Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2019

ĐÁNG SỢ NHẤT LÀ THAM NHŨNG CHÍNH SÁCH



   Kinh khủng nhất chính là tham nhũng chính sách, hay chúng tôi còn gọi là “buôn" cơ chế. Đó là tình trạng một số kẻ nào đó trong xã hội, phổ biến nhất là doanh nghiệp, mưu cầu lợi ích riêng cho mình hoặc nhóm mình bằng cách móc nối với những người thiết kế chính sách, thậm chí những người ở cương vị ra quyết định, để nhà nước đưa ra chính sách có lợi cho họ, bất chấp lợi ích chung.




   Nhỏ nhắn nhưng sắc sảo, quyết liệt và riết róng, đó là "gương mặt" điển hình của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan từ nhiều năm qua, kể cả khi bà còn làm việc trong tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng lẫn sau này, khi bà thường xuyên lên tiếng trong những vấn đề kinh tế nóng bỏng của xã hội.

   Dù biết trước và biết rõ điều đó nhưng gần 3 tiếng ngồi trò chuyện tại nhà riêng của bà, tôi vẫn không tránh khỏi bất ngờ vì không nghĩ một người phụ nữ đã bước qua tuổi 70 mà một mặt vẫn giữ được "phong độ" như hàng chục năm về trước, một mặt vẫn không ngừng cập nhật những cái mới mẻ của đời sống hôm nay, để kiên quyết không biến mình thành một kẻ lạc thời.

   - Nhà báo Phan Đăng: Thưa chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, bây giờ nhớ lại câu chuyện của hơn 20 năm về trước, bà có thể chia sẻ cái khoảnh khắc chính thức được mời làm việc trong tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng không ạ?

   - Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: Năm 1996, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt tổ chức lại tổ tư vấn vốn có của mình (được thành lập từ năm 1993), thu gọn từ gần 60 người xuống còn 21 người. Có người ra, có người vào và tôi là người mới tham gia vào. Năm đó lại là năm ráo riết xem lại để sửa Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty.

   Lúc đó, tôi đang là Tổng Thư ký của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và trên cương vị đó, tôi lên tiếng nhiều về luật này cũng như các vấn đề về phát triển khu vực tư nhân, có lẽ từ đấy mà Thủ tướng mời tôi vào.


   - Bà vẫn còn làm việc đến thời cố Thủ tướng Phan Văn Khải?

   - Khi thủ tướng Phan Văn Khải nhận nhiệm vụ năm 1997, Thủ tướng yêu cầu tôi tiếp tục tham gia tổ tư vấn (năm 1998, tổ được nâng cấp thành Ban Nghiên cứu của Thủ tướng) và sau này, đến năm 2003, khi tôi chính thức nghỉ hưu ở VCCI thì Thủ tướng đề nghị tôi về làm chuyên trách.

   Ở Ban Nghiên cứu, số thành viên chuyên trách phần lớn đã về hưu, còn một số thành viên đang công tác thì làm kiêm nhiệm, ngoài ra có một số cộng tác viên. Tiêu chuẩn chung nhất là phải có tư duy và ý tưởng đổi mới. Đến khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lên thì một trong những quyết định đầu tiên là giải tán Ban Nghiên cứu này.

   - Vì sao ạ?

   - Tôi nhớ hồi đó, khi một đại biểu Quốc hội hỏi về sử dụng trí thức thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả lời đại ý rằng: xung quanh Thủ tướng là anh em văn phòng, những người giúp việc trực tiếp, tất cả đều có bằng cấp cao, là trí thức cả. 

Chắc ông nghĩ thế nên không cần tổ tư vấn riêng. Phải rất lâu sau, ở nhiệm kỳ thứ hai của mình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mới lập ban tư vấn mới. 

   - Tôi có đọc trên báo rằng, cơ chế hoạt động của Ban Nghiên cứu là "5 không"?

  - "Năm không" là cơ chế cho phép chúng tôi làm việc rất độc lập, rất mở, không bị trói buộc về tư duy, kể cả với Thủ tướng. 

   Một là không chức vụ, biên chế. 
   Hai là không lương (mọi người có thu nhập từ công việc chính hoặc lương hưu của mình; sau này mới có một chút tiền hỗ trợ, 500.000 đồng/tháng, rồi được nâng lên thành 1 triệu đồng/tháng). 

   Ba là, không có trên có dưới trong Ban, nghĩa là có người làm Trưởng, Phó ban, nhưng chỉ là trưởng/phó về mặt hành chính thôi còn về chuyên môn thì tất cả đều bình đẳng như nhau. Cả Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Thủ tướng Phan Văn Khải đều luôn yêu cầu phải ghi đầy đủ các ý kiến, các tranh luận khác nhau trong tổ, tuyệt đối tránh tình trạng một chiều. 

    Bốn là, không có hạn chế, không có vùng cấm trong việc đưa ý kiến cho Thủ tướng. 

Và năm là, mình tự chịu trách nhiệm về ý kiến của mình, chứ không nhân danh cơ quan nào cả. Như thế để không bị ràng buộc với cơ quan, không phải e ngại ông sếp ở cơ quan mình cắc cớ: tại sao lại nói thế này, thế kia.

   - Khi nhìn vào thành phần của tổ tư vấn cho các Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Nguyễn Tấn Dũng và cả Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bây giờ, tôi thấy số lượng nữ là rất hiếm hoi. Nếu tôi nhớ không nhầm, trong cả trăm con người đã hoặc đang tham gia tổ tư vấn này thì chỉ có khoảng 3-4 phụ nữ thì phải?

   - Thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt có bà Nguyễn Phước Đại và bà Trương Thị Hòa, 2 nữ luật gia nổi tiếng ở miền Nam. Thời Thủ tướng Phan Văn Khải thì có 2 nữ là tôi và bà Nguyễn Thị Hiền, tiến sĩ về vật giá, trước làm ở Văn phòng Chủ tịch nước. Sau đó thì không còn nữ nữa. 

   Tôi nghĩ hai Thủ tướng không chủ định cơ cấu cho có thành phần nữ đâu mà là chọn lựa thực chất, theo yêu cầu công việc. Bởi khi chúng tôi tham gia, nói thật, nhiều khi phải quên đi mình là nữ vì đã tranh luận thì phải tới nơi tới chốn, sòng phẳng với nhau. Có lần, một phóng viên hỏi tôi: "Phụ nữ vốn dịu dàng, vậy khi tranh luận các vấn đề thì sao?". Tôi trả lời: "Đã gọi là tranh luận thì đâu còn dịu dàng được nữa!"... (cười).


   - Bà có thể kể lại một cuộc tranh luận đáng nhớ nào đó trong Ban được không ạ?

   - Một trong những tranh luận căng nhất liên quan đến việc làm Luật Doanh nghiệp mới năm 1999. Luật cũ dựa trên nguyên tắc doanh nghiệp làm gì cũng phải xin phép, mọi sự thay đổi sau đó cũng phải xin phép. Ví dụ, tôi đang làm một công ty có số vốn 300 triệu đồng nếu muốn mở rộng lên 600 triệu, hay muốn chuyển trụ sở từ quận này sang quận kia thì đều phải xin phép, thành ra rất nhiêu khê. Làm nghề đánh máy chữ cũng phải xin phép và cứ 3 tháng là phải xin phép lại một lần. Rồi số phận của những người làm photocopy sau này cũng thế. 

   Tại sao cứ 3 tháng lại phải xin phép? Vì thời ấy có người sợ rằng nhỡ đâu họ lợi dụng chuyện đánh máy, photocopy để in tài liệu phản động chống phá nhà nước thì sao (!?).

   - Bây giờ nhìn lại, chúng ta sẽ thấy rất buồn cười nhưng đấy là tư duy của một thời. Và vì thế mới luôn cần đến những thay đổi, để thích nghi với những chuyển động thời đại mới.

   - Đúng vậy. Nguyên tắc của luật mới là người dân được quyền tự do kinh doanh những gì mà luật pháp không cấm. Nhưng đến khi bàn về "phạm vi tự do kinh doanh là như thế nào?" thì tranh luận phức tạp lắm. Có đại diện địa phương bảo: tôi phụ trách tỉnh, tôi biết ai tốt, ai xấu, người tốt tôi mới cho kinh doanh chứ. 

   Đại diện của Bộ Tài chính lúc ấy tham gia ban chỉ đạo soạn thảo luật thì cứ khăng khăng “đã là doanh nghiệp thì phải có vốn, mà đã có vốn thì nhà nước phải kiểm soát chứ”. 

   Chúng tôi phản bác: Đây không phải vốn nhà nước mà là vốn tư nhân. Người ta tự bỏ vốn ra, lời ăn, lỗ chịu, anh kiểm soát khâu nộp thuế thôi, sao lại đòi kiểm soát cả vốn của người ta nữa... Ngày đó để tranh luận và đi đến thuyết phục cuối cùng những vấn đề đó cũng không hề dễ dàng.

   - Chứng kiến những tranh luận như thế, thái độ của Thủ tướng như thế nào ạ?

   - Chúng tôi nhớ mãi nụ cười của ông Phan Văn Khải cùng câu ông nói: "Sao vẫn còn những người tư duy như thế nhỉ?".

   - Những người như bà tư vấn cho Thủ tướng để ra một đạo luật và sau một đạo luật thì số phận của hàng loạt đối tượng, hàng loạt con người sẽ chịu tác động. Dĩ nhiên, sẽ có nhóm đối tượng nhận được tác động tốt và cũng không loại trừ khả năng sẽ có những nhóm đối tượng nhận được những tác động không như mình trông đợi. 

Vậy thì tôi xin hỏi một câu rất thật, bà có thể không trả lời, đó là trong quá trình tổ tư vấn làm việc, có đối tượng nào, dùng một cách thức nào đó tác động lên tổ tư vấn để từ đó các đạo luật ban hành có lợi cho mình không? Nói thẳng theo ngôn ngữ của ngày hôm nay là có ai chạy chọt gì các thành viên của tổ như bà hay không?

   - Lúc làm Luật Doanh nghiệp 1999 thì không có sự chạy trực tiếp từ doanh nghiệp tới Ban Nghiên cứu, nhưng chúng tôi cảm nhận được họ có thông qua cơ quan nọ cơ quan kia để lên tiếng về một số ngành nghề mà theo họ là không thể cho tự do kinh doanh được. 

   Chúng tôi hiểu là những ngành nghề ấy có một số doanh nghiệp nhất định đã và đang kinh doanh rồi và họ muốn "độc quyền", không muốn ai khác nhảy vào cạnh tranh với mình. Sau này, trong các luật hoặc chính sách khác cũng có người chạy đấy nhưng không “mua” được chúng tôi.

   - Nhưng trong tổ tư vấn có tới hơn 20 người. Sao bà có thể chắc chắn là cả 20 người đều không "mua" được? 

   - À, ở tổ tư vấn, không phải tất cả đều tham gia làm Luật Doanh nghiệp. Trong tổ có chia ra mấy nhóm theo các vấn đề khác nhau và mỗi nhóm tập trung một cụm vấn đề riêng. 

   Ví dụ như tổ doanh nghiệp, trực tiếp tham gia tư vấn về các vấn đề phát triển doanh nghiệp thì chỉ có 4 người. Chúng tôi làm việc rất minh bạch, có nguyên tắc, tỉnh táo và rất thẳng thừng đối với những kiểu luồn lách, cài cắm lợi ích riêng vào luật.

   - Vậy ở góc độ ngược lại, có ai đe dọa, mỉa mai gì không ạ?

   - Sau khi thông qua Luật Doanh nghiệp, Quốc hội giao cho Chính phủ ban hành nghị định hướng dẫn và tổ chức thực hiện luật thì xuất hiện sự dọa dẫm này nọ. Bởi vì có hàng trăm giấy phép con không phù hợp với luật đã bị chúng tôi khuyến nghị Chính phủ bãi bỏ đi. 

   Có người nhắn nhe đe dọa rằng xóa bỏ những giấy phép con ấy là "đập vỡ nồi cơm của chúng tôi à?". Nhiều doanh nghiệp lo lắng, dặn chúng tôi đi đường phải cẩn thận kẻo “tai nạn bất ngờ”.


    - Bà có chút nào e sợ không?

   - Chúng tôi không sợ, vẫn làm tới. Nhưng điều đau nhất là mấy năm sau, số giấy phép con bị bãi bỏ lại mọc lên, đặc biệt qua các văn bản pháp luật chuyên ngành.

   - Qua những câu chuyện như thế này lại thấy, thật ra tham nhũng về mặt chính sách là điều kinh khủng nhất và đáng sợ nhất trong các loại tham nhũng, phải không bà?

   - Thời gian cuối của Ban Nghiên cứu, chúng tôi nói đi nói lại điều này nhiều lắm, rằng kinh khủng nhất chính là tham nhũng chính sách, hay chúng tôi còn gọi là “buôn" cơ chế. 

   Đó là tình trạng một số kẻ nào đó trong xã hội, phổ biến nhất là doanh nghiệp, mưu cầu lợi ích riêng cho mình hoặc nhóm mình bằng cách móc nối với những người thiết kế chính sách, thậm chí những người ở cương vị ra quyết định, để nhà nước đưa ra chính sách có lợi cho họ, bất chấp lợi ích chung.

   - Tình trạng tham nhũng chính sách, nếu xuất hiện sẽ dẫn đến hậu quả như thế nào?

   - Tham nhũng chính sách làm hỏng từ chính sách thì làm sao mà kinh tế phát triển được nữa. Bề ngoài có thể có tăng trưởng, nghĩa là có thể báo cáo hằng năm GDP vẫn tăng, ngành này ngành khác vẫn tăng nhưng không thể có phát triển kinh tế-xã hội thực sự. 

   Cái tăng đó phải trả bằng một giá rất đắt do các nguồn lực của đất nước bị tiêu tán, phí phạm, hiệu quả kinh tế thấp, làm méo mó thị trường, phá hủy sự cạnh tranh lành mạnh, suy giảm năng lực cạnh tranh quốc gia và nhất là không bảo đảm lợi ích cho đa số người dân mà chỉ mang lợi ích lớn cho một nhóm người nào đó.  Mặt khác, một bộ phận cán bộ nhà nước sẽ hư hỏng, thoái hóa, nạn mua quan bán chức sẽ hoành hành, bộ máy nhà nước sẽ mất kỷ cương, giảm hiệu lực, hiệu quả. 

   Tăng trưởng kiểu đó dù có cao cũng sẽ khiến chất lượng suy giảm, bất bình đẳng kinh tế-xã hội gia tăng, gây mất niềm tin trong công chúng, đe dọa sự ổn định chính trị-xã hội và do vậy đất nước không thể phát triển bền vững.

   - Tôi nhớ có lần bà từng phát biểu: "Chúng ta là một đất nước... không chịu phát triển"?

  - Khoảng năm 2009, giám đốc cũ của Ngân hàng Thế giới ở Việt Nam hết nhiệm kỳ, ngồi lại với một số người và tất cả buồn bã nói với nhau rằng: Việt Nam có tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi, nguồn lực con người to lớn, dòng vốn ODA và FDI dồi dào, thế mà chưa tận dụng tốt để phát triển. 

   Một điều thuận lợi nữa là chúng ta bắt tay làm lại từ đầu sau chiến tranh, nên nhiều thứ gần như chẳng có gì phải bỏ đi để mà luyến tiếc. Ví dụ ngành viễn thông, mình phát triển sau thì mình có lợi thế hơn Thái Lan.

Thái Lan phải bỏ cả một hệ thống điện thoại có dây khi chuyển sang hệ thống điện thoại không dây. Còn mình thì đi thẳng vào điện thoại không dây vì trước đó nền tảng điện thoại gần như chưa có gì. Mình là nước đi sau, có thể học bài học của các nước khác để kiến tạo mô hình phát triển hiệu quả. 4 con rồng châu Á, tại sao họ lại thành rồng trong khoảng chỉ 25-30 năm? Trong cùng thời gian đó, tại sao có những nước tưởng hóa rồng nhưng lại không những không hóa rồng mà càng ngày càng đi xuống? Tất cả những bài học đó rất rõ, mình có thể thấy hết. 

   Thế giới họ cũng sẵn sàng tư vấn, chia sẻ, giúp đỡ mình phát triển. Nhưng hơn 30 năm sau chiến tranh, hơn 20 năm sau đổi mới, với ngần ấy tiềm năng, thuận lợi mà mình vẫn ở ngưỡng nghèo thì chỉ có thể là... không chịu phát triển! Thật ra thì, thời ông Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, các ông thấy rõ nên cải cách như thế nào và đã làm rất nhiều việc đúng và tốt để đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng sau chiến tranh và đạt những thành tựu quan trọng. 

   Năm 2006, khi Thủ tướng Phan Văn Khải kết thúc nhiệm kỳ, chúng tôi hỏi ông có dặn dò gì không thì ông bảo: "Vẫn phải cải cách mạnh tiếp. Phải làm sao thị trường, thị trường, thị trường hơn nữa".


   - Sau thời Thủ tướng Phan Văn Khải thì chúng ta đã từng có quyết định cho các tập đoàn kinh tế nhà nước kinh doanh đa ngành và lúc đó thật ra chúng ta đã rất kỳ vọng đấy là một cú đấm chùy, một cú đấm thực sự mạnh mẽ để giúp chúng ta từ chỗ "không chịu phát triển" có thể trở thành một "nền kinh tế phát triển"?

   - Khi chuẩn bị Đại hội Đảng lần thứ X (2006), ý tưởng cho phép các tập đoàn kinh tế nhà nước được kinh doanh đa ngành đã được đưa vào dự thảo nghị quyết của Đại hội. 

   Ở Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, chúng tôi đã tranh luận rất nhiều về vấn đề này và đa số cho rằng không nên hình thành nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước và không nên cho họ kinh doanh đa ngành. Doanh nghiệp nhà nước được lập ra để đầu tư vào những lĩnh vực thiết yếu, quy mô lớn như điện, dầu khí, hàng không, đường sắt, viễn thông… Làm tốt những việc chính đã khó, do đó chỉ nên tập trung vào lĩnh vực cốt lõi và làm tốt công việc chuyên sâu của mình thôi. Hơn nữa, các lĩnh vực khác phải để cho tư nhân làm và tư nhân ở nước ta đã và đang làm tốt hơn doanh nghiệp nhà nước nhiều, dù cho vẫn bị phân biệt đối xử.

   Chỉ một câu "đa ngành" ấy thôi, sau đó chúng ta đã mất rất nhiều. Vì "đa ngành" khiến các tập đoàn có quyền vơ vào mình các nguồn lực ghê gớm, nhưng vơ vào, đầu tư tràn lan, lại làm không giỏi, không quản trị nổi, cho nên lãng phí, thất thoát, thua lỗ nặng nề, đổ vỡ những “đại tập đoàn” như Vinashin, gây tổn thất biết bao tài lực công, lại còn tạo thêm sự chèn ép đối với khu vực tư nhân. Hệ quả nặng nề chúng gây ra đến bây giờ vẫn chưa khắc phục hết.

   - Bây giờ nhìn lại, chúng ta thấy rất rõ điều bà vừa nói nhưng nếu xét ở góc độ lý thuyết thuần túy thì nền kinh tế Hàn Quốc chẳng hạn cũng từng phất lên nhờ những tập đoàn lớn kinh doanh đa ngành đó sao? Tập đoàn Chaebol đó!

   - Nói theo cách phê phán của nhóm nghiên cứu Đại học Harvard thì chúng ta học Chaebol, học Hàn Quốc, nhưng chỉ học một nửa bài học. Ở Hàn Quốc, thời Tổng thống Park Chung Hee, đúng là ông ấy đã chọn một vài doanh nghiệp giỏi để làm. 

  Thời ấy sau chiến tranh, nền tảng nhà xưởng, thiết bị máy móc rệu rã, ông Park giao cho các doanh nghiệp trong vòng 3 năm để vực nó dậy và ra mục tiêu phải từ cung cấp nội địa phát triển lên xuất khẩu. Nếu sau 3 năm làm không được thì sẽ phải trả lại cho nhà nước và bị phạt. Bằng cách đó, họ đã thành công. Các doanh nghiệp này đều là tư nhân, tự chịu trách nhiệm về công việc. Sau này họ trở thành tập đoàn cũng qua một quá trình dài, từ nhu cầu tự thân, năng lực và nguồn lực phát triển do họ tự huy động, chứ không phải bằng quyết định hành chính hay nguồn lực của nhà nước.

   Còn ở nước mình là doanh nghiệp nhà nước, không có ràng buộc như họ, nên kết quả hoàn toàn khác. Biết bao tài sản của đất nước được nhà nước giao cho doanh nghiệp nhà nước sử dụng, khai thác để đầu tư, kinh doanh cả cho công ích lẫn cho các mục đích thương mại. Nhưng hệ thống giám sát, chế tài thì không thật tốt, nên dẫn đến tình trạng “lời doanh nghiệp/lãnh đạo doanh nghiệp ăn, lỗ nhà nước/nhân dân chịu”! Bao nhiêu năm ta vẫn có cơ chế nhà nước cứ thúc đẩy các ngân hàng quốc doanh cho doanh nghiệp nhà nước vay, nếu vay không trả nợ được thì chính phủ yêu cầu ngân hàng khoanh nợ lại, rồi dãn nợ thêm 5-7 năm. Rồi dãn cũng không trả được thì xóa nợ. Xóa nợ có nghĩa là nhà nước lấy ngân sách, lấy tiền thuế của dân và nguồn lực quốc gia trả hộ cho doanh nghiệp nhà nước khoản nợ đó.

   Giai đoạn chuẩn bị Đại hội X có một số người lập luận rằng, chúng ta sắp vào WTO, sẽ có nhiều tập đoàn lớn bên ngoài vào, nên mình phải có những quả đấm thép làm đối trọng. Tư nhân chưa có thì chỉ còn cách trông vào doanh nghiệp nhà nước thôi.

Nhưng Ban Nghiên cứu chúng tôi trước sau vẫn khẳng định rằng không nên hình thành nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước, không nên để các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh đa ngành.

   - Ban Nghiên cứu nhiều lần có những phản biện rốt ráo, đến cùng như thế hay không?

   - Nhiều lắm, nên có nhiều người khó chịu, gọi Ban Nghiên cứu là... "bọn ngáng chân".

   - Là một thành viên lâu năm của Ban Nghiên cứu, làm việc dưới hai đời Thủ tướng, bà thấy Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Thủ tướng Phan Văn Khải có những điểm giống và khác nhau gì trong tính cách?

   - Tính cách cá nhân của hai ông khác nhau khá rõ. Một người thì rất quyết liệt, một người dù trong tư duy, trong ý tưởng chính sách vẫn mạnh mẽ, nhưng phong cách thì nhẹ nhàng hơn. 

   Thời ông Võ Văn Kiệt là thời "chiến đấu" giữa cái cũ với cái mới, không có người quyết liệt như ông thì cái mới khó mà thắng được. Ông đã có những đóng góp vô cùng quan trọng, có tính chất quyết định trong những năm đầu đổi mới để tạo lập nền tảng kinh tế thị trường ở nước ta.

   Đến thời ông Phan Văn Khải thì cái mới đã dần được định hình để tiếp tục đẩy tới. Phong cách ôn hòa, nhưng 9 năm cầm quyền là 9 năm ông làm rất mạnh để xây dựng hệ thống thể chế, luật pháp và thực hành nền kinh tế thị trường, đồng thời đẩy mạnh hội nhập quốc tế ở nước ta. 

   Trên cơ sở đó, tăng trưởng kinh tế vừa cao, vừa ổn định. Những thành tựu này chứng minh tầm quan trọng của đổi mới, củng cố quyết tâm đẩy mạnh đổi mới ở nước ta.

Dù tính cách cá nhân khác nhau nhưng tư duy, tầm nhìn, đường lối và chính sách đổi mới của cả hai ông đều giống nhau, rất rõ ràng, kiên định, liên tục và nhất quán. Cái tâm của hai ông cũng sáng, đẹp như nhau. 

Nhờ đó trong thời kỳ của hai ông, chúng ta đã đạt được những thành tựu rất cơ bản về cải cách, phát triển và hội nhập quốc tế, tạo lập được nền tảng khá vững chắc cho sự phát triển của đất nước.

    Bà Phạm Chi Lan trò chuyện cùng phóng viên Chuyên đề ANTG Giữa tháng - Cuối tháng.

   - Bà có thể chia sẻ những kỷ niệm cụ thể hơn nữa với hai Thủ tướng được không?

   - Trong công việc của tổ tư vấn, hai vị nghiêm khắc, đòi hỏi cao về tinh thần trách nhiệm và chất lượng tư vấn. Trong các cuộc tranh luận của tổ, các Thủ tướng rất chú ý lắng nghe, hỏi thêm, gợi mở, lật đi lật lại vấn đề.

Có lần sau khi nghe các chuyên gia nói những vấn đề bức bối, gay gắt, "sếp" Khải ngồi thừ ra và thốt lên: "Biết vậy, nhưng mà khó quá nhỉ!". Lúc ấy chúng tôi thực sự đồng cảm và thấy thương những người lãnh đạo vô cùng.

   Ông Võ Văn Kiệt thì mạnh mẽ hơn. Có một câu chuyện thể hiện rất rõ tính quyết đoán của ông. Tháng 7-1995, ông Nguyễn Mạnh Cầm (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm - PV) sang Bangkok họp Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Asean. Lúc đó Asean đã đồng ý cho Việt Nam tham gia Asean, nhưng ta phải cùng họ ký vào văn bản chính thức. Đã đồng ý hết, ông Cầm sang đấy rồi thì ở nhà lại có vị lãnh đạo có ý kiến khác.

   Ông Vũ Khoan (lúc ấy là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao - PV) được ông Cầm gọi điện về, đề nghị xin ý kiến vì chỉ vài tiếng nữa thôi mình không ký thì sẽ bị trì hoãn, mất cơ hội tham gia Asean. 

   Ông Vũ Khoan xin ý kiến ông Võ Văn Kiệt. Ông Kiệt bảo: "Cứ trả lời anh Cầm là ký đi. Tôi chịu trách nhiệm. Tôi là Thủ tướng, tôi sẽ chịu trách nhiệm".

   Sau này, ông Khải rơi vào trường hợp tương tự như ông Cầm nhưng kết quả thì khác. Cuối năm 1999, trên cương vị Thủ tướng Chính phủ, ông Phan Văn Khải đi họp Hội nghị APEC ở New Zealand, mang sẵn toàn bộ văn kiện để ký Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ. 

   Sang đến bên đó thì có ý kiến khác từ nhà. Ông Khải, dù là Thủ tướng, đành gác việc ký lại, để rồi mất đến 2 năm sau ta mới có được hiệp định quan trọng này...

   - Xin chân thành cảm ơn những chia sẻ rất thú vị của bà!



PHAN ĐĂNG thực hiện
An Ninh Thế giới – Trò chuyện cuối tháng 19:30 10/07/2018


Thứ Hai, 11 tháng 3, 2019

MỘT NGHIÊN CỨU ĐẾN GẦN SỰ THẬT VỀ NGƯỜI TIỀN SỬ ĐÔNG NAM Á




HÀ VĂN THÙY

Nguồn gốc và quá trình hình thành dân cư phương Đông là bí ẩn lớn nhất của lịch sử nhân loại hiện đại. Từ đầu thế kỷ XXI xuất hiện nhiều giả thuyết như chuyến tàu nhanh, tàu chậm của người Đài Loan tới các đảo Đông Nam Á; ra khỏi Sundaland … Nhưng với thời gian, nhiều giả thuyết từng chấn động một thời bị thực tế bác bỏ.Tuy nhiên vì tầm quan trọng của chủ đề, các cuộc khảo cứu vẫn tiếp diễn và những giả thuyết mới ra đời.

Ngày 6.7.2018 tạp chí Science đăng bài Người tiền sử ở Đông Nam Á của Hugh McColl và 65 tác giả*, trong đó có bốn người Việt: Nguyễn Thị Mai Hương, Trần Thị Minh, Trương Hữu Nghĩa, Nguyễn Giang Hải. Hấp dẫn bởi tuyên bố: “Kết quả của chúng tôi giúp giải quyết một trong những tranh cãi lâu dài về thời tiền sử Đông Nam Á.” Chúng tôi đã đọc và có một số ý kiến:

Để tìm hiểu người tiền sử Đông Nam Á, nhóm nghiên cứu đã chọn và giải trình tự DNA 26 bộ gen người Đông Nam Á sống vào thời gian 8000 năm trở về trước. Đó là cách tiếp cận tiến bộ nhất. Bởi lẽ, bộ gen của người Đông Nam Á hiện đại là một cái hồ lớn vô cùng đa dạng. Nhiều công trình di truyền học đã chìm trong đó vì hai lẽ: do có quá nhiều sắc tộc và ngôn ngữ khác nhau nên muốn khảo cứu cần phải sưu tập lượng DNA quá lớn, làm hao tốn nhiều thời gian và công sức. Mặt khác, việc giải mã kết quả thu được cũng không dễ dàng, dẫn tới kết luận thiếu chính xác. Chọn DNA cổ, công việc phải làm sẽ ít hơn và nhất là kết quả sẽ chính xác hơn. Sau quá trình làm việc nghiêm túc, xây dựng nhiều sơ đồ và bảng thống kê, các tác giả đưa tới kết luận: “Dân số Đông Nam Á ngày nay có nguồn gốc từ ít nhất bốn quần thể cổ đại (Hình 4). Lớp lâu đời nhất bao gồm người Hòa Bình đại lục (nhóm 1), người có chung tổ tiên với amannge của Andaman ngày nay, Jehai của Malaysia và Ikawazu Jōmon của Nhật Bản. Phù hợp với giả thuyết hai lớp trong lục địa Đông Nam Á, chúng tôi quan sát thấy sự thay đổi của tổ tiên khoảng 4000 năm trước đây, hỗ trợ việc mở rộng nhân khẩu học từ Đông Á sang Đông Nam Á trong quá trình chuyển đổi thời kỳ đồ đá mới. Tuy nhiên, mặc dù những thay đổi trong cấu trúc di truyền trùng với quá trình chuyển đổi này, bằng chứng về sự pha trộn chỉ ra rằng việc di chuyển từ Đông Á không chỉ đơn giản là thay thế những người cư ngụ trước đó. Ngoài ra, những người nông dân thời kỳ đồ đá mới có chung tổ tiên với các bộ lạc rừng núi nói tiếng Austroasiatic ngày nay, phù hợp với các giả thuyết về việc mở rộng nông dân Austroasiatic sớm (20). Khoảng 2000 năm trước đây, các cá nhân Đông Nam Á đã mang thêm các thành phần tổ tiên Đông Á vắng mặt trong các mẫu thời đồ đá mới, giống như các quần thể ngày nay. Một thành phần có khả năng đại diện cho việc giới thiệu các ngôn ngữ Kradai tổ tiên trong đất liền Đông Nam Á (11) và một thành phần khác của Austronesian vào các đảo Đông Nam Á đến Indonesia cách đây 2100 năm và Philippines cách đây 1800 năm. Bằng chứng được mô tả ở đây ủng hộ một mô hình phức tạp bao gồm một quá trình chuyển đổi nhân khẩu học trong đó người Hòa Bình gốc ban đầu kết hợp với nhiều làn sóng di cư Đông Á liên quan đến những người nói ngôn ngữ Austroasiatic, Kradai và Austronesian.

Theo kết luận trên thì người Hòa Bình là dân số lâu đời nhất. Sau đó là ba thành phần bổ sung trong các thời gian khác nhau: người nông dân Đông Á, người nói ngôn ngữ Tai-kadai và cuối cùng là người nói ngôn ngữ Austronesian.

Một kết luận như vậy có thể phản ánh thực trạng bộ gen của dân cư Đông Nam Á hiện nay, tuy nhiên cho rằng nó “giúp giải quyết một trong những tranh cãi lâu dài về thời tiền sử Đông Nam Á” có thể còn hơi sớm. Bởi lẽ nó không cho biết bốn quần thể cổ đại có nguồn gốc từ đâu, có quan hệ với nhau ra sao và xuất hiện vào thời điểm nào? Nó cũng không cho thấy nguồn gốc cũng như thời điểm ra đời cua người nông dân Đông Á Thời kỳ Đồ đá mới .Do vậy, kết luận trên chỉ có giá trị của một tài liệu di truyền học, không giúp cho việc viết trang sử về quá trình hình thành dân cư Đông Nam Á. Chúng tôi cho rằng, trong tình hình khảo cứu hiện nay thì công bố của các tác giả bài viết đến gần hơn với sự thật về dân cư thời tiền sử Đông Nam Á.

Từ nghiên cứu của chính mình, chúng tôi xin được góp ý:

Trước hết cần một sự chính danh về thuật ngữ “người Hòa Bình”. Ở đây dùng thuật ngữ “người Hòa Bình” là không phù hợp, bởi lẽ, người Hòa Bình chỉ xuất hiện 22.000 năm trước. Trong khi con người có mặt ở Đông Nam Á sớm hơn, từ 70.000 năm cách nay. Theo các nhà nhân học Việt Nam, chúng tôi đề nghị gọi người Thời Đồ đá ở Việt Nam là người Việt cổ. Người Thời Kim khí là người Việt hiện đại.

Một câu hỏi cần được trả lời: người Việt cổ từ đâu ra? Những báo cáo di truyền học đầu thế kỷ XXI (J.Y. Chu et al. 1998; Stephen Oppenheimer,2004)1,2kết hợp tài liệu nhân học ở Việt Nam (Nguyễn Đình Khoa, 1983) đã cho biết, 70.000 năm trước, hai đại chủng Australoid và Mongoloid từ châu Phi theo ven biển Ấn Độ tới Việt Nam.Tại đây họ gặp gỡ hòa huyết sinh ra bốn chủng người Việt cổ Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid.Trong đó, người Indonesian là đa số, giữ vai trò chủ đạo về xã hội và ngôn ngữ.Trong khi đa số dân di cư quần tụ ở miền Trung thì có những nhóm Mongoloid đi lên vùng băng giá nay thuộc Tây Bắc Việt Nam và sống biệt lập ở đấy. Nhờ điều kiện sống thuân lợi, nhân số tại Việt Nam tăng lên. 50.000 năm trước người từ Việt đi ra làm nên lớp dân cư đầu tiên trên các đảo Đông Nam Á. Đi về phía Tây, người Việt cổ chiếm lĩnh Ấn Độ, trở thành dân cư bản địa Dravidian. 40.000 năm trước, do thời tiết được cải thiện, người Việt cổ đi lên khai phá Hoa lục. Cũng thời điểm này, nhóm người Mongoloid ở Tây Bắc Việt Namtheo hành lang phía Tây đi lên đất Mông Cổ (Stephen Oppenheimer, 2004). Ban đầu họ săn bắt-hái lượm trên băng giá. Sau Thời Băng Hà, họ thuần hóa gia súc và sống du mục ở bờ Bắc Hoàng Hà. Do giữ được nguồn gen thuần chủng, họ được gọi là người Mông Cổ phương Bắc (North Mongoloid).

Khảo sát 35 sọ Thời Đồ đá và 35 sọ Thời Kim khí tìm được ở Việt Nam cho thấy: “Thời đại Đá mới, dân cư trên lãnh thổ Việt Nam thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng với các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, gồm bốn chủng Indonesien, Melanesien, Vedoid và Negritoid, đều thuộc loại hình Australoid, trong đó Indonesien và Melanesien là hai thành phần chủ yếu.” “Sang Thời đại đồng sắt, người Mongoloid đã là thành phần chủ thể trong khối cư dân ở Việt Nam, người Australoid mất dần  trên đất nước này, hoặc do thiên cư, hoặc do đồng hóa.” (Nguyễn Đình Khoa, 1983, trang 106 )

Trên Hoa lục tìm được di cốt người Việt Australoid tại Điền Nguyên Động Chu Khẩu Điếm 40.000 năm trước (4). Người Điền Nguyên được coi là tổ tiên của dân cư Đông Á.Tại Động Người Tiên tỉnh Giang Tây 20.000 năm trước người Việt cổ chế tác công cụ gốm đầu tiên và 12.400 năm trướcthuần hóa cây lúa nước (5). Có thể đoán rằng, từ đây,người Việt cổ di cư tới Nhật Bảncùng với đồ gốm, làm nên văn hóa Jomon. Người Việt đưa giống lúa, giống kê, giống gà, giống chó lên phát triển nông nghiếp ở lưu vực Dương Tử và Hoàng Hà. Trên cao nguyên Hoàng Thổ, do khí hậu khô, cây lúa không sống được, nên kê thành cây trồng chủ lực.7000 năm trước, người Việt xây dựng văn hóa trồng kê Ngưỡng Thiều. Thời gian này, ở bờ Bắc, người Mông Cổ du mục hoạt động mạnh, tăng cường việc tiếp xúc trao đổi với người Việt ở bờ Nam. Kết quả là dòng con lai Mông – Việt ra đời, mang mã di truyền Mongoloid phương Nam. Người Mongoloid phương Nam tăng nhân số, trở thành chủ thể của lưu vực Hoàng Hà.

Năm 2698 TCN người Mông Cổ xâm chiếm miền Trung lưu vực Hoàng Hà, lập nhà nước Hoàng Đế. Do áp lực của cuộc xâm lăng, người Mongoloid phương Nam lưu vực Hoàng Hà bắt đầu di tản về Việt Nam và Đông Nam Á. Người di cư mang nguồn gen Mongoloid chuyển hóa di truyền dân cư Việt Nam và Đông Nam Á từ Australoid sang Mongoloid phương Nam. Cụ thể hơn là: người Indonesian chuyển thành chủng Mongoloid phương Nam điển hình; người Melanesian chuyển thành dạng Indonesian hiện đại của chủng Mongoloid phương Nam(Nguyễn Đình Khoa, 1983). Do những cuộc xâm lấn của các tộc “địch”, “rợ” phía Bắc từ cuối thời Chu, nhiều đợt di cư của dân cư lưu vực Hoàng Hà xuống phía Namsuốt nửa sau thiên niên kỷ III TCN.Khảo cổ học cho thấy, tới 4000 BP công việc Mongoloid hóa dân cư Đông Nam Á hoàn thành, đại đa số dân cư Việt Nam và Đông Nam Á chuyển sang mã di truyền Mongoloid phương Nam.

Khảo cứu của chúng tôi góp phần soi sáng cho công trình củaHugh McColl và đồng nghiệp:

1.Trên đất Việt Nam, 70.000 năm trước, hai đại chủng Mongoloid và Australoid từ châu Phi tới, hòa huyết cho ra bốn chủng người Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid, do người Indonesian đa số lãnh đạo về xã hội và ngôn ngữ. Trong khi dùng chung ngôn ngữ mẹlà tiếng Indonesian (Lạc Việt), nay được gọi là ngôn ngữ Nam Á (Austroasiatic) thì các cộng đồng còn lại có tiếng nói riêng của mình. Bốn chủng người này lan tỏa làm nên dân cư lâu đời nhất trên đất Đông Nam Á: người Indonesian nói ngôn ngữ Astroasiatic, người Melanesian nói tiếng Astronesian, người Negritos nói ngôn ngữ Papuan. Khoảng 38.000 năm trước, người Việt cổ đã chiếm 60% nhân số thế giới. (6)

2. Người nông dân trồng kê, lúa Đông Á chủng Mongoloid phương Nam được sinh ra khoảng 7000 năm trước tại văn hóa Ngưỡng Thiều trung lưu Hoàng Hà, là con lai của người Việt cổ Australoid và người Mông Cổ (cũng từ Việt Nam lên). Do áp lực xâm lấn của dân Mông Cổ phía Bắc, người nông dân Mongoloid phương Nam trở về quê hương cũ của mình là Việt Nam, làm nên lớp dân cư được gọi là người Việt hiên đại khoảng 4000 năm cách nay.Đây không phải cuộc thay thế dân cư mà là chuyển hóa di truyền lâu dài nên chỉ số đa dạng sinh học của người Việt Nam cao hơn Đông Á.

3. Cộng đồng H’mông-Miên có thể được hình thành từ hai nguồn:a. Là hậu duệ của người Mongoloid 40.000 năm trước trên đường đi lên phía Bắc đã dừng lại định cư ở phía Tây Trung Quốc. Sau này, do áp lực của chiến tranh đã di tản về Đông Nam Á.b.Là những bộ lạc Mông Cổ từng vượt Hoàng Hà vào Trung Nguyên sau đó bị dân “Địch”, “Rợ” xua đuổi chạy xuống phía Nam.

 4.  Người Negritos Đông Nam Á cũng có thể được hình thành từ hai nguồn: a.Là hậu duệ của chủng da đen Negritoid được sinh ra trên đất Việt Nam70.000 năm trước rồi lan tỏa sang Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines.  b. Là hậu duệ của dòng di cư từ châu Phi 70.000 năm trước. Trên đường tới Úc, một số nhóm Australoid dừng lại trên các hòn đảo Đông Nam Á. Do sống cô lập và giao phối cận huyết lâu dài đã trở lại dạng Negritos.

5.Người Tai-Kadai là hậu duệ của người Việt cổ Australoid đi lên Hoa lục từ 40.000 năm trước. Do sống tương đối cô lập ở vùng rừng núi phía Tây, bị gọi là “Tây nhung,”họ giữ bộ gen và tiếng nói gần hơn với tổ tiên. Do chiến tranh, họ trở về Việt Nam thành sắc dân Tày –Thái. Trở về Thái Lan, Lào, Mianmar, họ hòa huyết với người Việt bản địa đồng thời tiếp thu văn hóa Ân Độ, trở thành dân Lào, Thái, Mianmar hiện nay.

6. Người nông dân Đông Á (người Hán) chủng Mongoloid phương Nam, chủ thể của dòng di cư về Đông Nam Á, là hậu duệ non trẻ của người Việt trên Hoa lục nên có chỉ số đa dạng sinh học thấp. Do vậy họ không làm nên đa dạng di truyền cho dân cư Đông Nam Á. Đa dạng di truyền của dân cư Đông Nam Á là đặc tính bản địa của người Australoid .

7. Do lịch sử hình thành như vậy nên người Việt cổ là chủ thể của dân cư phương Đông, tiếng Việt Nam là mẹ của các ngữ phương Đông (L’annamite mere des langues – H. Frey, 1892)). Ngôn ngữ Trung Hoa là tiếng Việt được nói theo cách nói (parlance) và giọng nói Mông Cổ.

Kết luận:

Dân cư Đông Nam Á là kết quả của cuộc hòa trộn gen phức tạp giữa con cháu của hai đại chủng Australoid và Mongoloid từ châu Phi di cư tới Việt Nam 70.000 năm trước trong suốt quá trình lịch sử.Từ việc giải trình tự DNA người Đông Nam Á cổ cũng như người đang sống cho thấy, Việt Nam là nơi phát tích của dân cư châu Á. Sự đa dạng về di truyền và ngôn ngữ của người Đông Nam Á là sự chuyển hóa nội sinh, không có tác động của yếu tố bên ngoài.

                                                                              Sài Gòn, khai bút Xuân 2019.



*Hugh McColl et al.The prehistoric peopling of Southeast Asia.Science6 July 2018. http://www.himalayanlanguages.org/files/driem/pdfs/2018e.pdf

Tài liệu tham khảo:

1. J.Y Chu et al.Genetic relationship of populations in Chinahttps://www.pnas.org/content/95/20/11763.figures-only2. Stephen oppenheimer.Out of Eden Peopling of the World*http://www.bradshawfoundation.com/journey/introduction.html3. Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. NXB DH&THCN.H,19834. Sergio Prostak. DNA Analysis Reveals Common Origin of Tianyuan Humans and Native Americans, Asians. Jan 24, 2013  http://www.sci-news.com/othersciences/anthropology/article00842.html5.Xianrendong http://archaeology.about.com/od/xterms/qt/Xianrendong.htm6. Atkinson, Q. D., Gray, R. D. & Drummond, A. J. mtDNA variation predicts population size in humans and reveals a major Southern Asian chapter in human prehistory. Mol Biol Evol 25, 468–474 (2008).


Thứ Ba, 5 tháng 3, 2019

TRUNG QUỐC, HOA KỲ VÀ TƯƠNG LAI ĐÔNG NAM Á



Tác giả: Chin-Hao Huang (Giám đốc Viện Nghiên cứu Quan hệ Quốc tế ở Đại học Yale-NUS.) Contemporary Southeast Asia Vol. 39, No. 3 (2017), pp. 587-89.
China, the United States and the Future of Southeast Asia. David B. H. Denoon chủ biên. New York: New York University Press, 2017. Bìa mềm: 464 trang.

     Tập sách mới nhất do David B.H. Denoon chủ biên tập hợp bài viết từ các chuyên gia nổi tiếng về an ninh và quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á. Điểm nhấn chung của tập sách này là: khi Đông Nam Á đang trở thành một trọng tâm mới trong gia tăng đối đầu giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, các nước Đông Nam Á sẽ có ảnh hưởng như thế nào tới vận động quyền lực đang thay đổi nhanh chóng ở khu vực?

  Mức độ phát triển kinh tế và chính trị đa dạng cùng ưu tiên đối ngoại khác nhau của mười nước ASEAN khiến việc tìm được một chính sách chung của khu vực này đối với Trung Quốc và Hoa Kỳ trở nên khó khăn. Ở phần giới thiệu, Denoon thừa nhận rằng “mẫu hình hành vi của các thành viên ASEAN là khá đa dạng” (trang 6). Tuy nhiên, vẫn có một vài xu hướng chung.

Ví dụ, vị trí địa lí gần nhau buộc các quốc gia trong khu vực phải có quan hệ giao thương và kinh tế gần gũi với Trung Quốc. Chẳng hạn, Thái Lan ngày càng ngả về Trung Quốc, một phần do số lượng lớn các thương nhân người gốc Hoa vốn nhận thấy lợi ích trong việc duy trì quan hệ gần gũi với Trung Quốc. Ở Chương 8, Catharin Dalpino cho thấy Lào và Campuchia cũng được lợi từ sự hào phóng của Trung Quốc trong những năm gần đây, đặc biệt từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển, cho vay ưu đãi và đầu tư ngày càng gia tăng vào các dự án cơ sở hạ tầng lớn từ đập thủy điện đến đường cao tốc và đường sắt. Dalpino kết luận trong chương của mình là ảnh hưởng của quân đội lên chính trị ở Myanmar có nghĩa là quan hệ kinh tế sẽ tiếp tục có vai trò then chốt trong quan hệ Trung Quốc-Myanmar. Tương tự, các nước giáp biển ở Đông Nam Á cũng muốn có quan hệ kinh tế gần gũi với Trung Quốc hơn. Vikram Nehru đã miêu tả rất kĩ vấn đề này ở chương mở đầu. Các nước có kinh tế phát triển cao như Singapore, Malaysia, Brunei và Indonesia tiếp tục phát triển và dựa vào Trung Quốc trong vai trò một thị trường xuất khẩu hấp dẫn.

Cùng lúc, các tác giả viết rằng mặc dù đang có sự hợp tác ngày càng sâu rộng về mặt kinh tế, xu thế đối đầu và phòng bị nước đôi (hedging) cũng đang ngày càng phổ biến trong quan hệ an ninh Trung Quốc-Đông Nam Á. Ví dụ, Việt Nam có quan điểm an ninh phức tạp đối với Trung Quốc. Như Trần Trương Thủy đã chỉ ra ở Chương 6, bất chấp sự tương đồng về ý thức hệ với Trung Quốc, Việt Nam rất cảnh giác với ảnh hưởng quá mức của Trung Quốc, đặc biệt từ sau vụ giàn khoan năm 2014 ở biển Đông. Sự chia rẽ phe nhóm trong giới lãnh đạo Việt Nam cũng cho thấy Hà Nội phải cân bằng giữa phái dân tộc chủ nghĩa chống Bắc Kinh và phái thân Bắc Kinh. Tương tự, quan hệ an ninh của Philippines cũng đã gặp nhiều phức tạp trong những năm gần đây do hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông, đặc biệt là sự kiện Bãi cạn Scarborough năm 2012. Những quan chức và chính trị gia muốn tăng cường hợp tác ngoại giao và an ninh với Trung Quốc buộc phải xem lại quan điểm của mình khi có sự gia tăng hiện diện và bành trướng của Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp biển đảo. Phán quyết có lợi cho Philippines vào tháng 7 năm 2016 của Tòa Trọng tài thúc đẩy cảm giác nghi ngờ Trung Quốc trong dân chúng Philippines. Tuy nhiên, các ưu tiên cấp cách về kinh tế và an ninh trong nước đã áp đảo các quan ngại về ngoại giao, dẫn tới một bộ máy lãnh đạo mới thân Bắc Kinh hơn vào năm 2016. Từ đó tới nay, bộ máy lãnh đạo này đã quan tâm tới việc cải thiện quan hệ với Trung Quốc. Sự quan ngại về sức mạnh cứng của Trung Quốc tiếp tục chi phối bối cảnh an ninh tại Singapore, Malaysia, và Indonesia. Evan Laksmana, Heng Yee Kuang và Zakaria Ahmad có phân tích cân bằng trong Chương 4, 5 , và 7, và đều chỉ ra rằng các nước Đông Nam Á đều coi sự xác quyết gia tăng của Trung Quốc như là một thách thức an ninh nguy hiểm và ngày càng lớn đối với ổn định khu vực.

Đây cũng là nơi mà Hoa Kỳ có vai trò trong các toan tính của khu vực. Nổi bật nhất là mối quan hệ an ninh mới hình thành và đang phát triển giữa Hoa Kỳ và  các nước Indonesia, Việt Nam và Myanmar, như bài viết của Marvin Ott và Michael McDevitt trong tập sách cho thấy. Các nước Đông Nam Á này đều từng có quan hệ phức tạp với Hoa Kỳ, nhưng họ đã quyết định để lại quá khứ sau lưng để hướng về mục tiêu thực dụng hơn với Washington: mở rộng và làm sâu sắc mối quan hệ an ninh với một cường quốc bên ngoài khác để đảm bảo sự sống còn và vai trò của các nước này trong khu vực. Điều này cũng phản chiếu chiến lược lâu nay của các nước nhỏ như Singapore và Brunei. Trong một khu vực mà một số cường quốc bên ngoài đang tìm cách tranh giành ảnh hưởng, Đông Nam Á đang ở vị trí đặc biệt có thể mở rộng quan hệ an ninh với nhiều đối tác. Thay vì đối đầu trực tiếp với ảnh hưởng gia tăng và mối đe dọa an ninh từ Trung Quốc, gần như tất cả các nước Đông Nam Á đều đang đa dạng hóa các mối quan hệ an ninh của mình. Nói cách khác, các nước này đang “thuê” Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ và cả Nga đảm nhiệm vai trò đối trọng với Trung Quốc.

Những phân tích trong tập sách này khẳng định tầm quan trọng của lựa chọn “omni-enmeshment” (can dự đa hướng) như là chính sách chính của các nước trong khu vực trong việc can dự với các cường quốc bên ngoài. Điều này khẳng định ý tưởng rằng mọi thứ càng động thì càng tĩnh. Như Chu Shulong đã quan sát trong chương của mình, sự trỗi dậy của Trung Quốc diễn ra từ từ trong nhiều thập niên thay vì diễn ra trong vòng một đêm hoặc bất ngờ. Nó cho phép các lãnh đạo Đông Nam Á có thời gian để chuẩn bị và đối mặt với sự dịch chuyển quyền lực không thể tránh khỏi này bằng những cách tinh tế, một điều được thể hiện xuyên suốt tập sách tuyệt vời với nhiều bằng chứng thực nghiệm và nghiên cứu sâu về các quốc gia này.

Tập sách này có đóng góp gì cho việc xây dựng lí thuyết? Công luận, bối cảnh lịch sử, phát triển kinh tế, phe phái trong đảng, sự chuyển tiếp lãnh đạo và bản chất của chế độ chính trị là vài yếu tố trong nước có vai trò quyết định với chính sách đối ngoại của các nước Đông Nam Á. Có lẽ chúng ta không thể đo được mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố này nếu chỉ dựa vào các phân tích trong sách, khiến cho việc suy đoán các yếu tố này có ảnh hưởng vào thời điểm nào trở nên khó khăn. Nhưng những luận điểm biến thiên theo lịch sử và văn hóa trong tập sách là một điểm quan trọng nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ: nó giải thích được những khác biệt trong lựa chọn về đối ngoại của các lãnh đạo Đông Nam Á khi ứng xử với các cường quốc bên ngoài. Không có chính sách nào có thể phù hợp được với mọi quốc gia, cũng như không thể có một chiến lược đơn giản, hoặc là cân bằng quyền lực hoặc là phù thịnh, cho khu vực. Chỉ riêng điểm này cũng đã là một đóng góp quan trọng cho lĩnh vực nghiên cứu này, cũng như cho những ai muốn thực sự hiểu được chính trị và các ưu tiên của Đông Nam Á.

                                                             Theo QHQT. Biên dịch: Đinh Nho Minh


Thứ Hai, 25 tháng 2, 2019

SÁNG KIẾN VÀNH ĐAI VÀ CON ĐƯỜNG CỦA TRUNG QUỐC VỚI THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG Ở VIỆT NAM


                                                                                                       LÊ HỒNG HIỆP

 Vin ISEAS-Yusof Ishak Singapore.

 


                        Kenya được cho là đã “gán” cảng Mombasa cho Trung Quốc,
 do không đủ khả năng trả nợ. (Ảnh: Citizentv)
      Giữa tháng 11 năm 2018, Học viện Ngoại giao Việt Nam và đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam đã phối hợp tổ chức hội thảo Sáng kiến Vành đai và Con đường lần 2, với chủ đề Sáng kiến Vành đai và Con đường và Hợp tác Việt-Trung.Tân Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, Hùng Ba có tham dự. Hội thảo diễn ra trong bối cảnh kỷ niệm 40 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc và chặng đường 5 năm của sáng kiến Vành đai và Con đường. Đại sứ Hùng Ba khẳng định, với sáng kiến BRI của chủ tịch Tập Cận Bình, Trung Quốc chủ trương ủng hộ toàn cầu hóa kinh tế, thúc đẩy tự do hóa thương mại, đến nay đã có 100 quốc gia (trong đó có Việt Nam) tham gia. Việt Nam và Trung Quốc có ưu thế trong đẩy mạnh sáng kiến này. Phía Trung Quốc sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực mà Việt Nam có nhu cầu.

     Ông Lan Lập Tuấn, cựu Đại sứ Trung Quốc tại Indonesia, Canada và Thụy Điển, khẳng định, BRI đã được hiện thức hóa thêm một bước nữa khi được đưa vào văn bản của Liên Hợp Quốc (tổ chức UNDP và Trung Quốc đã ký bản ghi nhớ về hợp tác thúc đẩy BRI) và giới thiệu về đặc điểm nổi bật của BRI là kết nối chính sách và quy hoạch, kết nối hạ tầng (đường bộ, đường biển, đường sắt, cảng biển...), kết nối thương mại, kết nối tài chính (với nhiều hình thức, mạng lưới, cơ chế...) và kết nối lòng dân.

     Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Thảo, trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam khẳng định rằng các lãnh đạo Việt Nam đã nhiều lần tái khẳng định ủng hộ sáng kiến Vành đai và Con đường và chủ động tham gia sáng kiến. Tuy nhiên, những ý kiến nghi ngại vẫn bộc lộ khá rõ. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Cường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Trung Quốc (thuộc Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), nêu ra những vấn đề gây trở ngại cho thực thi BRI giữa Việt Nam và Trung Quốc như: mức nợ cao với Trung Quốc ( trường hợp Malaysia đã xảy ra), chưa có dự án thuyết phục, tiêu biểu cho hợp tác Việt-Trung, cán cân nhập siêu cao nghiêng về phía Việt Nam, và BRI vẫn thiên về mặt thương mại. Ngoài ra ông Cường cũng đề cập tới vấn đề niềm tin giữa 2 nước và thực tế là BRI giữa 2 nước phần nhiều vẫn dừng ở ý tưởng.

     Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường – nguyên đại sứ Việt Nam tại Mexico và Thụy Điển, đã xoáy sâu vào 2 vấn đề có thể cản trở Việt Nam tham gia tích cực vào BRI, đó là dự án nhà máy điện hạt nhân Trung Quốc đặt ở sát biên giới Việt-Trung cũng như khả năng Trung Quốc triển khai các nhà máy điện nguyên tử nổi trên biển Đông, vì các nhà máy như thế này nếu xảy ra sự cố đều đe dọa nghiêm trọng đến an ninh, an toàn của Việt Nam. Chúng tôi trân trọng đăng lại bài viết của Lê Hồng Hiệp và MỘT BÀI GIỚI THIỆU SÁCH gửi đến bạn đọc tham khảo .
        Vit Nam, vn nm trong phm vi đa lý ca sáng kiến vành đai và con đường (BRI) ca Trung Quc và có nhu cu ln v đu tư cơ s h tng, có th được hưởng li t sáng kiến ​​này. Theo báo cáo Trin vng cơ s h tng toàn cu do Trung tâm cơ s h tng toàn cu xut bn năm 2017, nhu cu đu tư cơ s h tng ca Vit Nam t năm 2016 đến năm 2040 là 605 t đô la. Đáng chú ý, khong cách gia nhu cu đu tư và xu hướng đu tư hin ti là con s khng l 102 t đô la M, có nghĩa là Vit Nam s phi tích cc tìm kiếm các ngun kinh phí khác nhau đ bù đp cho s thiếu ht này. Do đó, Vit Nam đã ng h BRI vì đây có th tr thành mt ngun vn quan trng mà Hà Ni mun khai thác trong tương lai.

     Trong chuyến thăm Hà Ni ca ch tch Tp Cn Bình vào tháng 11 năm 2017, hai nước đã ký Bn ghi nh (MOU) v vic thúc đy kết ni khuôn kh hai hành lang, mt vành đai vi sáng kiến vành đai và con đường. Tuy nhiên, vic ký bn ghi nh không đm bo rng BRI s có nhng đt phá Vit Nam trong tương lai gn.
     Trên thc tế, ngoài mt s tuyên b hoan nghênh BRI và đ xut các nguyên tc đ thc hin sáng kiến này, các phn ng ca Vit Nam đi vi BRI vn còn dè dt. Cho đến nay, không có d án cơ s h tng mi nào Vit Nam, được chính thc công nhn là do BRI tài tr, ngoi tr khon vay b sung 250 triu USD cho tuyến tàu đin Cát Linh – Hà Đông ti Hà Ni đã được hai bên lng l và không chính thc coi là thuc BRI. Thái đ này ca Hà Ni có th được gii thích bi ba yếu t chính.

     Th nht, Vit Nam nhìn chung thn trng trước các tác đng có th có ca sáng kiến này. Phi mt hai năm hai nước mi đàm phán xong bn MOU, cho thy hai bên đã có mt s bt đng v ni dung ca nó. Tiêu đ ca MOU, nhn mnh vic thúc đy kết ni gia hai sáng kiến, cũng đáng chú ý, vì nó ng ý rng khuôn kh “Hai hành lang, mt vành đai” được coi là mt kế hoch riêng bit và Vit Nam không mun gi đây là mt cu phn thuc BRI, ít nht là v mt công khai.

    S dè dt như vy là d hiu xut phát t s nghi k kéo dài gia hai nước trong bi cnh tranh chp bin Đông. cp đ chính thc, vic Vit Nam nhn mnh các nguyên tc như đng thun, bình đng, tôn trng ln nhau và tuân th Hiến chương Liên Hp Quc và lut pháp quc tế trong vic thc hin BRI cho thy Vit Nam đang rt thn trng trước tác đng ca BRI.

     Mt s hc gi cũng đã bày t quan ngi rng BRI có “các tác đng vượt ra ngoài lĩnh vc kinh tế”. Ti mt hi tho quc tế được t chc ti Hà Ni vào tháng 10 năm 2017 v các cơ hi và thách thc mà BRI mang li, các hc gi đã cnh báo rng s tham gia ca Vit Nam vào sáng kiến ​​này có th dn đến tình trng “ph thuc quá mc” vào Trung Quc, và thm chí gây hi cho các tuyên b lãnh th và hàng hi ca Vit Nam bin Đông. H cũng nhn mnh nhng lo ngi khác, chng hn như vic Trung Quc thường không bo v đy đ các quyn lao đng, h sơ môi trường yếu kém ca các công ty Trung Quc, tình trng thiếu minh bch và vic Trung Quc đôi khi thách thc các cơ chế gii quyết tranh chp được quc tế công nhn. Vì vy, các hc gi này khuyến ngh Vit Nam và các nước khác nên nhìn xa hơn nhng li ích kinh tế khi xem xét tham gia vào BRI.

     Th hai, như mt s hc gi Vit Nam đã ch ra, vic vay tin ca Trung Quc không “r” cũng không “d”. Lãi sut cho vay ca Trung Quc s không thp như nhiu người mong đi. Ví d, chính ph Thái Lan đã coi mc lãi sut 2,5% mà Trung Quc đ ngh cho d án tuyến đường st cao tc ni Bangkok và Nakhon Ratchasima là quá cao, và quyết đnh không vay t Trung Quc.  Trung Quc cũng thường áp đt các điu kin cho các khon vay ưu đãi ca mình, bao gm vic s dng các công ngh, thiết b và nhà thu ca Trung Quc. V vn đ này, kinh nghim di dào ca Vit Nam đi vi h sơ nghèo nàn ca các nhà thu và công ngh Trung Quc ti các d án khác nhau s khiến Vit Nam không mn mà vi các khon vay ca Trung Quc thông qua BRI nếu chúng đi kèm vi các điu kin như vy.

     Th ba, có các gii pháp thay thế cho BRI mà Vit Nam mun s dng đ tài tr cho các d án cơ s h tng ca mình, bao gm các khon vay t các t chc tài chính quc tế và các đi tác ODA, đc bit là Nht Bn. Sau khi Vit Nam tr thành quc gia có mc thu nhp trung bình hi năm 2009, các khon vay t các ngun này đã tr nên đt đ hơn, nhưng có nhng mt tích cc khiến chúng tr nên hp dn hơn đi vi Vit Nam so vi các khon vay BRI. Ví d, các khon vay t các t chc tài chính quc tế thường có ít điu kin hơn và không yêu cu s dng nhà thu hoc thiết b t bt kỳ quc gia c th nào. Trong khi đó, mc dù các khon vay ODA t Nht Bn cũng thường yêu cu Vit Nam s dng các thiết b và dch v ca Nht Bn trong hu hết các trường hp, các nhà thu và công ngh Nht Bn nhìn chung vn được công chúng Vit Nam coi là đáng tin cy hơn các nhà thu và công ngh ca Trung Quc.

     Mt la chn khác cho phát trin cơ s h tng mà Vit Nam mun thúc đy là mô hình Đi tác Công-Tư (PPP). T năm 2011 đến năm 2017, Vit Nam đã huy đng được 200.000 t đng (tương đương khong 9 t đô la M) t các doanh nghip tư nhân cho các d án đu  tư dưới hình thc PPP. Mc dù có nhng vn đ nht đnh, các d án PPP s tiếp tc là mt công c chính đ Vit Nam phát trin h thng cơ s h tng ca mình, k c các d án quy mô ln, vì hình thc này giúp gim gánh nng tài chính và nghĩa v quc tế ca chính ph.

     Tóm li, Vit Nam t ra thn trng, nếu không nói là min cưỡng, trong vic vay tin qua BRI. Điu đó có nghĩa là vic trin khai BRI ti Vit Nam có th s chm.

     Trong nhng năm ti, Vit Nam có th vay tin t BRI cho mt vài d án “thí đim” đ có th có được đánh giá rõ hơn v tác đng ca BRI. Do n công tăng cao, Vit Nam có th không mun vay qua kênh chính ph. Thay vào đó, Vit Nam có th khuyến khích các nhà đu tư tư nhân trong nước vay các khon vay BRI thông qua ngân hàng đu tư h tng châu Á (AIIB) đ xây dng các d án cơ s h tng theo mô hình BOT. Bin pháp này cũng giúp làm gim tác đng chính tr và chiến lược ca các khon vay BRI đi vi Vit Nam.

     Nhn thc ca Vit Nam đi vi BRI trong tương lai cũng s ph thuc vào các điu khon thương mi ca các khon vay BRI cũng như mc đ đáng tin cy ca các nhà thu và công ngh Trung Quc. V vn đ này, Vit Nam s không ch quan sát hiu qu ca các d án do Trung Quc tài tr trong nước mà c các d án do BRI tài tr các khu vc khác trên thế gii.

     Cui cùng, các tranh chp bin Đông đang tiếp din, có th là mt yếu t bt đnh trong vic đánh giá trin vng tương lai ca BRI ti Vit Nam. Nếu tranh chp gia tăng và quan h song phương căng thng hơn, Vit Nam s tr nên nhy cm hơn trước các tác đng chính tr và chiến lược ca sáng kiến này. Ngược li, nếu tình hình lng du và hai bên đt được tiến b trong vic qun lý các tranh chp, Vit Nam có th s sn sàng đón nhn BRI hơn.

Biên dch: Phan Nguyên – Trang mạng Nghiên cứu quốc tế.Potholes lie ahead for China’s Belt and Road Initiative in Vietnam”, VnExpress, 12/04/2018.



          Vành đai và Con đường: Trật tự Thế giới của Trung Quốc

Tác giRoger Boyes | Biên dch: Đinh Nho Minh

Belt and Road: A Chinese World Order. Tác gi: Bruno Maçães, Hurst, 2018, 288 trang, giá: 20 bng.

Nhng cư dân đu tiên ca Forest City s chuyn đến vào hè này. Nó được gi là Forest City (Thành ph Rng) vì khu này trước là rng Malaysia. Bruno Maçães cho rng trong 10 năm ti, thành ph này s có ti 1 triu cư dân. Các tòa nhà chc tri đang được hoàn thin sau mt tun xây dng sut ngày đêm. Nó là mt phn ca thế gii được xây dng bên ngoài Trung Quc, nhưng theo các quy tc ca Trung Quc đ thc hin mt gic mơ Trung Quc. Maçães quá khéo léo nên không mun nói ra điu hin nhiên: ch có ai điên hoc hết la chn mi ti đó sng.

Khi thành ph dn hình thành, bn tng lp xã hi dn đnh hình. trên đnh là nhng người Trung Quc giàu có và mun mt nơi an toàn đ tr tin, cũng như có không khí trong lành đ hít th mà không cn đeo khu trang. Tt c các bin hiu đu được viết bng tiếng Quan Thoi. Ri tng lp tiếp theo là nhng người cung cp dch v y tế giáo dc. H cũng là người Trung Quc, nhưng s có c nhng người Anh được thuê đ điu hành các trường cp ba cho gii quý tc. Tng lp th ba là nhân viên an ninh, ch yếu là người Nepal. Cui cùng là nhng người Bangladesh và n Đ, chuyên xây dng, sa cha, và lau dn – nhng người vô hình.

Forest City là mt phn ca chiến lược Vành đai và Con đường ca Bc Kinh nhm thc hin ch nghĩa thc dân kiu mi 70 quc gia. Kế hoch tr thành siêu cường và thiết lp trt t thế gii mi ca Trung Quc đòi hi vic xây nhiu cng nước sâu, k c nhng ch không cn cng, đm bo an ninh cho chui cung ng, và bo v các tuyến hàng hi vi Trung Quc. Kế hoch này bao gm giúp đ Zimbabwe giám sát người dân và đu tư vào các nước có ngun khoáng sn hiếm cn thiết cho nn kinh tế đang phát trin. Kế hoch cũng bao gm vic giao nhng nhim v đa chiến lược mi cho các nước mà Trung Quc mun là đng minh ca mình: Kazakhstan là “ca ngõ ti Châu Âu ca Trung Quc”, Pakistan là “ca ngõ ti n Đ Dương”, Djibouti là “ca ngõ ti Đông Phi”.

Maçães miêu t tt c nhng điu này qua ging văn súc tích và sc bén mà đc gi đã làm quen qua cun sách đu tiên ca ông, The Dawn of Eurasia (Bình minh ca Á-Âu).Forest City được miêu t là ging vi thế gii ca nhà văn khoa hc gi tưởng Hao Jingfang trong cuFolding Beijing (Bc Kinh Luân Chuyn) vi mt chút tô đim t cuRepublic (Cng hòa) ca Plato”. Maçães không mun được nhc đến trong mc châm biếm Pseud’s Corner trên tp chí Private Eye, nhưng ông viết vy bi ông đã đc c sách ca Hao và Plato nên mun gi nh ti mt “thế gii toàn tr không tưởng kinh đin và siêu hin đi”. Maçães, cu b trưởng ph trách Châu Âu ca B Đào Nha và gi là nghiên cu viên cao cp ca Đi hc Nhân dân Trung Quc, là mt nhng b óc sáng sut nht trong thi đi hn lon này.

CuVành đai và Con đường: Trt t Thế gii ca Trung Quc là mt bài lun văn dài v chuyn gì s xy ra nếu Trung Quc thiết lp trt t thế gii mi. Mc dù cun sách này thiếu mt văn phong báo chí như trong cun đu ca ông, nó vn rt hp dn. Ví d, ông m x v dch v làm mi gia ph n Ukraine và đàn ông Trung Quc. Ông phân tích v vic đu tư ca Trung Quc đang làm nên nhng kì tích v kĩ thut và xây dng, bao gm vic m rng cao tc Karakoram ni lin Tân Cương min Tây Trung Quc vi min trung Pakistan. Châu Á đang phát trin mt phn nh tham vng ca Trung Quc, và vì thế Maçães rt phn khích.

Tuy nhiên, vn đ ca d án Vành đai và Con đường nm cách trin khai và đng cơ. Liu Trung Quc có đang dùng d án này đ ngy trang cho s tri dy v quân s đ đi đu vi Hoa Kỳ hay không? Nó s dn ti đâu? Liu nó có dn ti By Thucydides, trong đó cường quc đang lên và cường quc nguyên trng cht vt tìm cách tránh chiến tranh?

Hoa Kỳ không ch là quc gia duy nht lo ngi v vic Trung Quc thách thc nguyên trng. Maçães k câu chuyn v mt gián đip n Đ, mt danh Con kh, tìm cách thâm nhp vào Pakistan đ tài tr cho các nhóm ly khai Balochistan nhm phá hoi quan h gia Pakistan và Trung Quc. Trung Quc hin đang xây dng cng Gwadar Pakistan. Đây s là mc tiêu chính trong âm mưu ca n Đ nếu nó được thc hin. Nhưng ti sao n Đ phi lo lng v kế hoch ca Trung Quc? Maçães tr li rng: “Sc mnh quân s ca Trung Quc s hin din t c phía Đông, Tây, và Bc. Kế hoch ca Trung Quc cũng s đng thi giúp Pakistan ct đt n Đ khi Iran v mt đa chính tr”.

Trung Quc đang tìm cách gim tính d b tn thương ca mình bng cách đu tư mnh vào các tuyến hàng hi đ vn chuyn nguyên liu thô và nhiên liu. Các tuyến này không ch đi qua các cng nước m, mà còn ngày càng ph thuc nhiu vào Bc Cc. Khi băng đây tan, vic vn chuyn qua tuyến đường phía bc t Châu Âu v Trung Quc s nhanh hơn nhiu so vi hin gi. Cho ti gi Trung Quc phi chp nhn rng h không th thc hin kế hoch này đơn phương, mà phi đàm phán điu khon vi Nga và các nước khác giáp Bc Băng Dương.

Trung Quc đu tư dưới dng cho vay, tuy nhiên h thường chp nhn tr n bng c phn thay vì tin mt. Kết qu ca kế hoch này là các nước như Pakistan và Sri Lanka đang nghi ng rng h đang b Trung Quc xâm chiếm ch quyn qua các d án cơ s h tng. Các d án thường được thc hin bi nhân công Trung Quc, nên nó không to nhiu vic làm cho các nước s ti; qun lí Trung Quc các d án cũng thường đc đoán. D án Vành đai và Con đường có th dn ti phn ng xu t các nước này do lo ngi v s tr li ca chế đ thc dân kiu mi.

Nhng kế hoch này s có tương lai như thế nào? Maçães mường tượng v Trung Quc năm 2049, mt thế k sau ngày thành lp quc gia cng sn này. Liu s có l k nim không? Liu Đng Cng sn Trung Quc có còn cm quyn đ t chc đi l không? Tác gi nhìn thy bn kh năng. Kh năng th nht, Trung Quc s dn hi nhp vi trt t thế gii t do và nn kinh tế ca h s ngang bng vi Hoa Kỳ. Cùng vi nhau, h s thng tr nn kinh tế quc tế, nhưng v quân s và chính tr thì Trung Quc s không thách thc s lãnh đo ca Hoa Kỳ.

kch bn th hai, Trung Quc s thế ch Hoa Kỳ tr thành cường quc s mt thế gii, nhưng trt t thế gii – bao gm các th chế đa phương và t do thương mi – s như cũ. Trường hp th ba có kết qu đáng lo ngi hơn: Trung Quc không nhng thế ch Hoa Kỳ, mà còn thay giá tr phương Tây bng giá tr Trung Hoa, và Bc Kinh s thiết lp trt t mi. Trường hp cui cùng là kh thi nht. Trung Quc và Hoa Kỳ s buc phi chung sng vi nhau, trong đó cnh tranh và hp tác đng thi xy ra. Trường hp này s hơi ging vi mi quan h gia Hoa Kỳ và Liên Xô trong Chiến tranh Lnh.

Không trường hp nào có th xua tan mi lo ngi. Cuc cnh tranh quyn lc gay cn này s kết thúc như thế nào? Maçães nói: “Nó s là mt thế gii ca thánh, tiên tri và ma qu.” Ông đúng ra nên nhc ti c tướng lĩnh quân đi. Mc dù Maçães lc quan v kch bn tương lai, khó mà có th tưởng tượng được Trung Quc và Hoa Kỳ có th tái thiết lp được mi quan h ca h mà không có đi đu quân s. Chúng ta đu nên lo ngi v điu đó.

Tiếng Anh: Times of London, 14/12/2018. Theo trang mạng Nghiên cứu quốc tế ngày 22 tháng 2 năm 2019.