Thứ Hai, 27 tháng 1, 2020

VỀ THUYẾT TIỀN SỬ NGƯỜI VIỆT CỦA GIÁO SƯ TRẦN QUỐC VƯỢNG



                                                                                           HÀ ĐỒNG TIẾN
 
                                         Hiện vật khảo cổ văn hóa Hòa Bình - Ảnh internet
     Giáo trình Lịch sử Việt Nam tập I, nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2012, do giáo sư Phan Huy Lê chủ biên, giáo sư Trần Quốc Vượng viết chương I: Thời Tiền sử trên lãnh thổ Việt Nam. Trong ba trang 19, 20, 21, tác giả dẫn tài liệu mang tính “giáo khoa thư” của thế giới về lịch sử hình thành loài người theo học thuyết Darwin. Tiếp đó ông trình bày quá trình tiến hóa của người vượn ở Đông Nam Á bắt đầu bằng Eugene Dubois năm 1887, tại Sumatra đến Franz Weidenreich năm 1937 với người Bắc Kinh. Là người theo thuyết đa vùng của nguồn gốc loài người (Multiregional hypothesis), ông thừa nhận: “Đối với châu Á, Homo erectus Chu Khẩu Điếm, được coi là cội nguồn của đại chủng Mongoloid, còn Homo erectus Java thì tiến hóa qua dạng người Ngandong để trở thành Australoid. Sau đó loại hình Mongoloid dần dần đẩy lùi người Australoid ở Đông Nam Á. Còn ở châu Âu thì Homo erectus phát triển qua người Neanderthal để trở thành tổ tiên của người châu Âu hiện đại.”  Kết thúc phần này, ông viết: “Trong những năm gần đây, các nhà sinh học phân tử đã sử dụng phương pháp nghiên cứu DNA trong đó loại gen di truyền sinh học xác định sự biến đổi của DNA với một tốc độ không đổi, tạo ra một loại “đồng hồ phân tử”… Với phương pháp này, các nhà nghiên cứu kết luận rằng tất cả các con người hiện đại đều sinh ra từ một tổ tiên chung ở châu Phi, trong khoảng 200.000 năm trước. Tuy nhiên, tư liệu hóa thạch người dường như lại không ủng hộ cho quan điểm một trung tâm phát sinh người duy nhất này.”
     Về Người vượn trên đất Việt Nam, tác giả cho rằng: “Người vượn đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng nửa triệu năm cách ngày nay. Chúng ta có thể xem đây cũng là thời điểm mở đầu cho lịch sử Việt Nam… Cho đến nay vẫn chưa tìm thấy công cụ lao động của người vượn Thẩm Khuyên. Trong một số di tích được xem là niên đại sơ kỳ đá cũ Việt Nam lại không có tài liệu địa tầng, không có di cốt người và động vật. Tuy nhiên vẫn có ý kiến muốn liên hệ chúng với di tích người vượn Thẩm Khuyên và xem đó là giai đoạn “thái cổ” ở Việt Nam, tương đương với người vượn Bắc Kinh (Sinanthropus pekinensis) và người vượn Java (Pitecanthropus).”
“Lịch sử tiến hóa liên tục từ người vượn đến người khôn ngoan (Homo sapiens) giai đoạn sớm và sau đó là người khôn ngoan giai đoạn muộn tại Việt Nam, còn được phát hiện ở các địa danh Thẩm Ồm (Nghệ An) và Hang Hùm (Yên Bái). Những người khai quật Thẩm Ồm định niên đại cho các hóa thạch phát hiện ở đây là từ 140.000 đến 250.000 năm cách nay (trang 28).”
Ba trang sách toát lên ba điều:
1. Đó là lối viết của bài nghiên cứu mà không phải bút pháp dùng cho sách sử. Đối với sử gia, mọi bàn luận chỉ diễn ra bên ngoài còn trong tác phẩm phải là những kết luận xác thực.
2. Một phong cách tư biện chủ quan không dựa trên cơ sở khoa học: “chưa tìm thấy công cụ lao động, không có tài liệu địa tầng, không có di cốt người và động vật” mà tác giả vẫn suy đoán chúng thuộc người vượn Thẩm Khuyên rồi đưa vào giáo trình giảng dạy đại học, có thể coi như chính sử!
3. Tài liệu tác giả dẫn ra quá cũ, lạc hậu so với thực tế khoa học. Đúng là giai đoạn đầu nghiên cứu nguồn gốc loài người, khoa học đã đi qua những bước như vậy. Tuy nhiên, đến những năm70 của thế kỷ XX khảo cổ học đã phát hiện sự thật khác. Đó là, 250.000 năm trước, người đứng thẳng Homo erectus đã tuyệt diệt trên đất liền châu Á. Cốt sọ Ngandong 200.000 năm tuổi là dấu vết cuối cùng của người đứng thẳng trên các đảo Đông Nam Á(1). Trong khi đó, những cốt sọ người hiện đại Homo sapiens xuất hiện rất muộn: tại hang Niah 39.000 năm và xưa nhất là bộ xương người tại Lưu Giang (Quảng Tây) 68.000 tuổi! Như vậy, trên địa bàn châu Á, người đứng thẳng cuối cùng sống cách Người hiện đại đầu tiên hơn 130 năm, khiến cho ít nhất hơn trăm năm châu Á vắng bóng người! Thực tế này đã phủ nhận việc người đứng thẳng Homo erectus chuyển hóa thành người hiện đại homo sapiens trên đất châu Á. Đó chính là chiếc đinh đầu tiên đóng xuống quan tài thuyết đa vùng của nguồn gốc loài người.
Tuy nhiên, sự việc chưa dừng ở đấy. Ngày 29 tháng Chín năm 1998, sau nhiều năm làm việc với dự án Đa dạng di truyền dân cư Trung Quốc, bằng tài trợ của quỹ phát triển khoa học tự nhiên Trung Quốc, Y.J. Chu Đại học Texas và cộng sự công bố trên Kỷ yếu viện hàn lâm quốc gia Hoa Kỳ (PNAS) có thông tin gây chấn động: “Người hiện đại Homo sapiens xuất hiện đầu tiên ở châu Phi 160-180.000 năm trước và 70.000 năm trước theo ven biển Ấn Độ Dương tới Việt Nam.”(2) Sang đầu thế kỷ XXI, Spencer Wells của Hội địa lý quốc gia Hoa Kỳ(3)rồi Stephen Oppenheimer của đại học Oxford (4) đã công bố những nghiên cứu không chỉ ủng hộ kết luận của Y.J. Chu mà còn cụ thể, xác thực hơn, khẳng định nguồn gốc châu Phi của loài người. Cũng thời gian này, nghiên cứu di truyền học xác nhận, trong bộ gen con người ngày nay, chỉ có từ 1 đến 2% gen của người đứng thẳng. Điều này chứng tỏ, người đứng thẳng chỉ là họ hàng xa mà không phải tổ tiên chúng ta. Hệ quả tất nhiên là: không có chuyện chuyển hóa từ loài Homo erectus sang Homo sapiens! Những khám phá trên là những cái đinh cuối cùng đóng xuống quan tài thuyết nhiều vùng. Tiếc rằng do không cập nhật thông tin, tới năm 2005, trong công văn phản đối, tiến sĩ Marc Oxenham của đại học quốc gia Úc cho rằng: “nông nghiệp được đưa từ phía bắc xuống,” và giáo sư Trần Quốc Vượng vẫn khẳng định: “Việt Nam ủng hộ thuyết nhiều vùng.”(5)
     Trong khi đó, tiếp cận những thông tin về cuộc di cư của người châu Phi tới Việt Nam, năm 2001, giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, tiến sỹ Nguyễn Đức Hiệp và luật sư Cung Đình Thanh đã công bố những nghiên cứu đầu tiên về đề tài đề tài này, trên tạp chí Tư tưởng ở Australia. Đầu năm 2005, kết hợp thông tin từ công trình của Y.J. Chu và nhiều tư liệu khác, Hà Văn Thùy viết và công bố trên BBC tiếng Việt chuyên luận Tìm lại cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hóa. Liên tiếp sau đó, cuốn sách Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt (Nxb.Văn học, H, 2006), Hành trình tìm lại cội nguồn (Nxb. Văn học, H, 2008), Tìm cội nguồn qua di truyền học (Nxb. Văn học, H, 2011)… những công trình chuyên khảo đó đều cho thấy: 70.000 năm trước, người Homo sapiens đã di cư từ châu Phi tới Việt Nam, từ những chứng cứ vững chắc của di truyền và di vật khảo cổ học. Sau khi tăng nhân số, người từ Việt Nam đi ra chiếm lĩnh thế giới, làm nên phần lớn các thành phần tộc người của nhân loại. Người Việt đi lên Hoa lục, làm nên dân cư và văn hoá Trung Quốc. Tiếng Việt là chủ thể là cội nguồn của tiếng nói Trung Hoa. Chữ Việt là chủ thể làm nên chữ viết Trung Hoa… Điều này khẳng định: lịch sử Việt Nam được bắt đầu từ 70.000 năm trước!
    Tiếc rằng giáo sư Vượng qua đời hơi sớm nên không được biết tới lịch sử vĩ đại của dòng giống mình. Nhưng không hiểu tại sao, cộng sự của giáo sư không chỉ cho in những trang sách quá đát của ông vào năm 2012 mà thậm chí tới năm 2017, giáo sư Phan Huy Lê còn cả quyết: “Thời tiền sử của người Việt Nam kéo dài tới 800.000 năm trước!” (6) Dù là thuyết một vùng hay nhiều vùng thì đó cũng là của phương Tây. Việc gì phải “kiên định giữ gìn” để đến nỗi “bảo hoàng hơn vua?!” Một tiểu tiết nhưng không thể không nói vì nó bộc lộ sự thiếu chuẩn mực tri thức. Trong sách của mình, giáo sư Vượng gọi Homo erectus là Người đi thẳng! Nhân học thế giới không hề có thuật ngữ vô nghĩa như vậy! Liệu có Người đi ngang không? Nhân học gọi Homo erectus là người đứng thẳng (standing upright man), là người đi bằng hai chân, để phân biệt với những hominin đi bốn chân. Tiếc rằng sai lầm đó lại được sao chép tràn lan trong nhiều bộ sách sử Việt Nam, khiến học thuật Việt Nam lạc lõng trước thế giới!
     Tôi tự hỏi, vì sao vị giáo sư mà mình kính trọng lại có những lầm lẫn đáng tiếc như vậy?  Phải chăng, ngoài việc thiếu tri thức cơ bản về sinh học còn nguyên nhân quan trọng khác là sự chủ quan kiêu ngạo? Khi nghe thế giới nói người Homo sapiens xuất hiện 200.000 năm trước ở châu Phi, đáng lẽ phải tìm mọi cách để kiểm chứng thông tin mới, thì ông lại tự bằng lòng vì lý do quá ư tư biện: “Tuy nhiên, tư liệu hóa thạch người dường như lại không ủng hộ cho quan điểm một trung tâm phát sinh người duy nhất này.” Người có kiến thức cơ bản về di truyền học sẽ không nói như vậy. Bởi lẽ, hồ sơ hóa thạch là chắp vá và không hoàn hảo. Số đo sọ (metric) chỉ thể hiện những tính trạng bên ngoài - phenotype. Còn gen phản ánh những yếu tố bên trong, thuộc về bản thể chủng loại - genotype. Vì vậy thông tin của gen là quyết định. Jared Diamond tác giả những cuốn sách lừng danh: Loài tinh tinh thứ ba; Súng, thép và vi trùng… cả quyết: “Những gì thuộc về con người mà không được di truyền học xác nhận đều không đáng tin.” Do chủ quan, bất cẩn, giáo sư Vượng dễ dàng và đơn giản bỏ qua khám phá mang tính cách mạng của thế giới, để tự giam mình trong tri thức đã bị thải loại. Sự bất cẩn của ông thầy đầu đàn dẫn giới sử học Việt Nam lạc đường. Không chỉ là nền tảng của cuốn sách này, “công trình” của Giáo sư Vượng còn đặt cơ sở cho tập 1, bộ sách 15 tập của Viện Sử học đã in lại lần 2; và cả bộ “cuốc sử” 35 tập đã và đanh nghiệm thu, sắp ra đời!
     Lịch sử là hoạt động xã hội của cộng đồng người trong quá khứ. Một khi nhận thức sai về chủ thể của lịch sử thì mọi sách lịch sử viết ra đều không có giá trị.
Với sự thật về người Việt được khám phá như vậy, cái gọi là Thời Tiền sử trên lãnh thổ Việt Nam do giáo sư Trần Quốc Vượng dựng lên đã sụp đổ. Trong lịch sử của mọi quốc gia, thời tiền sử là nền tảng. Một khi nền móng sụp đổ sẽ dẫn tới sự phá hủy cả một nền sử học chân chính!
                                                                    Sài Gòn, khai bút năm Canh Tý.

Tài liệu tham khảo:
1  .    Đó là thông tin từ thế kỷ XX. Nhưng tài liệu mới nhất vào tháng 12 năm 2019 cho thấy, tuổi của sọ Ngandong từ 117.000 tới 108.000 năm trước.
 “Tuổi của sọ Ngandong cũng cho thấy mạnh mẽ rằng Homo erectus có thể đã bị tuyệt chủng, ít nhất là ở Indonesia, rất lâu trước khi loài của chúng ta đến được nơi này. Các nhà thám hiểm Homo sapiens phiêu lưu nhất có lẽ ở đâu đó quanh Levant hoặc Bán đảo Ả Rập vào thời điểm đó và đã không đến được các hòn đảo ở Đông Nam Á cho đến khoảng 73.000 năm trước.”
. The last days of Homo erectus
https://arstechnica.com/science/2019/12/the-last-days-of-homo-erectus/
2   .Y.J. Chu et al. Genetic relationship of populations in China https://www.pnas.org/content/95/20/11763.short
3   .    Spencer Wells. The Journey of Man: A Genetic Odyssey ... - Amazon.com
https://www.amazon.com › Journey-Man-Genetic-Odyssey      
4 .Stephen Oppenheimer. THE PEOPLING OF THE WORLD - HUMANKIND'S GLOBAL MIGRATION.
 http://www.bradshawfoundation.com/stephenoppenheimer/index.php
5       BBC Vietnamese. https://www.bbc.com › story › 2005/03 › interviewweek112005
6.    Trang Thông tin của Ban Tuyên giáo Trung ương ngày 22.2 năm 2017 (http://www.tuyengiao.vn/Home/khoahoc/97096/Giao-su-Phan-Huy-Le-Nhan-thuc-ve-lich-su-can-toan-bo-va-toan-dien)






Thứ Ba, 14 tháng 1, 2020

ĐỊA NGỤC CHIM TRỜI




VŨ MỪNG

   .    GD&TĐ - Với dân nhậu, mỗi khi thèm một bữa thịt chim rừng là sẽ “mò” về chợ chim trời tại khu vực chân cầu vượt Sài Sơn, huyện Quốc Oai. Ở đây nhiều loài có tên trong sách đỏ cũng được bày bán công khai trong khi thiếu bóng dáng lực lượng chức năng!



                                                             Một góc chợ chim trời



Không giống như những khu chợ tự phát khác chỉ lưa thưa dăm ba lều hàng, ở đây cả một dãy đường biến thành chợ. Hàng chục con người lấy việc buôn bán động vật hoang dã làm kế sinh nhai, thả sức tràn ra đường chèo kéo người mua hàng. Lều hàng nào cũng tràn ngập chim ngói, cuốc hoa, cò, vạc thậm chí cả những loài quý hiếm như: Vịt trời, le le, sâm cầm… cũng bị nhốt hàng đàn. 

Sau lớp lưới thép, những con chim ngói chỉ to bằng nắm tay, trơ trụi lông cánh, ánh mắt thẫn thờ. Hàng chục con le le, què quặt, gãy cánh do dính bẫy. Thấy bóng người bầy chim trĩ hốt hoảng chạy tán loạn. Đến cả sâm cầm mào đỏ, thứ chim dùng để tiến vua khi xưa thì ở đây cũng tập trung hàng chục cá thể. Trong túi lưới, lũ chim ri, chim sẻ đứng túm tụm sợ sệt. Cuốc hoa từng mớ bị treo lủng lẳng. Khắp nơi những con vạc đồng bị trói chặt chân nằm im, bất động. Chúng chẳng đủ sức để kêu vì đã bị bỏ đói, bị nhốt trong lồng nhiều ngày.





Những con le le bị đánh bẫy rồi đem bán



Chưa hết, ở đây còn có cả giống diệc mỏ vàng, lông bạc lấp lánh, sải cánh dài tới hàng mét, được kẻ bán trưng ra ngay trước những sạp hàng. Nếu để ý một chút thì người qua đường cũng có thể nhận ra mắt của những con vạc đã bị kẻ bán dùng kim khâu chặt. Màng mắt từng con đều bị lộn ra ngoài. Hai chân bị buộc cứng, từng đôi diệc hoảng loạn vỗ cánh liên hồi. Đây cũng là cách mà kẻ bán dùng để thu hút mời chào khách qua đường.




Một con diệc đã bị khâu màng mắt



Lâu lâu, người bán lại cho lũ diệc ăn bằng cách banh mỏ rồi ấn từng con cá khô vào trong cổ họng. Con diệc vươn cổ dài ngoẵng, rướn diều cố nuốt. Cá chưa kịp xuống diều, đã bị từng đoạn dây sắt cuốn chặt vòng quanh mỏ. Máu từ cổ ứa ra, con diệc rũ cánh nằm bẹp, hai chân xõng xoài. Trong khi đó vừa làm, người bán vừa oang oang: “Như này thì chúng nó mới sống, thịt mới tươi”.

Ở đây từ những con nuôi bằng cám cò, cho tới giống hàng mà như lời người bán là “hàng xịn” đều đủ cả. Theo lời người bán thì mỗi con le le nặng chưa nổi nửa cân đã có giá 600.000 đồng. Chim ngói thì cứ đếm đầu tính giá sáu chục! Những con sâm cầm mào đỏ là diện quý hiếm thì lên tới hàng triệu.




                                                      Chim sâm cầm mào đỏ



Thời điểm PV có mặt, mặc cho người mua vật nài, kẻ bán nhất định không chịu “cắt tiết” một con vịt trời “hàng xịn” khi người mua không giao trước một triệu đồng. Hay như đôi diệc đang cố sức vùng vẫy kia cũng không được bán đi nếu người mua không trả đủ hai triệu. Cò kè thêm bớt vài chục ngàn đồng người bán cũng chẳng tiếp chuyện.





Con vịt trời tự nhiên có giá hơn 1 triệu đồng



Khi người mua đồng ý với giá người bán đưa ra, những con vật ở đây được làm thịt tại chỗ. Khi máu ở cổ con vật vẫn còn chảy ròng ròng cũng là lúc kẻ bán hả hê cầm tiền, người mua hí hửng vì có thứ hàng độc đặt trên bàn nhậu. Khắp nơi lông của những con vật xấu số được quăng vứt bừa bãi, mùi nội tạng tanh ngòm.





Người bán sẵn sàng giết mổ tại chỗ nếu khách có yêu cầu 

Nếu người mua có thắc mắc về nguồn gốc của món hàng mà mình vừa có được, đều chỉ nhận được câu trả lời chung chung cụt lủn rằng: “Đánh bẫy”! Đáng ngạc nhiên ở chỗ, nếu người mua muốn mua số lượng lớn, kể cả là loài sâm cầm quý giá nằm trong diện bảo tồn hay những con chim trĩ có trong sách đỏ thì người bán đều nói chắc nịch: “Thích bao nhiêu hàng cũng có, to nhỏ, béo gầy đủ cả”. “Nếu cần lấy số lượng chỉ cần Alo trước 2 hôm thôi là đủ hàng”.
.






                                              Chim trĩ được bày bán hàng đàn



Có một sự thật trớ trêu là, ở đây người bán không sợ cơ quan chức năng, cũng chẳng sợ người qua đường phản ứng mà là sợ món hàng mình đang nhốt sẽ chết bất thình lình! Vừa đếm tiền, chủ của một lều hàng cuối chợ vừa cười hềnh hệch: “Như thế thì lỗ vốn mà có thịt thì chả đủ vài cái gắp!”



Mới đây, bài học về sự mất tích gần 30 năm của loài cheo cheo lưng bạc đã gióng lên hồi chuông cảnh bảo về nạn săn bắt động vật hoang dã trái phép. Và nếu không có biện pháp can thiệp hay bảo vệ kịp thời thì ở một tương lai gần, những loài được bày bán ở chân cầu vượt Sài Sơn kia rồi cũng sẽ biến mất. Đừng để con đường dẫn vào Thủ đô lại là địa ngục đối với những loài chim trời.


Vũ Mừng
_________________

Chau Doan
·

Ngang nhiên đánh bẫy, hành hạ, bán chim tự nhiên mà cơ quan chức năng bảo vệ môi trường như bị câm điếc không xử lý. Ấy thế mà có việc gì là bắt nạt dân lành là nhanh.

Tôi kêo gọi báo chí, công luận quan tâm đến việc này nếu không con cháu chúng ta sẽ sống trong một đất nước nghèo nàn, cạn kiệt về sinh thái, môi trường.

Tôi yêu cầu những cơ quan chức năng phải ngăn chặn những việc này lại. Cứ ăn không thuế của dân rồi thành một lũ ăn hại là sao?
Cán bộ đi tham quan nước ngoài nhiều mà không học được điều gì tốt đẹp về áp dụng cho đất nước.

Chim trời thì cứ thờ ơ
Chim quần cưng nứng cho ăn hàng ngày
Cán bộ có mắt như mù
Ngang tai trái mắt cứ lờ như không


Thêm câu thơ để bọn DLV không chê là mình chửi thiếu văn hoá.

TỄU 1/12/2019

Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2020

HỘI THẢO KHOA HỌC ĐỀN HẠNH LÂM XÃ HIỂN KHÁNH VÀ CÁC DI TÍCH THỜI HÙNG VƯƠNG TRÊN ĐẤT VỤ BẢN



   Sáng ngày 14 tháng 11 năm 2019 Trung tâm nghiên cứu văn hóa Minh Triết, thuộc Hội liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam, phối hợp với huyện ủy, UBND huyện Vụ Bản, tổ chức hội thảo khoa học Đền Hạnh Lâm xã Hiển Khánh và các di tích thời Hùng Vương trên đất Vụ Bản, tại trụ sở UBND xã Hiển Khánh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
    Dự hội thảo có đồng chí Nguyễn Văn An - Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội tổ chức Việt Nam; đồng chí Đỗ Xuân Tú - Phó Bí thư Thường trực huyện ủy; đồng chí Đỗ Văn Kỳ - Ủy viên ban thường vụ huyện ủy, phó chủ tịch UBND huyện; các đại biểu đại diện cục Di sản văn hóa thuộc bộ VH-TT&DL, đại diện một số cơ quan của sở VH-TT&DL, lãnh đạo một số cơ quan, ban ngành, đoàn thể của huyện; lãnh đạo các xã trong huyện, cùng đông đảo các nhà nghiên cứu, đại diện Ban chấp hành dòng họ Trần và một số ban quản lý di tích thời Hùng Vương trên địa bàn huyện.
 
                                                                         Đoàn chủ tịch hội thảo


                                                                          Các đại biểu dự hội thảo

   Trong diễn văn khai mạc Hội thảo, đồng chí Đỗ Văn Kỳ - Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Phó Chủ tịch UBND huyện đã khẳng định tầm quan trọng của hội thảo này nhằm làm rõ hơn về di tích Đền Hạnh Lâm xã Hiển Khánh – nơi thờ hai vị Thiên tử Minh Gia và Minh Tôn thời Hùng Vương thứ VI cũng như các di tích, di sản văn hóa thời Hùng Vương trên vùng đất Thiên Bản xưa, Vụ Bản ngày nay; từ đó khẳng định bề dày truyền thống văn hóa của huyện Vụ Bản và định hướng cho công tác bảo tồn, tôn tạo, phát huy các di tích văn hóa trên địa bàn huyện.
   Tại hội thảo khoa học Đền Hạnh Lâm xã Hiển Khánh và các di tích thời Hùng Vương trên đất Vụ Bản các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa đã trình bày nhiều tham luận về nghiên cứu về di tích lịch sử Đền Hạnh Lâm, lịch sử các địa danh huyện Vụ Bản, về trống đồng núi Gôi, các truyền thuyết và thần tích thời đại Hùng Vương trên địa bàn huyện…




                                       Tác giả Trương Sỹ Hùng đọc tham luận 



  Thôngqua các tham luận tại hội thảo đã khẳng định Vụ Bản là mảnh đất địa linh nhân kiệt, là vùng đất có lịch sử văn hóa lâu đời, bắt nguồn từ thời Hùng Vương với tên gọi là huyện Bình Chương thuộc Bộ Lục Hải, nhà Hán đô hộ thuộc Quận Giao Chỉ, tiếp đó đổi tên là huyện Thiên Bản và đến thời Nguyễn đổi thành huyện Vụ Bản như ngày nay. Trên địa bàn huyện có tới 75 đền miếu thờ hơn 40 vị thần và nhiều di vật, di sản văn hóa thời Hùng Vương dựng nước, tiêu biểu là Đền Hạnh Lâm của xã Hiển Khánh thờ hai vị tộc Trần có công cùng Phù Đổng Thiên vương đánh giặc giữ nước













                                         

                                   Tác giả Trịnh Sinh đọc tham luận 





                                       Tác giả Bùi Văn Tam đọc tham luận 



                      Tác giả Trần Thị Băng Thanh đọc tham luận 

        Theo đánh giá của Ban tổ chức, Hội thảo khoa học “Đền Hạnh Lâm xã Hiển Khánh và các di tích thời Hùng Vương trên đất Vụ Bản” đã quy tụ được nhiều nhà nghiên cứu từ Trung ương đến địa phương với nhiều bản tham luận có ý nghĩa cao về mặt khoa học, lịch sử. Đây là cơ sở để các cơ quan chức năng của tỉnh và huyện Vụ Bản tiếp tục nghiên cứu, khảo sát và xây dựng kế hoạch trùng tu, tôn tạo, gìn giữ và phát huy các di tích, di sản quý giá thời Hùng Vương trên địa bàn huyện nói chung và di tích Đền Hạnh Lâm xã Hiển Khánh nói riêng, hướng tới công nhận đây là một di tích lịch sử văn hóa của quê hương.


                                    Quốc Huy Trung tâm Văn hóa – Thông tin và Thể thao Vụ Bản


Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2019

THÊM MỘT CUỐN SÁCH VỀ THĂNG LONG HÀ NỘI


LÊ HỒNG LÝ

 


Có một hình ảnh mà tất cả hội viên Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội thường thấy, đó là mỗi khi có dịp hội họp, sinh hoạt  hay đi thực tế địa phương tại các di sản văn hóa hay các vùng đất ngoài Hà Nội, nhà nghiên cứu Hồ Sĩ Tá luôn hăng hái, say sưa tìm hiểu, phỏng vấn, ghi chép, chụp ảnh những di tích,những hoạt động trình diễn dân gian hay tất cả các hiện tượng văn hóa đang diễn ra tại đó. Với dáng cao to, nhìn có vẻ hơi chậm chạp, song sự năng động, tích cực và hăng hái của anh thì mọi người đều phải nể phục.

Sinh ra trong một gia đình truyền thống cách mạng, một dòng họ nổi tiếng bậc nhất trong các dòng họ khoa bảng ở Việt Nam, dòng họ Hồ Quỳnh Đôi, Nghệ An, song anh lại gắn bó lâu năm với Hà Nội. Anh chưa bao giờ tỏ ra là người dựa dẫm vào danh tiếng của dòng họ và gia đình để thể hiện mình, mà luôn luôn khiêm nhường và chân thành hết mực. Một điều đáng quý hơn là nghề nghiên cứu và viết báo của anh hoàn toàn là nghề tay trái, bởi vì xuất thân anh làm nghề thợ tiện thuộc nhà máy Cơ khí trung quy mô Hà Nội, sau đó chuyển sang Công ty xe đạp Vi Ha.

Từ đây anh phấn đấu vào học đại học Bách Khoa Hà Nội– khoa Cơ khí chế tạo máy rồi trở lại nhà máy cũ làm kỹ sư phòng kỹ thuật, Công ty xe đạp Vi Ha. Thời khói lửa của cuộc chiến tranh ở cả hai biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ Quốc, với truyền thống của một gia đình cách mạng, anh nhập ngũ tham gia đóng góp cho quân đội bảo vệ đất nước. Trong quân đội anh đã được phong đến cấp trung úy, đai đội phó đại đội kỹ thuật - D26 thuộc phòng kỹ thuật, sư 312, quân đoàn I, quân đội nhân dân Việt Nam. Khi tiếng súng tạm thời lắng xuống, năm 1982 anh lại trở về nhà máy cũ của mình là công ty xe đạp Vi Ha. Ít ai có thể ngờ rằng, một người con trưởng trong một gia đình cách mạng của một dòng họ trâm anh thế phiệt lại phải trải qua nhiều vất vả trong cuộc sống mưu sinh. Lúc khó khăn của thời kỳ bao cấp giữa những năm 80 của thế kỉ trước, anh đã tham gia lao động xuất khẩu ở nước ngoài, làm đội trưởng quản lý lao động hợp tác tại nhà máy sản xuất ô tô YOZ  tại thành phố Ulianop thuộc CHLB Nga, trong gần 10 năm rồi lại trở về nhà máy cũ làm việc và nghỉ hưu từ đây.

     Kể lại tất cả những trích ngang lý lịch trên để nói  một điều: tác giả của cuốn sách này đã có một cuộc đời từng trải không phải dễ dàng. Hơn thế, cái trích ngang tiểu sử ấy cho thấy anh hoàn toàn không được đào tạo gì về việc viết lách, vậy mà anh đã có được một công trình mà bạn đọc đang cầm trên tay, đó là điều rất đáng được khâm phục. Có lẽ cái nguồn mạch của gia đình, dòng họ cùng với những năm tháng bươn trải, lăn lộn với cuộc sống đã làm nên cái hồn nghệ sĩ, sự từng trải làm cho anh đồng cảm, lòng trắc ẩn với số phận con người, niềm yêu quý, trân trọng và ham mê tìm hiểu các di sản văn hóa của cha ông. Hơn thế, Hà Nội dù không phải là quê hương anh, nhưng lại là nơi làm nên con người anh, tạo cho anh vốn sống, niềm say mê như nhiều người xứ Nghệ khác ra đây sinh sống. Bởi vậy anh đã yêu mến nó một cách nhiệt thành vô bờ bến, cho nên thôi thúc anh khám phá, tìm hiểu và viết về nó.

     Để bù lại kiến thức “ngoại đạo” trong nghề viết, anh đã cố gắng học hỏi: ngày 7/3/1996 anh đã tốt nghiệp “Lớp hướng dẫn sáng tác văn học khóa 4” của Hội Liên Hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội và Hội Nhà Văn Hà Nội tổ chức. Chủ nhiệm kiêm phụ trách lớp là nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn, giáo viên gồm những nhà văn nổi tiếng như: Tô Hoài, Lê Lựu, Vũ Cao, Anh Ngọc, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Hữu Nhàn… Ngay trong khi đang ở khóa học, tài năng viết của anh đã bộc lộ với hai bài báo : Những mẩu chuyện viết văn của Lê Lựu , đăng trên báo Thanh Niên và: Nhà thơ Vũ Cao với xuất xứ bài thơ Núi đôi đăng trên báo Hà Nội mới cuối tuần ngày 2/4/2014 anh đã tốt nghiệp khóa  “Bồi dưỡng kỹ năng sáng tác VHNT Khóa III” do Trung tâm Bồi dưỡng sáng tác VHNT Đất Việt tổ chức. Trong Lời mời đón đọc Hà Nội ngàn năm Xuân Kỷ sửu 2009, báo Hà Nội mới chủ nhật ngày 11/1/2009 đã viết : “Nhân dịp đón xuân Kỷ Sửu năm 2009, báo Hà Nội mới ra mắt ấn phẩm Hà Nội ngàn năm số dặc biệt, khuôn khổ 20  x 28,5cm. 100 trang, trình bày đẹp hấp dẫn, với nhiều bài viết đặc sắc của các giáo sư, nhà báo tên tuổi: GS Tương Lai, Đại đức Thich Mạnh Hiền, Nguyễn Văn Dương, Hồ Sĩ Tá, Nguyễn Vinh Phúc, Lê Văn Long, Đỗ Hoàng Giang, Đỗ Minh, Nguyễn Lưu,  Trương Văn Căn, và các Nhà thơ: Lê Bình, Trần Ninh Hồ, Hồng Quang, Đặng Huy Giang, Trần Quang Quý…Trong số báo này bài Đền Kim Ngưu và các sự tích Trâu Vàng là của anh viết.

     Dấu ấn Thăng Long  là một thành tựu mới, ghi nhận sự trưởng thành về chuyên môn nghiên cứu, sưu tầm của anh. Những ghi chép về đình, đền, chùa, lễ hội, ẩm thực, chợ, phong tục tập quán, danh thắng và những giá trị văn hóa khác của Hà Nội chưa được đưa vào đây còn là những suy tư, trăn trở và là tình yêu thầm lặng, thiết tha của anh đối với Hà Nội. Tất nhiên, với một người không phải chuyên nghiệp, có thể đây đó trong công trình người đọc có thể chưa thỏa mãn, song thiết nghĩ những gì có được trong cuốn sách này là một sự làm việc miệt mài, say mê và đặc biệt là sự chân thành của tác giả trong suốt một thời gian dài với mảnh đất Thăng Long ngàn năm văn hiến.

     Xin chức mừng tác giả và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.







                                                                                           

Thứ Hai, 23 tháng 12, 2019

SỰ CẦM NHẦM VĨ ĐẠI



 SỰ CẦM NHẦM VĨ ĐẠI
Hà Văn Thùy
                                                                    và...


TIẾP NHẬN THÔNG TIN & ĐA CHIỀU NHẬN THỨC


Bất hòa nhận thức: Cách người bán thay đổi niềm tin người mua qua marketing

Con người luôn cảm thấy khó chịu khi đón nhận những thông tin trái chiều, tuy nhiên, các bậc thầy bán hàng đã tìm được cách “len lỏi” vào tâm trí người dùng, khiến họ tự thuyết phục bản thân để đưa ra quyết định mua sắm qua "Bất hòa nhận thức".

Khi niềm tin bị lung lay

Bất hòa nhận thức (Cognitive dissonance) là một lý thuyết được nhà tâm lý học Leon Festinger đưa ra vào năm 1957.

Bất hòa nhận thức được hiểu đơn giản là cảm giác khó chịu khi một người nhận thức được hai hoặc nhiều hơn các niềm tin, ý tưởng hoặc giá trị trái ngược nhau.

Vì những gì đang tiếp thu trái ngược hẳn với niềm tin vốn có của họ, con người ngay lập tức bị tấn công bởi những suy nghĩ mâu thuẫn và nghi ngờ nội tâm. Để thoát khỏi cảm giác khó chịu, não bộ ngay lập tức tìm cách giải quyết mâu thuẫn bằng cách tự trấn an, "lọc" thông tin theo hướng có lợi cho bản thân hoặc tránh tiếp xúc với thông tin "trái chiều".

Trong thử nghiệm nổi tiếng vào năm 1959, một nhóm tình nguyện viên bị nhốt từng người trong phòng và thực hiện nhiều hoạt động chán chường trong suốt một tiếng. Sau khi kết thúc thử nghiệm, các tình nguyện viên được "nhờ vả" truyền đạt lại với người đến sau (một nhà khoa học đóng giả tình nguyện viên) rằng thí nghiệm vừa rồi rất là thú vị, hoàn toàn ngược lại với niềm tin đang có của họ.

Trước khi truyền đạt, số tình nguyện viên được chia ra làm 2 nhóm, một nhóm chỉ nhận được 1 USD "tiền công", trong khi nhóm còn lại được cho tới 20 USD.

Đúng với dự đoán của Festinger, nhóm nhận được 1 USD đánh giá hoạt động vừa rồi thú vị hơn hẳn. Vì họ đã chấp nhận lời đề nghị của các nhà khoa học, chế độ chống lại "bất hòa nhận thức" trong tâm trí họ được bật lên, khiến họ nghĩ ra mọi lý do để trấn an hoạt động vừa thực hiện.

Đối với nhóm nhận được 20 USD, số tiền lớn trên khiến họ không còn cảm thấy "bất hòa" nữa, mất luôn động lực nghĩ ra cách trấn an cho một tiếng vừa rồi.


Trên thực tế, mỗi khi bất hòa nhận thức xuất hiện, tâm trí con người sẽ có 4 cách "giải quyết" khác nhau:

- Thay đổi hành vi nhận thức.

- Bào chữa bằng cách thay đổi xung đột.

- Bào chữa bằng cách thêm nhận thức mới.

- Phớt lờ hoặc từ chối thông tin xung đột.

Chẳng hạn như một người đang cố gắng giảm cân, nhưng trước mắt họ là chiếc bánh kem ngon lành, họ sẽ bắt đầu "giải quyết bất hòa" theo những cách sau:

- Mình quyết tâm không ăn một miếng bánh nào cả, đây là miếng cuối cùng.

- Giảm cân là một quá trình, mình chỉ ăn nốt miếng bánh này thôi.

- Miếng bánh có là bao, sau khi ăn thì tối nay mình sẽ tập thể dục.

- Trên thực tế, bánh ngọt cũng không có quá nhiều đường và calo.

Marketing thay đổi niềm tin

Nắm được những "bất hòa" trong tâm trí người dùng, nhiều chiến dịch marketing đã sử dụng thông tin làm trọng tâm để người dùng dễ dàng "tự trấn an" bản thân và đưa ra quyết định mua sắm.

Chẳng hạn như mẫu quảng cáo trên, ai cũng biết uống bia nhiều có hại cho sức khỏe, nhất là những người đang cố gắng giảm cân.

Hãng bia Miller liền tung ra sản phẩm "Miller Lite", đảm bảo ít calories, ít carb mà lại có hương vị ngon hơn hẳn Bud Light - hãng bia nhẹ đang đứng đầu thị trường. Từ đó, tâm trí của người dùng sẽ nhanh chóng trấn an rằng "Miller Lite ít calories mà, lâu lâu uống một lon có sao đâu."

"Bất hòa nhận thức" cũng là lý do các nhãn hiệu mới luôn cố gắng tung ra những đoạn quảng cáo có sự chứng thực của người dùng đi trước, hoặc đầu tư một khoản tiền không nhỏ để "làm" ra các báo cáo khoa học có lợi cho sản phẩm.

Những bước đi trên dễ dàng thuyết phục người dùng thay đổi niềm tin hiện tại của họ sang những sản phẩm & dịch vụ mới nhưng có vẻ tốt hơn.

Nếu không có những thông tin "có cánh" để trấn an, các nhãn hàng sẽ chuyển sang sử dụng người nổi tiếng hoặc một đoạn quảng cáo hài hước.

Những yếu tố "tích cực" tuy không cung cấp thêm thông tin để người dùng giải quyết bất hòa, nhưng nó sẽ gia tăng hưng phấn của người xem, giúp họ vui vẻ tự nghĩ ra lý do để thuyết phục bản thân.

Những bậc thầy bán hàng

Nhưng bất hòa nhận thức được sử dụng thành công nhất trong trao đổi trực tiếp.

- Đạt là một doanh nhân mới nổi, nhưng anh ấy vẫn sử dụng chiếc xe 2 bánh cho công việc hằng ngày. Sau khi biết được câu chuyện trên, chuyên viên bán xe ngay lập tức chia sẻ rằng không phải ai cũng "có gan" sử dụng xe 4 bánh, và xe hơi không phải là một gánh nặng tài chính mà là động lực để người chạy tiếp tục tiến những bước xa hơn trong sự nghiệp.

Những lời nói trên liên tục "củng cố" và giải quyết bất hòa trong tâm trí của Đạt, giúp anh nhanh chóng tiến tới quyết định mua xe, dù có trả góp đi chăng nữa.

- Tuấn là một người đàn ông của gia đình, anh luôn tự hào khi thấy vợ mình hạnh phúc. Khi thấy hai vợ chồng vui vẻ đi ngang tủ kính trưng bày trang sức, người bán hàng ngay lập tức mời họ xem những sản phẩm mới nhất, kèm theo những lời có cánh như: "Chiếc nhẫn này sẽ thể hiện tình yêu của anh đối với vợ", hay "Những ông chồng "soái ca" ngày nay toàn dành 2 tháng lương để mua trang sức tặng vợ, cầu hôn người vợ của mình hết lần này đến lần khác".

Tuy đang cảm thấy "bất đồng" với mức giá khá cao, nhưng các lời quảng cáo trên nhanh chóng làm cho Tuấn bớt khó chịu, dễ dàng tự nghĩ ra những suy nghĩ tự trấn an tiếp theo cho quyết định mua sắm.

Kết luận

Bất chấp niềm tin hiện có của người dùng, nếu như các chuyên gia marketing nắm được tâm lý và tạo điều kiện cho họ tự nghĩ ra các phương án giải quyết bất hòa nhận thức, đơn hàng mới chắc chắn sẽ xuất hiện.

Nhưng nếu để khách hàng cảm thấy không hứng thú, bất hòa nhận thức ngay lập tức gia tăng cảm giác tội lỗi, hối hận, hồi hộp… khiến họ giữ vững niềm tin hiện có của mình và từ chối "xuống tiền".

Không những thế, người tiêu dùng còn có kinh nghiệm phát sinh bất hòa nhận thức một thời gian sau khi mua sản phẩm/ dịch vụ, dẫn tới việc cẩn trọng hơn trước khi ra quyết định. Đó là lý do bên bán hàng ngay lập tức sử dụng các chiến thuật "trấn an" qua chương trình hậu mãi, bảo hành, 1 đổi 1…

Thanh Sang

(Theo Tri thức trẻ)





 SỰ CẦM NHẦM VĨ ĐẠI
Hà Văn Thùy

Việc Kỹ sư Chu Văn Tiệp tìm ra “con số vàng” (1) trong việc đẻ nhánh và ra lá của cây lúa là khám phá lớn của nông học Việt Nam. Tôi đánh giá nó ngang với giải Nobel khoa học. Tuy nhiên cho đó là sản phẩm của “nhà thiết kế vĩ đại”lại là chuyện tầm phào, hay đúng hơn là sự cầm lầm vĩ đại. Xin trình bày như sau.

1.Khảo cổ học khám phá, 13.000 năm trước, người Việt tại Tiên Nhân động và Ngọc Thiềm nham, nay thuộc tỉnh Giang Tây Trung Quốc, đã ăn một lượng đáng kể hạt của loài lúa hoang Oryza nivara. Và 12.400 năm trước, người Việt cũng đã ăn cơm từ loài lúa trồng Oryza sativa. Lúa trồng khác lúa hoang không chỉ ở hạt lúa tròn hơn, lông trên hạt thưa hơn, râu ngắn bớt mà quan trọng nhất là ở cấu tạo tế bào của phytolic, mà thành phần chủ yếu là silic, làm nên vỏ trấu. Chính nhờ yếu tố này, khoa học phân biệt được lúa hoang và lúa trồng. Do chọn lọc liên tục hơn 12.000 năm vì mục đích có giống lúa cho năng suất cao và chất lượng tốt nhất nên đến nay dân châu Á có hai chủng lúa Oryza sativa indica và Oryza sativa japonica.

Trong quá trình trồng  lúa lâu đời, người nông dân Việt rút ra kinh nghiệm: nhất nước, nhị phân, tam cần, tứ giống. “Tứ phương” nêu trên thể hiện kinh nghiệm truyền thống. Tuy nhiên nó cũng phản ánh hạn chế trong tư duy của người Việt, khi không coi trọng khâu giống. Dù vẫn hiểu “tốt giống tốt má, tốt mạ tốt lúa”nhưng đặt giống ở cuối các biện pháp thâm canh đã kìm hãm tiến bộ của nông nghiệp. Nền nông nghiệp hiện đại, đặt vai trò của giống lên hàng đầu, từ đó đưa tới cuộc cách mạng xanh, tăng nhanh sản lượng cũng như chất lượng lúa gạo. Chính giống mới đã phát huy tác dụng của tổ hợp biện pháp canh tác.

Trong các biện pháp canh tác, thì lựa chọn mật độ gieo cấy là nỗi trăn trở thường trực của người nông dân. Nông nghiệp truyền thống xác định “cấy thưa thừa thóc, cấy dầy cóc ăn.”Những năm 1960, miền Bắc Việt Nam,“học Đại Trại” theo bước nhảy vọt của Trung Quốc nên có khẩu hiệu “Cấy thưa thừa đất, cấy dầy thóc chất đầy kho.”Từ thất bại của mô hình này, ra đời khẩu hiệu “Cấy dầy vừa phải thóc rải đầy sân.”Nhưng thế nào là “cấy dầy vừa phải”lại là chuyện mày mò của hàng triệu nông dân để tìm ra công thức cấy thích hợp. Và rồi từ đó, điều kỳ diệu đã xảy ra: “KS Chu Văn Tiệp phát hiện ra: Cần thay đổi cách cấy lúa, giảm sâu số khóm chỉ còn 8 – 16 khóm/m2 với khoảng cách cấy dễ dàng tính được nhờ vào biểu thức toán học đơn giản dựa vào đặc điểm của giống (chiều cao cây, dạng hình tán lá… có điều chỉnh cho phù hợp với loại đất…). Công nghệ cấy lúa hàng biên còn làm thay đổi quan điểm bảo thủ di truyền của số hạt/bông khi sự phân hóa đòng đã làm tăng mạnh số hạt nhờ cây hưởng hiệu ứng ánh sáng hàng biên. Công nghệ cấy này đã tác động đến các yếu tố chính cấu thành năng suất lúa như: số dảnh/khóm, số bông/m2, số hạt/bông, trọng lượng nghìn hạt và đã gây hiệu quả kinh tế đáng ngạc nhiên cho không ít cán bộ kỹ thuật, nông dân (tăng năng suất dù giảm sâu giá thành) và đã nhanh chóng được nông dân ứng dụng rộng rãi.”(1)

Phân tích trên cho thấy, từ chọn ra loài lúa trồng và sử dụng biện pháp thâm canh thích hơp để tạo ra dòng lúa đẻ nhánh và ra lá theo tỷ lệ vàng là chọn lọc nhân tạo, công việc của con người. Hoàn toàn không có ở lúa hoang mọc tự nhiên. Vì vậy việc gắn thành tích này cho nhà thiết kế vĩ đại là không thỏa đáng. Hay nói cách khác, đó lại là sự vơ vào, sự cầm nhầm vĩ đại!

2. Dường như văng vẳng bên tai tiếng “khì” đắc chí của mấy vị “sát thủ thuyết Tiến hóa” khi “bắt chết”dân “tiến hóa” phải trưng ra bằng chứng về “sự sống đầu tiên.”Một đòi hỏi không chỉ phi khoa học mà còn bất cận nhân tình. “Mầm sự sống” là gì nếu không phải là những giọt vật chất đơn sơ nhất, nhỏ nhoi nhất, yếu đuối nhất? Cái giọt vật chất mong manh ấy làm thế nào mà tồn tại được qua hàng tỷ năm để hôm nay trưng ra trước bàn dân thiên hạ? Gần suốt thế kỷ XX, chúng ta chỉ biết đến cốt sọ cổ nhất của người Sơn Vi 32.000 năm tuổi. Rồi khi di truyền học công bố: “Con người có mặt ở Việt Nam 70.000 năm trước,”ta mới hiểu rằng có tới 40.000 năm tổ tiên bị chôn vùi, không để lại cho con cháu dù chỉ một mẩu xương! Vậy thì làm sao mà hôm nay có được cái giọt coaseva hình thành từ hàng tỷ năm trước?!

Để thoát khỏi tình trạng bế tắc, tôi bèn nghĩ ra thuyết mới, gọi là Thuyết tiến hóa nhị nguyên. Nội dung như sau: Thiên chúa giáng thế. Người cầm trong tay một nắm hạt mầm sự sống và nói: “Ta sinh ra các con trong tình yêu thương. Nay ta đưa các con vào đời. Trong tự nhiên khắc nghiệt, các con phải sống và vươn lên mãi cho xứng đáng với lòng thương yêu của Chúa.”Nói rồi người tung nắm hạt mầm ra trước gió. Gió đưa mỗ hạt đến một nơi. Có những hạt rơi vào đá vào bãi cát khô nóng liền bốc hơi, tiêu tán. Có những hạt rơi vào nơi ẩm ướt. Chúng hút dưỡng chất và lớn lên. Trong số chúng, có những hạt đạt tới độ lớn thì chia thành hai hạt. Sự sinh sản bắt đầu… Cứ như thế, trong thử thách dài lâu của chọn lọc tự nhiên và đấu tranh sinh tồn, một thế giới sống kỳ diệu hình thành. Hẳn có người chê tôi là duy tâm, là cơ hội, là đi hàng hai… Nhưng tôi cảm thấy tâm đắc với lý thuyết này. Dù là đấng sáng tạo với lòng lành nhưng Chúa chỉ là người gieo hạt ban đầu. Còn sự sự sống hôm nay là công việc của tự nhiên, trong đó có nỗ lực tự thân của mỗi sinh vật góp phần tạo nên bản thân mình. Dù sao tôi cũng thích một tự nhiên vận động có sự tham gia tích cực của chủ thể hơn là một thế giới của định mệnh, tất cả được an bài theo một lập trình tiền định.

Chỉ âm thầm suy nghĩ một “thuyết” như vậy mà do dự chưa dám bật mí với ai thì lại có bản tin nói rằng, người ta phát hiện trên phiến đá 3,5 tỷ năm hóa thạch của sự sống đầu tiên. Một bản tin quá ngắn so với tầm trọng đại của vấn đề nó nêu lên. Tin được không? Tôi không biết nữa vì bây giờ óc hoài nghi quá lớn. Hãy chờ xem! Nếu tin này chính xác thì quá mừng, dù cho cái “thuyết tiến hóa nhị nguyên” của tôi chưa kịp ra đời đã chết!

3. Làm fan của một đội banh thì chỉ việc tới sân banh vẽ mặt, phất cờ và la hét. Nhưng làm fan hay phản đối một lý thuyết khoa học không đơn giản vậy. Chí ít, phải học theo Tôn tử tri kỷ tri bỉ. Có nghĩa là phải hiểu thật sâu cái lý thuyết mình ủng hộ hay phản đối để ít nhất cũng hiểu được mình ủng hộ hay phản đối cái gì! Lại nữa, khi chôm những thông tin mới để ủng hộ thần tượng của mình thì cũng cần có tri thức thực sự, hiểu đúng bản chất của thông tin đó. Nếu chỉ ăn theo nói leo thì khó tránh khỏi họa dở khóc dở cười mang tiếng cầm nhầm và cái đau gậy ông đập lưng ông!

                                                          

                                                                               Sài Gòn, cuối năm con Heo



1.    Phạm Việt Hưng. BÍ MẬT CỦA TẠO HÓA – TỶ LỆ VÀNG TRONG QUY LUẬT ĐẺ NHÁNH CỦA CÂY LÚA.      

 Thôn Minh triết. com

       2.  Scientists find the earliest signs of life from 3.5 billion years ago

               https://www.cnet.com › news › scientists-find-the-earliest-si...

Các nhà khoa học đã phát hiện ra dấu tích vi sinh vật trong những tảng đá 3,5 tỷ năm tuổi, cho thấy một số dấu hiệu sớm nhất của sự sống trên hành tinh. Các chất hữu cơ được phát hiện trong stromatolites, hóa thạch lâu đời nhất của Trái đất, ở khu vực Pilbara ở Tây Úc, các nhà khoa học tại Đại học New South Wales cho biết hôm thứ Năm.

Mặc dù stromatolites đã được tìm thấy vào những năm 1980, nhưng các nhà khoa học chỉ có thể chứng minh chúng là vi khuẩn. "Lần đầu tiên, chúng ta có thể cho thế giới thấy rằng những stromatolite này là bằng chứng rõ ràng cho sự sống sớm nhất trên Trái đất", trưởng nhóm nghiên cứu Raphael Baumgartner nói.

Để kiểm tra, các nhà khoa học đá đã lấy các mẫu lõi khoan, không bị phong hóa. Họ đã kiểm tra các mẫu bằng kính hiển vi điện tử công suất cao, quang phổ và phân tích đồng vị. Baumgartner phát hiện ra rằng stromatolites được làm từ pyrite, có chứa chất hữu cơ "được bảo quản đặc biệt".