Thứ Ba, 21 tháng 5, 2019

CON CHIM VIỆT ĐẬU TẠI VĂN MIẾU, HÀ NỘI

                                                                           Bs. NGUYỄN XUÂN QUANG

Suốt một đời, tôi miệt mài đi tìm cái căn cước Việt, cái bản sắc Việt của mình. Từ nhỏ cho tới bây giờ, tôi đã được dậy, đã nghe, đã thấy và đã đọc những điều cho là văn hóa Việt thật là mơ hồ, thật là lẫn lộn với văn hóa Trung Hoa. Nếu chúng ta là Việt khác Trung Hoa thì cái cốt lõi văn hóa Việt phải có sắc thái Việt, khác văn hóa Trung Hoa. Hãy lấy một ví dụ, tại Little Saigon, Orange County, California, đang có dự án xây hai cái cổng chào hình vòm ở hai đầu khu phố Việt trên đường Bolsa, những người thiết kế hai cái cổng này vẽ hình Long, Li, Qui, Phượng và giải thích cho người Mỹ hiểu theo ý nghĩa của tứ linh Trung Hoa. Khi nhìn thấy hình tứ linh này, thì ai ai, nhất là người Tây phương, cũng đều cho đây là biểu tượng của người Trung Hoa. Ngộ nhận là chuyện tất nhiên. Tôi đã lên tiếng và yêu cầu ít ra cũng nên chọn những vật biểu thuần Việt chỉ riêng người Việt có mà người Trung Hoa không có, nhằm mục đích để tránh được lầm lẫn, ngộ nhận, tránh tròng vào cổ cái ách đô hộ của văn hóa Trung Hoa, cũng tránh biến Little Saigon trở thành Little Chợ Lớn (chẳng hạn như thay thế Long, Ly, Qui, Phượng bằng Cò Lang, Chim Việt). Hãy nhìn về diện vật tổ như vừa nói chẳng hạn, thì vật biểu, totem Việt phải thuần Việt. Hôm nay xin nói tới con chim tổ tối cao tối thượng của Đại Tộc Việt là con chim Việt. Chúng ta thường nghe nói tới con Chim Việt đậu cành Nam và nghe bài hát Đàn Chim Việt. Tôi đã tìm thấy hình bóng con chim Việt trong sử sách (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt), trong sử miệng (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt) và trong sử đồng (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á) (đang in). Tôi biết khó có thể thuyết phục ngay được những người làm văn hóa Việt hiện nay, nhất là những kẻ đang làm xiếc văn hóa Việt, những tên phù thủy văn hóa Việt. Theo linh tính tôi biết con chim Việt phải còn để lại hình bóng, dấu tích ở đâu đó trong văn hóa Việt Nam ngày nay, nhất là ở những nơi thờ tự, miếu đình nào đó. Vì thế nhằm mục đích thuyết phục thêm nữa các người làm văn hóa Việt và phục vị lại được con chim Việt, chim tổ của Đại Tộc Việt, tôi quyết tâm, quyết chí đi tìm một hình bóng chim tổ Việt thật hết sức đặc thù, thật hết sức dễ nhận diện, còn ở đâu đó, ngay trước mắt mọi người, ai nhìn thấy cũng nhận biết ra ngay là chim Việt. Nhưng tìm kiếm bóng chim Việt trong đời sống hàng ngày hiện nay thật là khó khăn vì tôi sống ở đất Bắc, ở đất tổ, nơi chắc chắn còn nhiều dấu tích hình bóng chim Việt, lúc đó còn quá nhỏ, vào Nam lúc còn học tiểu học và rồi ra hải ngoại. Dĩ nhiên trong Nam và nhất là ở hải ngoại càng khó có cơ may tìm kiếm được. May mắn thay! Eureka! Tôi đã tìm thấy! Tôi đã tìm thấy! Tôi đã tìm thấy! Tôi đã tìm thấy con chim Việt rất đặc thù đang đậu ở Văn Miếu, Hà Nội.

Chim Việt là chim gì?

Trước hết nên biết Việt là gì?

Tôi đã viết rất cặn kẽ Việt Là Gì? trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt và trong Y Học Thường Thức, ở đây chỉ xin nhắc lại vài điểm chính yếu. Việt có nghĩa gốc, nghĩa chính là búarìu, có nghĩa chung là vật sắc nhọn. Việt là búa, vật nhọn cũng thấy qua tên vua Việt Câu Tiễn thời Xuân Thu. Câu là chiếc móc cong như lưỡi câu, chiếc liềm (câu liêm), Tiễn là Cắt như tiễn mía, là Tiện (cắt) như thợ tiện, Tiễn là vật nhọn như mũi tên (hỏa tiễn dịch là “tên lửa”). Câu Tiễn là vật, khí giới sắt bén hình nhọn và cong, một thứ việt lưỡi cong. Việt lưỡi cong Câu Tiễn mang hình ảnh của chữ yuè (Việt) khắc trên giáp cốt và kim văn:




Chữ yuè khắc trên giáp cốt và kim văn có hình rìu lưỡi cong

(Wang Hongyuan).

Từ Việt là một từ Hán Việt. Tên của tộc họ chúng ta không thể là một từ Hán Việt. Hiển nhiên từ Việt chỉ là một từ phiên âm dịch nghĩa của một từ nôm trăm phần trăm nào đó. Từ Việt phiên âm dịch nghĩa từ một từ Nôm nào? Việt phiên âm hay biến âm với các từ nôm:

Vớt là “large knife” (used as weapon): dao lớn dùng làm khí giới (Đặng Chấn Liêu). Cũng nên biết các tộc thù nghịch và những người Việt có “Tây học” trước đây thường xỉ nhục những người gốc Việt quê mùa là bọn “răng đen mã tấu”. Mã tấu là một thứ vớt, thứ việt, chính là khí giới biểu của người Việt và răng đen là nét đặc thù của người Việt thuộc tộc Mặt Trời Nước Lạc Việt Lạc Long Quân (màu đen là màu của nước thái âm).

-Việt biến âm với Mường ngữ vác là con dao lớn như chiếc mác, mã tấu. Theo v=m (váng = màng), ta có vác = mác.

Vọt (theo qui luật biến âm ie=o như hiệp = hợp, ta có Việt = vọt). Nghĩa đen vọt là chiếc roi, chiếc que, chiếc nọc.

-Việt còn biến âm với vạch (khắc, chạm, viết bằng mũi nhọn), với Hán Việt viết cùng nghĩa với vạch, với diếtdiệtgiết (làm cho chết bằng vật nhọn sắc như đâm, chém con thú bằng mũi dao, mác, lao, giáo, mũi tên, rìu búa…).

Tóm lại Việt phiên âm hay biến âm với từ vớt, vác (mác), vọt, vạch, viết có nghĩa chính là vật nhọn sắc, nọc nhọn ứng với nghĩa Hán Việt búa, rìu. Dưới diện ý nghĩa biểu tượng, vật nhọn dùng làm biểu tượng cho bộ phận sinh dục (nõ, nọc), đực (nọc), dương, thái dương, mặt trời (dương là đực và cũng có một nghĩa là mặt trời). Vậy Việt mang một ý nghĩa biểu tượng cho mặt trời, mang nghĩa mặt trời nọc, lửa, thái dương có nọc tia sáng tỏa rạng ra như mũi tên, mũi mác (>) như nọc nhọn. Việt hiểu theo nghĩa biểu tượng là MẶT TRỜI TỎA RẠNG, MẶT TRỜI RẠNG NGỜI, HỪNG RẠNG hay muốn dùng theo Hán Việt thì là VIỆT MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG. Chúng ta thuộc họ Việt mặt trời rạng ngời, Việt mặt trời thái dương dòng thần Mặt Trời Viêm Đế, Viêm Việt.

Hiểu rõ Việt như thế rồi, nhìn tổng quát tất cả các tên, hiệu, biểu tượng, vật tổ, vật biểu, chim biểu, thú biểu về ngành Nọc, dương của Đại tộc Việt đều có nghĩa nói chung là vật nhọn (nọccọcquevọt, búa rìu, dao, giáo, mác…), đực, dương, mặt trời thái dương tức là VIỆT ví dụ như trăm lang (lang biến âm với chàng là con trai, chàng cũng là chiếc đục ‘chisel’), Hùng (có một nghĩa là đực như thư hùng), chim biểu của Lang Hùng, Hùng Vương là chim Lang, chim Hùng, chim Việt là chim Nọc, chim Rìu; thú biểu bốn chân sống trên mặt đất là con thú Việt, là Hươu Việt nôm na gọi là con Cọc (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc)…

Chim Rìu, Chim Việt

Như trên đã nói, con chim tổ tối cao tối thượng của Đại Tộc Việt phải là con chim Việt, chim Rìu. Tôi đã tìm thấy con chim Việt này và đã viết trong ba bộ sử sách, sử miệng, sử đồng, nếu cần các chi tiết xin tham khảo ở đó, ở đây chỉ xin nhắc lại một vài điểm chính yếu để độc giả dễ theo dõi và dễ hiểu bài viết này mà thôi.

Hình bóng chim Việt qua:

Sử sách

Như đã thấy, qua ngôn ngữ, chim Việt là chim Rìu. Đây chính là chim mỏ Cắt còn có tên là chim mỏ rìu như thấy qua bài vè các loài chim:

Cũng còn có chú mỏ rìu,

Rõ là tay thợ, khẳng khiu chán chường.

Chim cắt là chim rìu, chim Việt của đại tộc Việt ở Cõi Trên Tạo Hóa. Cắt liên hệ với Anh ngữ cut (cắt), Phạn ngữ khad, to divide, to break, ta có k(h)ad = khắc = cắt (t=d), Tiền cổ-Ấn Âu ngữ *kès– ‘cut’ và gốc Ngôn ngữ của chúng ta Nostratic *k’aca. Theo chuyển hóa c=h (cùi = hủi), ta có cắtcátcác hachache (Pháp ngữ), hacha (Tây Ban Nha ngữ), hack (Anh ngữ) có nghĩa là rìu, búa chim… Chim cắt là chim rìu, chim Việt…

Chim Cắt là chim Rìu, chim Việt thấy rõ qua truyện thần thoại Con Chim Torok hay Burong Tebang Rumah Bapok Mentua (Con Chim Bổ Sập Nhà Bố Vợ) của thổ dân Kelantan, Borneo. Chim Torok là chim bổ cắt. Mã ngữ torok là thọc, thục, đục, đực… Con chim bổ sập nhà bố vợ hiển nhiên phải có mỏ là mỏ đục (chisel), mỏ rìu, mỏ cắt (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Chim cắt Anh ngữ là hornbill, tên khoa học là Rhinoplax vigil, (Forst., Bucerotidae) có horn là sừng (vật nhọn) và bill là bổ là mỏ. Chim mỏ cắt có tên Hán Việt là chim hồng hoàng. Chúng ta thường nói tới hai từ Lạc Hồng hay Hồng Lạc, chúng ta là con Hồng cháu Lạc. Nhìn dưới diện vật tổ chim thì Lạc Hồng là chim Hồng, chim Lạc. Chim Hồng là chim Đỏ, chim Lửa, chim Lạc là chim Nác, chim Nước. Chim Lạc chim Nước có thể là loài ngỗng trời (con ngỗng chân có màng là một loài chim nước) không phải là loài cò, một loài chim Gió (xem Chim Lạc hay Cò Lang?). Chim Hồng, theo duy dương, là chim hồng hoàng bổ cắt (xem dưới). Như thế chim cắt là chim Rìu, chim Việt, Chim Lửa, chim mặt trời, chim Nọc, hồng hoàng.

Sử miệng Ca Dao Tục Ngữ

Hình bóng chim rìu, chim cắt còn thấy nhiều trong ca dao như qua bài đồng dao Bổ nông là ông bồ cắt nói về sáu con chim tổ của Đại Tộc Việt ứng với Việt Dịch Chim Nông Cắt ở Cõi Trên, Tạo Hóa.

Bổ nông là ông bồ cắt,

Bồ cắt là bác chim di,

Chim di là dì sáo sậu

Sáo sậu là cậu sáo đen

Sáo đen là em tu hú

Tu hú là chú bồ nông.

……

Sử đồng

Hình bóng chim Rìu, Chim Việt bổ cắt cũng thấy rất nhiều trên trống đồng âm dương Đông Sơn. Trên mặt trống đồng Duy Tiên, mặt tuy bị vỡ nhưng còn thấy rõ hình ba con mỏ cắt, mỏ lớn, đầu có mũ sừng. Đây là loài Great hornbill, loài mỏ cắt lớn nhất.



Chim cắt trên trống đồng âm dương Duy Tiên

(Nguyễn Văn Huyên).

Những hình thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ đầu thuyền có hình Rắn-Nước miệng há rộng biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ với hình chim mỏ rìu, biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam đâm vào miệng Rắn Nước. Đây là dạng lưỡng hợp sinh tạo thái âm thái dương ở cõi Đại Vũ Trụ. Đuôi thuyền hình chim nông và ngay sau đuôi thuyền có một hay hai cây nọc hình đầu chim cắt, ở dạng lưỡng hợp bổ nông (thiếu âm) với bồ cắt (thiếu dương) ở cõi trời Tiểu Vũ Trụ. Trên nhiều trống đồng khác như trên trống đồng sông Đà, một đuôi thuyền khắc đầu chim hình chiếc rìu (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

Vật Biểu Chim Mỏ Cắt Của Các Chi Tộc Khác Của “Đàn Chim Việt”.

Mường

Mường Việt cổ có vật tổ chim là chim tráng, chim cháng. Giữa Việt và Mường có qui luật biến âm dấu sắc Mường = dấu huyền Việt như mấn = mần (làm) nên ta có tráng (trai tráng) = Việt ngữ chàng (chàng trai) và cháng = Việt ngữ chàng (đục, chisel). Chim cháng là chim chàng, chim đục, chim rìu, chim mỏ cắt. Theo truyền thuyết Mường hai con chim KlángKlao (tương ứng với truyền thuyết khác là chim Ây, cái Ứa) đẻ ra trứng trăm trứng nghìn, nở ra muôn vật muôn loài, đẻ ra người Đáo (tức người Kinh, người Việt) đẻ ra người Mường… Từ Kláng chuyển sang Việt ngữ là Tráng, Chàng (đục) tức chim mỏ cắt (xem chương Nhận Diện Danh Tính Hùng Vương trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

-Chim Khướng

Chim mỏ cắt cũng còn gọi là chim khướng như thấy trong truyện thơ Mường:

Khách phương nào tới

Mà sao tốt tướng oai nghi

Như con chim khướng mấy thu mấy thì

Bay qua lèn đá dựng,

Đã đứng nên đứng,

Đã ngồi nên ngồi…

(Truyện Út Lót – Hồ Liêu, Hoàng Anh Nhân, t.2, tr.99).

Tác giả trên giải thích “Chim Khướng: loại chim lớn, mỏ to và trên mỏ có mũ sừng cứng, thường gọi là chim Phượng hoàng đất”. Tác giả đã không nhận diện ra được “chim Phượng hoàng đất ”mỏ to và trên mỏ có mũ sừng” chính là chim cắt. Rõ ràng chim khướng là chim cắt lớn great hornbill. Theo qui luật biến âm dấu sắc Mường = dấu huyền Việt ta có khướng = khường và kh Mường = s Việt như khang = sang, không = sông, nên khướng = khường = sường = sừng. Con chim khướng là con chim sừng (đầu có mũ sừng), tức chim hornbill và ta cũng thấy khướng biến âm với Hán Việt khương (có nghĩa là sừng). Chim khướng là chim sừng, chim khương. Viêm Đế có họ là Khương (sừng) như thế chim Sừng Khướng mỏ cắt là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế họ Khương, của Viêm Việt. Chim cắt cũng được thờ phượng đúc thành tượng vàng thấy trong truyện Út Lót. Nàng Út Lót nói với hai chị rằng: “Đồ vàng đúc hình con chim cắt...”.

Ê-Đê

Người Ê-đê có chim mlingmlang thấy qua bài hát

Anh đến từ nơi xa,

Anh mang theo chim mơ-linh từ nhà,

Chim mơ-lang từ buôn.

Anh nghĩ rằng em là con gái chưa tơ vương…

(Vũ Ngọc Phan, Tục Ngữ, Cao Dao, Dân Ca, Việt Nam).

Chim mling, mlang này chính là chim cắt. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với Mã Lai ngữ langling: the Southern pied hornbill (chim cắt có lông sặc sỡ, nhiều màu ở miền Nam). Ta cũng thấy rất rõ Mã ngữ lang: a generic name for hauks, kites and eagles (một tên chủng loại chỉ diều hâu và ó, ưng). Như thế chim lang, chim linh chỉ chung loài mãnh cầm, loài chim mang hùng tính biểu tượng cho đực, dương, phái nam, mặt trời. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với hai từ lang và linh trong Việt ngữ. Việt ngữ lang là chàng, con trai. Linh ruột thịt với Ấn ngữ linga (bộ phận sinh dục nam). Linh biến âm với lính (ngày xưa chỉ đàn ông con trai mới phải đi lính), với đinh theo kiểu linh đinh. Đinh là con trai, thanh niên như tráng đinhlễ thành đinh. Rõ ràng chim mlang, mling là chim langling, chim cắt, chim rìu, loài chim mang biểu tượng cho đực, dương, hùng tính, mặt trời tức chim Việt. Theo giáo sư Trần Quốc Vượng, địa danh Mê Linh mang tên loài chim Việt này. Ông dựa vào các nghiên cứu tổng hợp các tài liệu lịch sử, ngôn ngữ và truyền thuyết dân gian, Mê (Ma, Minh, Mi) Linh là Mling. Mling, mlang (cặp tên có tính chất lấp láy) theo tiếng của các dân tộc Tây nguyên có nghĩa là một loài chim… Mọi tài liệu đều nói lên một cách thống nhất huyện đó, bộ lạc đó, khi xưa mang tên một loài chim Mling với một thị tộc (bào tộc) gốc thờ chim làm vật tổ. Đó là bộ lạc gốc thời Hùng Vương dựng nước (Hùng Vương Dựng Nước, tập I, tr.154). Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, hai Bà Trưng là con cháu, dòng dõi vua Hùng Vương. Hùng Vương đóng đô ở Phong châu. Lê Ngô Các, Phạm Đình Toái, đã ghi lại rành rành trong Đại Nam quốc sử diễn ca:

Bà Trưng quê ở châu Phong,

Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên.

Chị em nặng một lời nguyền,

Phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân…

Hai Bà khi lên ngôi đóng đô ở đất Mê Linh (Ý Nhĩa Ngày Lễ Hai Bà Trưng Mồng 6 Tháng 2 Âm Lịch, khoahoc.net). Mê-Linh, Mlang, Mling, Langling là chim lang, chim biểu tượng cho Lang Hùng, là chim chàng (chisel), chim đục, chim rìu, chim Việt, chim đực, chim biểu của Hùng Vương (Hùng có một nghĩa là con chim đực). Hùng Vương thế gian theo duy dương ngành lửa có một khuôn mặt chim biểu là chim cắt (có thể là loài chim cắt đất), chim Việt đội lốt chim cắt chim sừng, chim Khướng, chim Khương Great Hornbill, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế dòng Viêm Việt.

Người Co

Người Co ở Trà Bồng, Trà Mi (miền Trung Việt Nam) có con chim biểu có mỏ rất lớn mang hình bóng chim rìu, chim cắt.

Người Ao (Âu) Naga ở Assam, miền cực tây Vân Nam

Người Ao-Naga tức Âu-Rồng Nác, Âu-Long ruột thịt với Âu Cơ-Long Quân, với Âu-Lạc. Chứng tích thờ chim cắt thấy đi kèm với rắn nước, rồng đất cắc kè, kì nhông, kỳ đà, thằn lằn còn thấy nhiều ở người Ao Naga. Trong nghệ thuật khắc gỗ của họ còn thấy chiếc rìu đầu chim mỏ cắt.

Đồ khắc gỗ của người Ao Naga có chiếc rìu đầu chim mỏ cắt (Mills, The Ao Naga).

Sắc dân này có tộc Ozukumtzur (bird-became-woman) tự nhận là con cháu của chim Mỏ Cắt có hèm (taboo) là không ăn thịt chim mỏ cắt (William Carson Smith, p.111).

Người Katu

Người Katu có căn nhà thiêng liêng trên nóc có con chim đực.



Nhà của người Katu trên nóc có con chim đực (theo Maurice).

Chú ý hình chim này đầu có nọc nhọn hay sừng nhọn biểu tượng cho dương, lửa. Đuôi chim cũng vểnh lên thành hình nọc. Đầu nọc (I), đuôi nọc (I) nghĩa là chim thái dương (II). Lưng chim là đường sống nóc nhà có hình chuỗi chữ viết nòng nọc mũi mác, răng cưa, răng sói (>) biểu tượng cho đực, nọc, dương, thái dương, mặt trời, theo thái dương (Càn) là sóng lửa vũ trụ, ánh sáng, theo thiếu dương (Li) là rặng núi tháp, lửa thế gian. Con chim mang hình ảnh con chim cắt.

Người Ngaju, Dayak Nam Borneo.

Giáo sư Kim Định cho họ là Bộc Việt. Hai vật tổ tối cao tối thượng cuả người Ngaju thuộc tộc Dayak, ở miền Nam Borneo là Rắn Nước (Watersnake) và Mỏ Cắt (Hornbill). Chim Cắt gọi là Tingang, trong ngôn ngữ của thầy tế pháp sư gọi là bungai. Vật tổ này thường thấy vẽ, khắc trên hình thuyền Chim Cắt, Thuyền Rắn Nước, những con thuyền mà các thần tổ dùng đi từ thượng giới xuống trần gian.

Người Hắc Đảo ở Đại Dương châu.

Các Thổ dân Hắc Đảo cũng coi chim cắt là biểu tượng cho đực, dương, lửa, mặt trời. Mỏ bồ cắt là biểu tượng cho cơ quan sinh dục nam như thấy qua hình chim mỏ cắt để trong một miếu âm hồn ở Maprik,
Papua, New Guinea.


Chim mỏ cắt để trong một miếu âm hồn ở Maprik, Papua, New Guinea (Richard Cavendish, p. 282).

Mỏ chim biểu tượng dương vật trong khi mặt trăng ở thân người chim biểu tượng âm hộ. Hình diễn tả nõ nường, nòng nọc, âm dương sinh tạo, giao hợp âm dương. Ở đây ta cũng thấy rõ chim cắt có một khuôn mặt là mặt trời giao hòa với mặt trăng ở thân người chim.

Tóm lại vật tổ chim Mặt Trời thuần dương của họ Nọc Việt Mặt trời thái dương là con chim Cắt, chim Rìu, chim Việt, chim Hồng hoàng. Chim Cắt là chim Nọc (Đực), Chim Việt biểu tượng của họ Nọc Mặt trời Viêm Đế, Viêm Việt.

Những nét đặc thù của chim cắt, chim rìu, chim Việt.

Sau đây là vài đặc tính của chim cắt:

1. Mỏ lớn và dài (prominent bill). Mỏ là yếu tố chủ yếu, nổi bật, đập vào mắt.

2. Có giống cắt có sừng ngà hay “mũ bảo vệ đầu” (bony casque or helmet) nhô ra sau trông như bờm. Chim cắt ngoại trừ hai giống sống dưới đất còn tất cả làm tổ trên chóp ngọn cây cao. Sống trong những rừng cây Đông Nam Á, Ấn Độ, Phi châu, Nam Arabia. Dĩ nhiên Việt Nam cũng có chim này. Trên bìa báo Khoa Học của khoa học gia Nguyễn Công Tiễu số 65 ngày 1er Mars 1934 cũng có vẽ hình con chim “có phong tục lạ” (khi con cái ấp trứng, con đực lấy bùn đắp kín tổ lại, nhốt con cái bên trong, chỉ chừa một lỗ nhỏ để đưa mồi vào nuôi con cái ấp trứng) tên Tây là dichocère và “ta gọi là chim hồng hoàng”. Tại tòa báo Khoa Học ở Ngọc Hà có nuôi một con để độc giả đến xem. Mỏ Cắt Lớn có mỏ lớn dài gần hai tấc rưỡi (25cm) rất đặc biệt. Mũ (casque) con trống có rãnh sâu. Mũ con cái bằng phẳng. Con chim “hồng hoàng” trưng bầy ở tòa báo Khoa Học chính là con Bồ Cắt Lớn, qua lời tả “chim nuôi ở tòa báo dang hai cánh đo được 1 thước 74, từ mỏ đến hết lông đuôi dài 1 thước 25… Mỏ màu vàng trên be ra nom như múi khế…”.

3. Nhưng điểm đặc thù nhất của chim mỏ cắt là cách ăn.

Vì mỏ quá to nên khi ăn phải gắp, nhặt lấy quả hay hạt rồi tung cao lên trời và há to mỏ hứng cho hạt rơi vào phần sau của mỏ gần cổ họng thì mới nuốt được thức ăn. Đây là một nét đặc thù thấy trong các biểu tượng chim cắt thái cổ. Con chim mỏ to như mỏ rìu có mũ sừng, ngậm hạt trong mỏ trăm phần trăm là chim cắt.


Một vài hình bóng chim mỏ cắt với nét đặc thù là ngậm hạt, quả thức ăn trong mỏ còn thấy trong văn hóa Ngaju, Dayak, Borneo. Họ có quan tài dành cho phái nữ thường đầu có hình chim Bổ Cắt để có dạng âm dương hôn phối và quan tài dành cho phái nam có hình Rắn Nước để có dạng dương âm hôn phối, mong hồn người chết được tái sinh hay về miền hằng cửu. Chim bổ cắt đầu quan tài có nét đặc thù chuyên biệt là mỏ đang ngậm một quả hay một hạt thức ăn.

Quan tài hình chim bổ cắt dành cho phái nữ và quan tài rắn-nước dành cho phái nam của người Ngaju, Dayak, Borneo (Hans Scharer). Lưu ý đầu chim bổ cắt đang ngậm một quả hay hạt thức ăn.

Họ cũng có thuyền vong hình Rắn Nước cho phái nam và thuyền vong hình Chim Cắt cho phái nữ. Chim bổ cắt đầu thuyền có nét đặc thù chuyên biệt là mỏ đang mổ một quả hay hạt thức ăn.

Thuyền linh hồn bổ cắt hay thuyền châu báu dành cho phái nữ của người Ngaju (Hans Scharer, Plate XIX, illustration 22). Lưu ý đầu thuyền đầu chim bổ cắt đang mổ một quả hay hạt thức ăn.
Con Chim Cắt, Chim Việt Đậu Ở Văn Miếu, Hà Nội
Tôi đã tìm thấy con chim tổ bổ cắt ngậm quả hay hạt thức ăn này ở Văn Miếu, Hà Nội. Con chim mỏ to như mỏ rìu, có mũ sừng, ngậm hạt trong mỏ này trăm phần trăm là chim cắt, chim rìu, CHIM VIỆT.
Con chim Việt ngậm quả, hột thức ăn trong mỏ tại Văn Miếu, Hà Nội.
Con chim cắt Việt này đã linh vật hóa, thần thoại hóa thành linh điểu Việt nên ngày nay không ai nhận ra. Hiển nhiên như đã thấy với điểm đặc thù ngậm quả, hạt trong mỏ đây không phải là con chim phượng của Trung Hoa. Chim phượng biểu tượng cho Lửa, là con chim Lửa có cốt là con chim trĩ, có đuôi rất dài như những dải lụa vì thế còn có tên là chim giải cùi. Con chim ở đây đuôi ngắn. Đây là con chim Việt cũng là chim biểu cho Lửa nhưng có cốt là con chim rìu, chim cắt. Hai con mang ý nghĩa biểu tượng khác nhau. Chim phượng có cốt là chim trĩ, thuộc họ nhà gà, sống nhiều trên mặt đất nên biểu tượng cho Lửa đất, lửa cõi thế gian có một khuôn mặt chính ứng với Li, trong khi chim Việt, chim rìu, chim cắt có loài sống trên cao, làm tổ trên ngọn cây cao như thấy qua bài đồng dao:
Bổ cu, bổ cắt,
Tha rác lên cây,
Gió đánh lung lay,
Là ông Cao Tổ…
Bài hát này ở thể chơi chữ. Cao tổ là tổ rất cao mà cũng có nghĩa là ông tổ tối cao hay vua Cao Tổ nhà Hán… Chim Cắt sống, làm tổ trên ngọn cây cao biểu tượng cho Lửa trời, lửa vũ trụ ứng với Càn. Lửa vũ trụ sinh ra lửa thế gian. Chim Cắt Việt cõi Tạo Hóa là chim tổ tối cao của Đại tộc Việt. Chim Cắt Việt, chim (mũ) Sừng, chim Khướng, Hornbill là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế có họ Khương (Sừng), là chim biểu của Viêm Việt. Chim Cắt Việt tạo hóa là ông tổ của chim phượng thế gian của Trung Hoa. Văn hóa chim phượng của Trung Hoa là văn hóa thế gian, là di duệ, con cháu của văn hóa chim Cắt Việt vũ trụ. Sau này có lẽ bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa các nhà nho cũng hay nói tới con trĩ Việt tức trĩ lửa thế gian. Cắt Việt vũ trụ là chim tổ của trĩ Việt thế gian, là chim tổ của trĩ phượng Trung Hoa. Ta thấy rất rõ chim cắt là chim Việt nên còn thấy trên trống đồng âm dương Đông Sơn, trong khi chim phượng của Trung Hoa chỉ thấy trên trống đồng ở vùng Nam Trung Hoa và Nam Dương, hai nơi bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa.
Chim Việt biểu tượng cho Nọc, đực, dương, lửa, mặt trời nọc rạng ngời, bộ phận sinh dục nam, đối ứng với chim Nông, chim Nước, chim Nòng, hai chim biểu Nọc Nòng tối cao của Đại Tộc Việt. Chim nông, chim cắt là chim nòng nọc, âm dương, chim biểu của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, của Dịch nòng nọc. Vì thế con chim Việt đứng ở Văn Miếu phải mang nghĩa vũ trụ tạo sinh ngành nọc, lửa dương. Thật vậy, trên đầu có hình nọc hơi cong như lưỡi lửa cho biết con chim này là con chim nọc Lửa vũ trụ, chim Việt vũ trụ. Phần mũ trên đầu phía trước gồm có ba nọc nhọn tức ba hào dương, quẻ Càn (III), lửa vũ trụ. Phần mũ sau gáy biến thành mào hình móc cong biểu tượng cho khí, gió lửa (khí gió ngành lửa, dương) Đoài. Phần bờm sau cổ hình sóng lưỡi lửa biểu tượng cho nước lửa (nước ngành lửa, dương) ứng với Chấn và chuỗi hình mũi mác răng cưa, cứ ở giữa hai sóng nước lửa lại có hai nọc mũi mác ghép lại thành hình chữ M. Phân tách M ra ta có /\ V /\, tức hai chữ viết nòng nọc mũi mác chỉ thiên /\ hình núi tháp nhọn là hai hào dương (I…I) kẹp ở giữa một chữ viết nòng nọc V, là một hào âm (O) tức /\V/\ = IOI, quẻ Li, lửa thế gian, núi dương, lửa, đất lửa ngành nọc dương. Mặt khác, nếu ta chồng hai nọc mũi mác này lên nhau, ta có hình tháp vách kép biểu tượng cho núi tháp nhọn giống như hình núi tháp vách kép cũng biểu tượng cho lửa thế gian, đất dương Li thấy ở hoa văn Tứ Tượng trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I mà hiện nay các nhà khảo cổ học Việt Nam gọi nhầm là “họa tiết lông công” (xem The Da Vinci Code và Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Như thế đầu chim biểu tượng cho Nọc, dương, cho ngành nọc, Việt và Tứ Tượng ngành nọc, lửa, dương… Con chim cắt Việt cho thấy cốt lõi văn hóa Việt là Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo và Dịch nòng nọc.
Hạnh phúc thay! Tôi đã tìm thấy con chim Việt, chim biểu của Đại Tộc Việt ở Văn Miếu, Hà Nội, nơi biểu trưng cho trí tuệ Việt, đầu óc Việt, tinh hoa Việt, tinh anh Việt. Tôi đã tìm thấy hình bóng tổ Việt, tìm thấy một mấu chốt của căn cước Việt của mình trong đời sống tâm linh hàng ngày hiện nay. Mong các nhà làm văn hóa Việt nhận ra điểm này và giúp cho con chim Việt vỗ cánh bay bổng trở lại trên bầu trời non nước Việt Nam. Giới khoa bảng ưu việt đã bảo tồn, lưu truyền lại hình bóng chim tổ Việt tại Văn Miếu. Để tránh lầm lẫn với văn hóa Trung Hoa, xin hãy thay thế con chim phượng Trung Hoa bằng con chim Việt có cốt là con chim cắt, chim rìu đang ngậm quả, hạt này.

Tài liệu tham khảo
.Đặng Chấn Liêu, Từ điển Việt Anh, nxb KHXH, 1993.
.Hans Scharer, bản dịch Anh ngữ của Rodney Needham, Ngaju Religion.
.Hoàng Anh Nhân, Tuyển tập truyện thơ Mường, t.2.
.Nguyễn Văn Huyền, Hoàng Vinh, Những Trống Đồng Đông Sơn Đã Phát Hiện ở Việt Nam, Viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam xuất bản 1975.
.Kim Định, Việt Lý Tố Nguyên; Hùng Việt Sử Ca, Thằng Mõ xuất bản 1984.
.Mills, The Ao Naga.
.Nguyễn Công Tiễu, báo Khoa Học, số 65 ngày 1er Mars 1934 tr.26.
.Nguyễn Xuân Quang:



Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2019

LIỆU VIỆT NAM CÓ THỂ ĐÓNG VAI TRÒ CHỦ CHỐT TRONG VIỆC THIẾT LẬP MỘT CUỘC ĐỐI THOẠI MANG TÍNH LỊCH SỬ Ở ĐÔNG Á?


Emanuel Pastreich

Viện trưởng Viện châu Á tại Seoul




Việt Nam hiện đã xác lập vị trí vững chắc của mình như một nền kinh tế quan trọng và một nền văn hoá sôi động có khả năng sản sinh ra những hoạt động nghệ thuật có sức hấp dẫn nhất. Vì lẽ đó, quốc gia này đang đứng trước một cơ hội để đảm nhận vai trò trung tâm trong việc tìm ra một nền tảng chung trong tương lai cho các nước Đông Á bao gồm Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Việt Nam có thể thực hiện tốt vai trò này bởi lẽ quốc gia này vốn theo đuổi một quan điểm cân bằng và khách quan hơn, và đồng thời, Việt Nam cũng chia sẻ nhiều giá trị văn hoá gốc rễ với ba nước còn lại. Đã đến lúc chúng ta cần vượt lên trên việc chú trọng đơn thuần vào thương mại, dỡ bỏ các rào cản đầu tư và tổ chức các cuộc họp cấp cao giữa các bộ trưởng, thứ trưởng, các CEO và các chuyên gia kỹ thuật.

Việc cho rằng các nỗ lực thúc đẩy hội nhập và hợp tác giữa bốn nước nên diễn ra ở cấp cao nhất là một điều hoàn toàn tự nhiên. Vấn đề là ở chỗ, “cấp cao nhất” đó thường được hiểu là những người ở vị trí cao nhất (tổng thống, bộ trưởng hoặc CEO).

Tuy vậy, liệu thuật ngữ “cao nhất” có thể được sử dụng theo nghĩa khác hay không? Phải chăng chúng ta cần phải có một thảo luận “cấp cao”, không phải theo nghĩa trật tự thể chế mà là sự cao nhất ở khía cạnh văn hoá và triết học, giữa Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Có lẽ, điều chúng ta cần là những sự kiện có tầm quan trọng tối cao về mặt lịch sử và có ý nghĩa sâu sắc đối với những người tham gia và cho tương lai chung của chúng ta.

Trái với điều này, các chính trị gia cấp cao có thường rất hạn chế trong hiểu biết về văn hóa, lịch sử và triết học. Họ chỉ quan tâm đến các biểu tượng về địa vị hoặc sự nổi tiếng ngắn hạn. Những thứ này không giúp ích nhiều cho dòng chảy lâu dài của lịch sử và của thế giới mà các thế hệ tương lai sẽ trải nghiệm.

Tuy nhiên, cũng đã có những thời điểm, chẳng hạn như việc ký kết Đại Hiến chương (Magna Carta), hay sự ra đời của trường học Khổng Tử, chính là những bước chuyển hóa và mở ra những cánh cửa dẫn đến một kỷ nguyên mới dành cho những cam kết về trí tuệ và văn hóa.

Điều tôi đang nói đến ở đây chắc chắn không phải là những hội thảo khoa học khô khan nơi các học giả của Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc trình bày các tham luận chuyên ngành về văn hóa, triết học hay lịch sử. Các hoạt động như vậy có giá trị, nhưng chúng cách xa phạm vi hoạt động của các chính phủ, ngành ngoại giao, và trải nghiệm của những người dân bình thường.

Một điều quan trọng không kém đó là việc hầu hết các học giả không còn coi mình như là những thủ lĩnh trí tuệ, những người có nghĩa vụ đạo đức giúp đỡ người khác và dẫn đường cho sự phát triển của một xã hội tốt đẹp hơn. Thay vào đó, họ mải miết với việc viết bài cho các tạp chí chuyên ngành, hoặc mang đến cho sinh viên những bài giảng dễ đoán và chán chường. Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã mất đi một trong những truyền thống vĩ đại nhất của họ: Vai trò đạo đức dấn thân của tầng lớp trí thức. Tôi đặc biệt ghi nhớ sự tận tâm với chủ nghĩa quốc tế và trao đổi văn hóa quốc tế của Phạm Thận Duật (1825-1885), người đã thiết lập một mô hình nhằm xây dựng một nền tảng chung giữa các truyền thống Đông Á.

Sự trỗi dậy của Đông Á mang tới cho Việt Nam một cơ hội to lớn để khẳng định cam kết của quốc gia này với chủ nghĩa quốc tế, khuyến khích sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa ở Đông Á và đưa ra một tầm nhìn đầy cảm hứng cho những tiềm năng có thể tiếp tục phát triển bằng cách bắt đầu cuộc đàm luận giữa bốn quốc gia vốn khác nhau một cách cơ bản về giọng điệu và nội dung.

Chúng ta hoàn toàn có thể cùng nhau khởi tạo những trao đổi đầy cảm hứng giữa Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản để thiết lập nên một nền tảng cho mối quan hệ khác biệt sâu sắc giữa các quốc gia này, do từng cá thể trong đó, đến lượt mình, sẽ được biến đổi bởi quá trình này. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải thể hiện sự nghiêm túc rất cao trong các thảo luận, các bài viết và những phát biểu của mình, đây là điều đã bị mất đi trong bốn mươi năm qua.

Trước tiên, chúng ta phải ý thức được vị trí lịch sử của mình. Quý vị hầu như không thể tìm thấy bất cứ thứ gì truyền thống ở các thành phố lớn của Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản. Cho dù nhìn vào trang phục hay kiến trúc, các loại thức ăn nhanh hay thậm chí là các hệ giá trị, quý vị đều thấy những phản chiếu hời hợt của một phương Tây thương mại hóa đã chiếm lĩnh toàn bộ Đông Bắc Á.

Quá trình đó đã tiêu tốn hai thế kỷ. Kể từ khi cuộc chiến tranh Nha phiến phô diễn sự tinh thông công nghệ to lớn của phương Tây, diễn ngôn văn hóa tại châu Á đã vĩnh viễn được định danh với sự ưu ái dành cho các truyền thống Tây phương.

Tuy vậy, người phương Tây dành chiến thắng trong cuộc chiến tranh Nha phiến không phải nhờ vào tính ưu việt về văn hóa của mình mà vì họ đã nhanh chóng tiếp nhận một xã hội công nghiệp dựa trên nền tảng của nguồn tài nguyên than đá cùng với những những lợi thế to lớn mà nó mang lại. Nhưng chính điều này cũng đã hoàn toàn huỷ diệt nhân tính của chúng ta bằng cách đưa công nghệ trở thành một tiêu chuẩn để đánh giá con người và đánh giá sự tiến bộ của xã hội.

Đến nay chúng ta nhận ra rằng, nhiên liệu hóa thạch đang phá hủy trái đất, và rằng việc các học giả của Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản đã khước từ quá trình công nghiệp hóa và ủng hộ nền kinh tế nông nghiệp bền vững là đúng đắn, và rằng người châu Âu đã hoàn toàn sai lầm.

Và ngày nay, Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đang phải đối mặt với những mối đe dọa “vô tiền khoáng hậu” đến từ hiện tượng biến đổi khí hậu, từ sự phát triển mất kiểm soát của công nghệ và quá trình tập trung hóa của cải vật chất. Những mối đe dọa đó đòi hỏi chúng ta phải có những thay đổi to lớn.

Một cách tiếp cận đối với các vấn đề này chính là cố gắng tìm ra một giải pháp thiết thực từ chính trong văn hóa của chúng ta, từ văn hóa truyền thống của Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản. Và giải pháp này được thực hiện thông qua một cuộc thảo luận đa cấp (với sự tham gia của các chuyên gia lịch sử, các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các doanh nhân và công dân bình thường) về các giá trị nguyên bản trong chính các truyền thống của chúng ta. Thảo luận này cũng hướng tới việc xem xét mức độ đa dạng mà các triết lý Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo có thể cung cấp những cách tiếp cận mới cho đời sống hôm nay và đề xuất những hướng đi mới cho cải tiến trong quản trị, giáo dục và môi trường.

Xác định những giá trị tích cực nhất trong các diễn ngôn trước đây về chính quyền, về kinh tế, và về đạo đức chính trị trong truyền thống Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản sẽ cho phép chúng ta tiếp cận với những viễn cảnh to lớn về những khả thể mà chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy được nếu chỉ đọc trên Tạp chí phố Wall.

Một điều quan trọng khác chính là việc bằng cách đưa Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản lại với nhau để đánh giá tiềm năng của nền văn hoá trong quá khứ, chúng ta sẽ tránh được hầu hết những xung đột về mặt ý thức hệ, và thay vào đó, nhấn mạnh vai trò của một nền tảng chung.

Sự giàu có trong di sản văn hoá là điều không phải bàn cãi. Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản có chung kinh nghiệm của một mô hình quản trị tinh vi có lịch sử hàng ngàn năm, được phát triển dựa trên nền nông nghiệp bền vững và nhấn mạnh các quy tắc đạo đức. Ba quốc gia này đã phát triển một cấu trúc phức tạp dành cho tinh thần trách nhiệm và để duy trì sự cân bằng quyền lực. Mặc dù, chúng ta rõ ràng đã gặp phải những thất bại, nhưng thành công trong truyền thống đó, những thứ gần như đã bị lãng quên, có ý nghĩa rất quan trọng.

Chúng ta nhìn lại quá khứ giàu có của châu Á không phải vì mục đích giải trí, thay vào đó, chúng ta đang tìm kiếm các giải pháp để đối phó với các mối đe dọa to lớn mà chúng ta phải đối mặt ngày nay như biến đổi khí hậu, sự phát triển không bền vững và sự sụp đổ của xã hội công nghiệp.

Việc xem xét một cách sáng tạo di sản chung của châu Á tại thời điểm lịch sử quan trọng này có thể là một thời điểm tương tự như sự ra đời của Hội nghị Hiến pháp năm 1787 tại Hoa Kỳ. Các học giả hàng đầu và các nhân vật chính trị cẩn trọng ở Hoa Kỳ đã cùng nhau thảo luận về cách thức mà các tư tưởng về quản trị từ thời Hy Lạp và La Mã có thể được diễn giải lại một cách tốt nhất để hình thành nên nền tảng cho chính phủ đạo đức trong thời hiện đại. Hội nghị Hiến pháp đó, chính bởi vì sự sâu sắc của quá trình thảo luận và những ý định nghiêm túc, đã mở ra một quan niệm mới về dân chủ, thứ mà sau này đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ các nhà hoạt động xã hội để thúc giục những cải tổ chính trị trong cuộc Cách mạng Pháp.

Những nỗ lực của Alexander Hamilton và Thomas Jefferson trong việc soạn thảo Hiến pháp Hoa Kỳ được xây dựng dựa trên nỗ lực trước đó: thời kỳ Phục hưng ở Châu Âu vào thế kỷ 15 và 16.

Các nhà tư tưởng thời kỳ Phục hưng ở Ý và Pháp trong thế kỷ XV đã chắt lọc thành quả tốt nhất của thời Hy Lạp và La Mã cổ đại và diễn giải lại nó một cách sáng tạo như một phương tiện để thổi sức sống vào một nền văn minh đang suy tàn. Họ tìm thấy một sức mạnh chuyển hoá trong nền văn hóa đã qua đó, một sức mạnh có thể giúp họ vượt lên phía trước và vươn tới những chân trời mới. Nhìn lại quá khứ không chỉ để hoài niệm mà là một cơ hội cho sự đổi mới.

Làm thế nào để bắt đầu một cuộc đối thoại như vậy giữa Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc?

Chúng ta nên thành lập một nhóm các học giả và nghệ sĩ, nhà văn và các nhà tư tưởng của Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc để khám phá toàn bộ bộ lịch sử thể chế của Châu Á, những tập quán, những giá trị và công nghệ gắn với thể chế này qua mỗi triều đại (ở ba quốc gia) và từ đó đề xuất một cách sáng tạo về cách thức mà những kho tàng trong quá khứ đó có thể được điều chỉnh để đáp ứng những nhu cầu của xã hội hiện đại của chúng ta.

Các thành viên của dự án này không nên chỉ giới hạn trong các học giả, mà nên bao gồm các quan chức chính phủ, các chính trị gia, nghệ sĩ, triết gia, doanh nhân và các nhà hoạt động phi chính phủ. Nhưng họ nên được lựa chọn dựa trên sự sáng tạo và cam kết về mặt đạo đức của mình chứ không phải dựa trên các mối quan hệ của họ với các quyền lực chính trị.

Mỗi kỷ nguyên trong lịch sử Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc nên được khám phá một cách trọn vẹn và đầy đủ để chúng ta có thể giải phóng được những tiềm năng đa dạng của các truyền thống này. Nhưng điều đáng buồn là hầu hết mọi người đều nhìn nhận Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc truyền thống chỉ từ khía cạnh văn hóa trong giai đoạn cuối thế kỷ 19.

Dưới đây là một vài chủ đề mà cuộc đối thoại giữa Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc có thể cùng nhau khám phá trong một chuỗi các cuộc gặp gỡ tập trung. Nếu những cuộc thảo luận này thành công, nhóm chủ trì có thể tìm ra một nền tảng chung và phát động một thời kỳ phục hưng văn hóa mới.

Quản trị

Nhóm dự án nên nghiên cứu một cách cẩn trọng các tư liệu lịch sử và các tác phẩm kinh điển của các triết gia chính trị để xác định cách thức tổ chức nhân sự và phương thức cai trị của các chính quyền qua mỗi triều đại, và để tìm hiểu mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương. Những giải pháp nào đã được từng triều đại đưa ra để tránh những xung đột lợi ích và tham nhũng, để đảm bảo nhà nước được quản trị dựa trên chế độ trọng dụng nhân tài, để tuyển dụng và giữ chân được những người thực sự có năng lực và đạo đức trong hệ thống chính quyền, và để duy trì sự cân bằng quyền lực qua nhiều thế kỷ?

Sự minh bạch đã được khuyến khích ra sao và tư tưởng bè phái trong chính quyền đã được ngăn chặn như thế nào? Những hạn chế của thẩm quyền chính phủ trong mỗi triều đại là gì và những cơ chế nào đã được áp dụng để tránh sự lạm dụng quyền lực và sự tập trung của cải? Một nghiên cứu cẩn trọng sẽ mang lại cho chúng ta nhiều cảm hứng phục vụ cho những sự cải cách trong thời đại hiện nay.

Ngoại giao và an ninh

Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc có những truyền thống ngoại giao đặc sắc, thể hiện nhiều ví dụ tiêu biểu về cách thức mà châu Á có thể duy trì được hòa bình trong tương lai. Chúng ta có thể học được rất nhiều từ những ví dụ trong quá khứ về những gì chúng ta nên hoặc không nên làm để có thể đạt được sự hội nhập lâu dài và hiệu quả và để xây dựng nên các thể chế mới có khả năng tồn tại lâu dài. Mỗi triều đại, cho dù đó là nhà Chu hay nhà Hán ở Trung Quốc, Bách Tế (Baekjae) và Tân La (Silla) ở Hàn Quốc, hay Lê và Nguyễn ở Việt Nam, đều cung cấp chúng ta những kinh nghiệm về một lịch sử phức tạp và tinh vi về chính sách ngoại giao và an ninh. Những kinh nghiệm này là vô giá đối với người dân châu Á khi chúng ta đang xác lập một giai đoạn mới trong bối cảnh sụp đổ thể chế của phương Tây.

Lĩnh vực an ninh cũng vậy. Theo một cách truyền thống, châu Á có khái niệm an ninh rộng lớn hơn nhiều so với việc coi an ninh chỉ là các vấn đề về hệ thống các loại vũ khí. Đối với người châu Á, an ninh bao gồm cả những vấn đề về thực phẩm, môi trường, tập quán và văn hóa. Trọng tâm của lĩnh vực này đặt vào các vấn đề dài hạn chứ không phải chỉ là những hành động quân sự chính xác.

Kinh tế

Các nhà sử học và nhà hoạch định chính sách nên thảo luận với nhau về cách thức mà mỗi triều đại ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã xây dựng và triển khai các kế hoạch kinh tế để hướng tới sự phát triển lâu dài của lĩnh vực này. Sự đa dạng sâu sắc của các mô hình kinh tế trong lịch sử Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản, mà chỉ riêng các nhà sử học mới xem xét một vài trong số đó, có thể đề xuất những cách tiếp cận độc đáo cho việc quản lý và phát triển một nền kinh tế hữu ích cho thời đại chúng ta, đặc biệt là khi chúng ta buộc phải phát triển một cách tiếp cận bền vững có nhiều sự tương đồng với phương thức đã được các triều đại trong quá khứ áp dụng. Giả thiết cho rằng mô hình tiêu dùng và tăng trưởng của phương Tây chính là tương lai của nhân loại đã được chứng minh là một sai lầm rõ rệt.

Cách tiếp cận có tính lý thuyết đối với "kinh tế" trong lịch sử tri thức của Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản có thể mang tới sự đa dạng mới cho chính sách kinh tế, và qua đó, giúp chúng ta vượt qua khỏi sự dựa dẫm đơn giản vào lãi suất. Ví dụ, lý thuyết kinh tế của Nho giáo có thể đề xuất một cách thức thứ ba với vai trò quan trọng của chính quyền trong việc dẫn dắt nền kinh tế, nhưng quy mô của chính quyền lại rất nhỏ bé. Chúng ta có thể có những cách tiếp cận tiềm năng để tránh cả nền kinh tế xã hội chủ nghĩa nặng nề được kế hoạch hóa toàn bộ lẫn cơn ác mộng của thị trường được thúc đẩy bởi chủ nghĩa tiêu dùng. Sự nhấn mạnh vào các mệnh lệnh đạo đức trong kinh doanh và sự khuyến khích tính căn cơ cá nhân từ các nền kinh tế truyền thống có thể khá hữu ích trong thời đại khó khăn của chúng ta.

Sự xem xét thận trọng về các chiến lược kinh tế dài hạn được xây dựng và thực thi trong các thời đại trước đây có thể cung cấp cho chúng ta những hiểu biết đáng kể về cách chúng ta sẽ phát triển trong tương lai. Chúng ta sẽ buộc phải đưa ra cho mình các thước đo về “tăng trưởng” và “tiêu thụ” trong một tương lai gần như là kết quả của những nguy cơ về biến đổi khí hậu và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta có thể tìm kiếm những hướng tiếp cận thay thế trong truyền thống tiền hiện đại vốn là thứ mà chúng ta đang cực kỳ cần đến.

Không còn nghi ngờ gì, thứ mà chúng ta biết chính là, sự tập trung vào những chuyển đổi ngắn hạn trên thị trường và lĩnh vực thương mại trong chính sách kinh tế hiện nay đã làm suy yếu một cách nhanh chóng khả năng có thể thiết lập và thực thi những kế hoạch dài hạn của ba nước như họ vốn đã làm trong những thời kỳ truyền thống.

Các chiến lược mà chính quyền của các triều đại trong quá khứ ở ba nước đã vận dụng có thể cung cấp các phương pháp tiếp cận khác cho một nền kinh tế coi trọng sự hợp tác và hài hoà chứ không phải là nỗi ám ảnh về sự cạnh tranh. Tôi nhắc đến điều này để nhấn mạnh rằng, truyền thống kinh tế trong quá khứ của ba nước gợi mở về những cách tiếp cận kinh tế có thể được vận dụng với trọng tâm đặt vào con người chứ không phải vào cổ phiếu, trái phiếu hay các sản phẩm phái sinh.

Hơn nữa, khi chúng ta đang phải đấu tranh nhằm đương đầu với những khuynh hướng nguy hiểm về bất bình đẳng xã hội hay chủ nghĩa tiêu dùng phô trương, chúng ta có thể học được nhiều điều từ các triều đại đã qua trong việc đối mặt với những thách thức này, bao gồm cả việc đặt ra các giới hạn cho hiện tượng tiêu dùng phô trương.

Tính bền vững

Tính bền vững là vấn đề lớn nhất đối với Đông Bắc Á ngày nay và chúng ta cần nhanh chóng phát triển các xã hội phức hợp trong đó các nguồn lực tài nguyên được giữ gìn và không quá phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch để phát triển kinh tế. Chúng ta có nhiều mô hình quản trị như vậy trong quy hoạch đô thị, giao thông và các chính sách khác ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc truyền thống. Chúng ta có thể tìm thấy các ví dụ cụ thể về cách thức mà các chính quyền đã khuyến khích sự tiết kiệm, thúc đẩy bảo vệ môi trường, nâng cao sự giàu có về đạo đức và văn hoá trong khi duy trì một nền kinh tế vừa đủ cho người dân. Thậm chí, ngay cả hệ thống kênh đào cũng đáng để chúng ta nhìn nhận lại một cách nghiêm túc bởi hệ thống này không hề sử dụng một chút nhiên liệu hóa thạch nào.

Tương tự, một nghiên cứu về các chính sách nông nghiệp hiệu quả từ các triều đại trong quá khứ có thể đề xuất các sáng kiến khuyến khích canh tác hữu cơ bền vững, một lĩnh vực mà chúng ta nên xem xét áp dụng trong thời đại hôm nay. Chúng ta có thể học hỏi từ quá khứ các phương thức để thúc đẩy canh tác địa phương đồng thời tạo ra các cộng đồng bền vững có khả năng cung cấp việc làm mới trong nông nghiệp.

Khôi phục nông nghiệp truyền thống, trên cơ sở áp dụng những thành quả khoa học hiện đại, là cách nhanh nhất để thiết lập một thời đại carbon trung tính cho châu Á. Chúng ta thậm chí có thể ngừng việc trộn phân người với nước tinh khiết và sau đó lại xả nó vào đại dương; thay vào đó, chúng ta có thể sử dụng lượng phân đó như là một nguồn phân bón tự nhiên như chúng ta đã từng làm trong quá khứ. Bằng cách này, chúng ta sẽ thoát khỏi sự phụ thuộc vào phân bón nhân tạo nhập khẩu. Việc quay trở lại với công nghệ truyền thống này có thể mang lại những điều kỳ diệu cho môi trường.

Sự hồi sinh của mô hình phát triển bền vững của châu Á như trên là cách nhanh nhất để thoát khỏi sự phụ thuộc vào dầu mỏ trong nông nghiệp và chấm dứt sự phụ thuộc nguy hiểm vào thực phẩm nhập khẩu. Trên tất cả, chúng ta phải nhận ra rằng, sự tập trung của châu Á vào nông nghiệp trong nền kinh tế không hề mang tính phản tiến bộ, mà ngược lại, đó thực sự là một lựa chọn khôn ngoan và rất thiết thực.

Giáo dục

Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản có một truyền thống đa dạng về giáo dục và học thuật từ hàng ngàn năm trước, và truyền thống này có liên quan rất lớn đến thời đại ngày nay. Mặc dù chúng ta đã và đang giả định rằng, các trường đại học châu Âu ở thế kỷ 19 là cách tiếp cận khả thi duy nhất đối với giáo dục hiện đại trong thế kỷ qua, nhưng lý do thực sự cho suy nghĩ này hoàn toàn không tồn tại. Đông Á có truyền thống lâu đời với các viện hàn lâm đặt trọng tâm bền vững vào hành động đạo đức và coi sự gắn bó mang tính đạo đức giữa giáo viên và học sinh là yếu tố trung tâm. Ý niệm coi dạy học như một hành động xã hội được dẫn dắt bởi cam kết đạo đức cung cấp một giải pháp thay thế thiết thực cho một hệ thống giáo dục thương mại hóa đã và đang chiếm lĩnh thế giới.

Giáo dục Nho giáo truyền thống đưa ra những gợi ý đặc biệt có giá trị cho chức năng của giáo dục. Ví dụ, việc nhấn mạnh lịch sử, xem xét các ví dụ trước đây về hệ thống chính quyền, nền kinh tế và chính trị của con người như một phương tiện để đưa ra các giải pháp mới sáng tạo cho các vấn đề đương đại hoàn toàn thiếu vắng trong giáo dục hiện đại. Sự thiếu hụt này làm cho chúng ta không nhận ra vị trí của mình trong tiến trình lịch sử dài hơn lẫn những thực hành tốt nhất từ quá khứ có thể hữu ích cho ngày hôm nay.

Điểm yếu của truyền thống giáo dục Nho giáo truyền thống chính là việc nó chủ yếu hướng tới nam giới chứ không phải là phụ nữ. Tuy vậy, chúng ta có thể thay đổi truyền thống này và đưa phụ nữ trở thành trung tâm của dự án này.

Các cách tiếp cận của Đạo giáo và Phật giáo đối với giáo dục cũng chứa đựng những tiềm năng to lớn cho quá trình đổi mới và tăng cường hiểu biết.

Gia đình

Mặc dù chúng ta sẽ mắc sai lầm nếu cứ khăng khăng cho rằng, những giá trị trong quá khứ của Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản là tốt hơn so với những giá trị ở thời hiện tại, tuy vậy, chúng ta không cần phải nhìn đâu xa ngoài tỉ lệ tử tự, sự lan tràn của bệnh trầm cảm và việc thiếu động lực của giới trẻ để nhận ra rằng, trong gia đình hiện nay đang tồn tại đầy rẫy vấn đề sâu xa.

Chúng ta đã đánh mất rất nhiều do xa rời khỏi truyền thống vốn coi trọng các mối quan hệ gia đình được xây dựng dựa trên nền tảng của sự tôn trọng. Chúng ta cũng mất đi sự quan tâm thực sự dành cho người khác trong cộng đồng, và kết quả là, xã hội của chúng ta đang ngày càng xuống cấp. Việc xem xét lại những tập quán và giá trị trong truyền thống Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo có thể cung cấp cho chúng ta những mô hình có giá trị về cách thức xây dựng các mối liên kết gần gũi hơn giữa các thành viên trong gia đình và khuyến khích sự hợp tác và tương trợ trong cộng đồng. Một thảo luận nghiêm túc giữa Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản về chủ đề này có thể cực kỳ hiệu quả đối với từng nước và khẳng định một nền tảng chung.

Đời sống tâm linh và cuộc sống giàu ý nghĩa

Chúng ta có thể học được rất nhiều thứ từ các truyền thống Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo về cách thức làm cho các trải nghiệm của chúng ta trở nên sâu sắc hơn có giàu ý nghĩa hơn. Những học thuyết này dẫn dắt chúng ta tìm kiếm sự thanh thản trong nội tâm và vượt ra khỏi văn hóa tiêu dùng khô khan và nông cạn. Sự chuyển đổi này có thể tạo ra những tiềm năng to lớn trong xã hội hiện đại mà không hề cần tới những khoản chi phí về tiền bạc.

Thuyết phong thủy, truyền thống trọng xỉ và tôn thờ tổ tiên, sự quan tâm, ý thức và sự kết hợp giữa tâm linh và đạo đức được đề cao trong Nho giáo của Chu Hi cung cấp cho chúng ta những giải pháp thay thế đang rất cần thiết đối với xã hội hiện đại vô cùng tẻ nhạt của chúng ta.

Điều quý giá nhất của truyền thống tâm linh châu Á không nhất thiết phải là vấn đề tôn giáo, thay vào đó, chúng ta đang đề xuất một ý thức về các khía cạnh vô hình và sâu xa của trải nghiệm nhân văn mang tới sự trang trọng cho cuộc sống, thứ mà chúng ta không thể có được từ chủ nghĩa tiêu dùng vô nghĩa của Starbucks.

Việc khám phá lại các truyền thống triết học của quá khứ có thể giải phóng chúng ta khỏi hòn đá nặng nề đã và đang tròng vào cổ của chúng ta trong xã hội hiện đại: nỗi ám ảnh với những dấu hiệu hữu hình của uy thế vật chất. Bằng cách quay lại để tìm kiếm những chân lý cốt yếu chứ không phải là những hình ảnh, tìm kiếm những giá trị chứ không phải là những tiêu chuẩn, chúng ta có thể khám phá lại những khía cạnh của đời sống với giá trị lớn nhất: sự chính trực, lòng trắc ẩn và sự tôn trọng. Tất cả những trải nghiệm này đều vô hình và không thể đong đếm được. Nếu người dân Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc trong quá khứ có thể cảm thấy toại nguyện với việc ngồi cả ngày để đọc sách và viết trong những thư phòng nhỏ, điều này là do việc theo đuổi tri thức và tâm linh được xem trọng hơn các khía cạnh vật chất của đời sống.

Kết luận

Những gợi ý được đưa ra trên đây về những nghiên cứu có thể được thực hiện nhằm khám phá tiềm năng của truyền thống văn hóa trong quá khứ của Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản chỉ là những vấn đề trên bề mặt. Tiềm năng mà chúng ta có vốn to lớn hơn rất nhiều và trong lịch sử chưa từng có bất cứ nỗ lực nào nhằm so sánh những tinh hoa của ba nền văn hóa này ở quy mô lớn.

Điểm quan trọng chính là việc chúng ta bắt đầu một đối thoại với sự nghiêm túc và chúng ta đảm bảo sự kiện này sẽ không phải là một lễ hội hóa trang hay một cuộc thi hoa hậu. Nếu chúng ta bắt đầu một hội thoại sâu sắc hơn về chiều sâu của văn hóa và thể chế của ba quốc gia, chúng ta có thể bắt đầu một bước chuyển căn bản trong cách thức mà chúng ta nhận thức bản thân mình. Bước đầu tiên chính là thảo luận về mức độ nghiêm túc cao nhất giữa những người bình đẳng với nhau. 🤗

(Toàn văn bài trình bày 25/4/2019 tại Viện Văn hoá Nghệ thuật Quốc gia, 32 Hào Nam, Hà Nội)