nếu tồn tại thì nó đang nằm ở đâu trong guồng máy tình báo khét tiếng của Trung Quốc.

Để giải quyết vấn đề này, hãy quay trở lại Diên An, gặp gỡ một Mao Trạch Đông đang tức tối và ủ mưu thâu tóm các quyền hành bị phân tán cho Cục Nam Phương của Chu Ân Lai. Tại đây, chúng ta cũng sẽ gặp gỡ một nhân vật độc nhất vô nhị không thể không nhắc đến trong lịch sử tình báo Trung Quốc – trùm mật vụ được mệnh danh là “Beria của Trung Quốc”: Khang Sinh.

                                                                                      Phần 2

Lịch sử cơ cấu tổ chức của Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) rất phức tạp, xuất phát từ địa hình rộng lớn của nước này và các cuộc đấu đá quyền lực liên miên trong nội bộ đảng. Năm 1937, Cục Trường Giang của CCP ở Vũ Hán lãnh đạo mặt trận hợp tác kháng Nhật với Quốc dân đảng trong khi Bộ Chính trị thứ nhất của Mao Trạch Đông núp lùm tại Diên An. Cục Trường Giang khi đó đặt dưới sự lãnh đạo của Vương Minh, thủ lĩnh của nhóm 28 Bolshevik vừa trở về từ Moscow. Trước đó Vương Minh là trưởng đoàn của Trung Quốc tại Đệ tam quốc tế (Comintern) trong giai đoạn 1933-1937. Phó đoàn của Vương là Khang Sinh, người tu nghiệp tại các trường đào tạo mật vụ của NKVD và KGB.

Tuy Mao tỏ ra tôn kính Vương Minh lúc ban đầu khi nhà lãnh đạo này trở về với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Comintern, song mâu thuẫn nhanh chóng nảy sinh giữa hai đối thủ này. Cục Trường Giang dưới sự lãnh đạo của Vương Minh và Chu Ân Lai chủ trương hợp tác thực tình với Quốc dân đảng để kháng Nhật. Tuy nhiên, Mao lại chỉ muốn đánh cầm chừng và xây dựng cơ sở đảng trong các khu vực kiểm soát của Quốc dân đảng. Hiềm khích nảy sinh giữa Mao và Vương Minh là không thể tránh khỏi.

Trong nỗ lực giành lợi thế trước Vương Minh, Mao đã kết thân với Khang Sinh, giữa hai người này hình thành mối quan hệ liên minh chiến lược. Đặc biệt, Khang Sinh chính là người mai mối giữa Mao Trạch Đông với Giang Thanh, khi đó là một điệp viên được cài cắm ở Thượng Hải. Có nhiều lý do để Mao liên kết với Khang Sinh. Thứ nhất, vì từng là phó đoàn của Trung Quốc ở Comintern, nên Khang có thể giúp Mao thu hút được sự ủng hộ của Comintern lúc đó đang đổ dồn vào Vương Minh. Thứ hai, liên kết với Khang Sinh giúp làm suy yếu phe của Vương Minh. Và thứ ba, kinh nghiệm mật vụ của Khang sẽ giúp Mao thâu tóm hoạt động tình báo và an ninh. Sau này, chính Khang là đao phủ thủ trong đợt vận động chỉnh phong Diên An, thực chất là cuộc thanh trừng các đối thủ chính trị của Mao.

Cuộc đấu đá quyền lực giữa hai bộ chính trị của CCP dâng lên đến cao trào tại hội nghị trung ương sáu của Đại hội 6 từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1938 ở Diên An, và người chiến thắng là Mao Trạch Đông. Trong nỗ lực làm suy yếu Vương Minh, Mao quyết định bãi bỏ Cục Trường Giang, chia cục này làm ba cục là Cục Nam Phương do Chu Ân Lai lãnh đạo và Cục Trung Nguyên do một người thân tín của Mao là Lưu Thiếu Kỳ lãnh đạo và Cục Đông Nam. Cục Trung Nguyên sau được đổi tên thành Cục Hoa Trung. Tuy thời gian xuất hiện có thể khác nhau và trải quá vài đợt sáp nhập, chia tách, nhưng nhìn chung sau năm 1949, CCP phân chia thành các cục là Cục Hoa Bắc, Cục Đông Bắc, Cục Hoa Đông, Cục Tây Bắc, Cục Tây Nam và Cục Trung Nam, tương ứng với 6 đại địa khu tồn tại từ 1949 đến 1954.

Nhận thấy vai trò quan trọng của hoạt động an ninh và tình báo đối với quá trình thâu tóm quyền hành của mình, Mao muốn thống nhất các cơ quan tình báo thành một tổ chức đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của mình. Vì vậy, Mao quyết định thủ tiêu Cục An ninh chính trị và thành lập Bộ Xã hội do Khang Sinh làm bộ trưởng vào tháng 10.1939. Đây có thể xem là cơ quan tình báo thống nhất đầu tiên của CCP, tiền thân của Bộ Công an và Bộ An ninh quốc gia sau này.

Tổ chức của Bộ Xã hội (SAD) có các cục tình báo khu vực gắn liền với các cục của CCP. Và Hoa Nam tình báo cục chính là cơ sở của SAD ở Cục Nam Phương. Tuy nhiên, do e ngại sức ảnh hưởng quá lớn của Khang Sinh nên Mao đích thân triệu tập lãnh đạo tình báo Lý Khắc Nông của Cục Nam Phương ở Trùng Khánh về Diên An làm thứ trưởng thường trực của SAD.

Lý Khắc Nông lúc ấy là tổng thư ký phụ trách tình báo và an ninh của Cục Nam Phương. Việc triệu tập Lý Khắc Nông về Diên An làm phó tướng cho Khang Siinh phải nói là một đòn bậc thầy của Mao, vừa giúp kiểm soát Khang, vừa làm suy yếu Chu Ân Lai và lợi dụng được những kinh nghiệm vô giá về tình báo trong lòng địch của Lý Khắc Nông.

                                                                         Phần 3

Năm 1939, Bộ Xã hội, tiền thân của Bộ An ninh quốc gia và Bộ Công an, và cả tình báo quân sự Trung Quốc, ra đời, với Khang Sinh là bộ trưởng, Lý Khắc Nông là thứ trưởng thường trực và Phan Hán Niên là thứ trưởng. Năm 1939, Bộ Xã hội, tiền thân của Bộ An ninh quốc gia và Bộ Công an, và cả tình báo quân sự Trung Quốc, ra đời, với Khang Sinh là bộ trưởng, Lý Khắc Nông là thứ trưởng thường trực và Phan Hán Niên là thứ trưởng.

Huyền thoại tình báo Phan Hán Niên chủ yếu giám sát hoạt động đào tạo điệp viên ở Diên An và một số học trò của ông sau này đã theo ông đến Hồng Kông và Thượng Hải. Sau khi Phan Hán Niên trở lại địa bàn quen thuộc là Hồng Kông vào tháng 4.1939 để chữa bệnh mắt, giới lãnh đạo ở Diên An yêu cầu ông ở lại đây và giám sát việc tổ chức cơ quan tình báo ở phía nam có tên Hoa Nam Tình báo Cục, trên cơ sở hợp nhất các mạng lưới ở Thượng Hải, Hồng Kông Ma Cao và Quảng Đông như chúng ta đã biết.

Phan Hán Niên tái cấu trúc các mạng lưới hiện hữu bằng cách bổ sung những học trò mà ông dẫn theo từ Diên An. Ông cài cắm điệp viên vào các mạng lưới khác nhau, gồm cả cơ quan tình báo của Liên Xô ở Viễn Đông và Cục Điều tra và Thống kê quốc gia – cơ quan tình báo quân sự của Quốc dân đảng khét tiếng với tên rút gọn “Quân thống”, và dĩ nhiên là cơ quan tình báo của Bộ Ngoại giao Nhật Bản lúc bấy giờ.

Như một bi kịch oan khiên thường thấy của những nhà tình báo hiển hách, hoạt động của Phan Hán Niên ở Hồng Kông và Thượng Hải rồi sẽ khiến ông ngậm đắng nuốt cay với 22 năm tù ngục cho đến chết từ 1955 đến 1977.

Tuy nhiên, trước hết hãy giải quyết câu hỏi vì sao có lúc chúng ta gọi Hoa Nam Tình báo cục, có lúc lại gọi Hoa Nam Tình báo phân cục, có lúc lại chỉ đơn giản là tình báo Hoa Nam?

Sau khi Đệ nhị thế chiến kết thúc, tháng 12.1945, Cục Nam phương đổi tên thành Cục Trùng Khánh, tham gia vào hội nghị hiệp thương chính trị toàn quốc ở thành phố này. Đến tháng 5.1946, đoàn đại biểu của Đảng Cộng sản Trung Quốc dời về Nam Kinh theo chính phủ Trung Hoa dân quốc và đổi tên thành Cục Nam Kinh.

Tháng 3.1947, sau khi nội chiến toàn diện nổ ra, các tổ chức công khai của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Nam Kinh, Thượng Hải và Trùng Khánh bị trục xuất và triệt thoái về Diên An, Cục Nam Kinh, với các tiền thân là Cục Trùng Khánh, Cục Nam phương và Cục Trường Giang đã kết thúc sứ mệnh lịch sử và giải tán.

Trong cùng khoảng thời gian này, tại Hồng Kông, Phan Hán Niên cùng các đồng chí như Phương Phương, Doãn Lâm Bình, Chương Hán Phu nhận được chỉ thị thành lập Phân cục Hồng Kông trực thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc như là trung tâm chỉ huy của Đảng Cộng sản ở vùng Hoa Nam.

Ngoài tình báo, Phân cục Hồng Kông còn chịu trách nhiệm cho hoạt động hết sức quan trọng là công tác mặt trận thống nhất, bao gồm việc liên lạc với các lực lượng người Hoa ở hải ngoại, đặc biệt là ở Đông Nam Á. Trong đó, Quảng Đông là khu vực hết sức quan trọng bởi đây là quê quán của nhiều người Hoa ở hải ngoại nhất.

Sau khi Đảng Cộng sản giành chiến thắng và tuyên bố lập quốc vào tháng 10.1949, Trung Quốc được chia thành 6 đại khu hành chính, gồm đông bắc, hoa bắc, hoa đông, tây bắc, tây nam và trung nam. Ngoài khu hoa bắc đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chính quyền trung ương, 5 khu còn lại đều được chỉ huy bởi các cục có tên tương ứng trực thuộc ban chấp hành trung ương. Như vậy, Đảng Cộng sản Trung Quốc khi đó có 5 cục địa phương là Cục Đông Bắc, Cục Hoa Đông, Cục Tây Bắc, Cục Tây Nam và Cục Trung Nam. Các cục này tồn tại từ năm 1949 đến 1955 thì đồng loạt bị bãi bỏ.

Trong khoảng thời gian này, Phân cục Hồng Kông được đổi tên thành Phân cục Hoa Nam và di chuyển đại bản doanh đến thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông. Phân cục Hoa Nam khi ấy trực thuộc Cục Trung Nam, là cục duy nhất có phân cục. Đến năm 1955, khi các cục địa phương bị bãi bỏ, Phân cục Hoa Nam trở thành Tỉnh ủy tỉnh Quảng Đông.

Tuy nhiên, Phân cục Hoa Nam đã trở nên khét tiếng bởi quãng thời gian tồn tại của nó trùng với cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Trong thời gian đó, Hoa Nam Phân cục luôn thường trực một bản kế hoạch về việc xâm lược Đông Dương và Đông Nam Á. Bản kế hoạch này đã bị Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) lấy được và đó có thể là một trong những lý do dẫn đến sự hình thành của cái gọi là “lý thuyết domino”, một trong những nguồn cơn của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, còn gọi là Chiến tranh Việt Nam.

                                                                                                      Nguồn: Facebook tác giả