Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2020

LỊCH SỬ PHỦ DÀY NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

 BÙI VĂN TAM

(Hội văn nghệ Nam Định)

Hơn 40 năm nghiên cứu về Phủ Dầy, tôi băn khoăn về một số vấn đề, muốn trao đổi cùng các nhà nghiên cứu sử học để cùng tìm hiếu.

Vấn đề Thánh Mẫu Liễu Hạnh và Phủ Dầy ngay từ năm 1967 tôi đã được Viện trưởng Viện Sử học Trần Huy Liệu góp ý kiến về cuốn Lược sử huyện Vụ Bản, khuyên tôi phải nghiên cứu sâu hơn về Phủ Dầy, vì ông cho rằng đó là một hiện tượng tôn giáo độc đáo, mang nhiều tính chất văn hóa tín ngưỡng bản địa, có bản sắc văn hóa dân tộc của dân ta, và đó cũng là một nét khác biệt với các tỉnh khác của nước nhà. Thực ra, thì mãi đến năm 1976, khi huyện ủy Vụ Bản yêu cầu tôi biên soạn Lịch sử Đảng bộ Huyện Vụ Bản tôi mới có “điều kiện” để nghiên cứu. Nhưng phải đến thập kỷ 90 của thế kỷ XX, hòa nhịp vào công cuộc đổi mới, tôi đã biên soạn Lịch sử xã Kim Thái thì mới đi sâu vào nghiên cứu Phủ Dầy. Những vấn đề bức xúc và băn khoăn cân phải có kiến giải phân minh, xác đáng. Tôi cung cấp tư liệu và đua ra kiến giải của mình để cùng trao đối với các nhà nghiên cứu.

1.     Tại sao lại gọi là phủ Dầy?

 Sách Vân Cát thần nữ của Vũ Ngọc Khánh  Phạm Văn Tỵ (NXB Văn hóa Dân tộc - 1990) ngay phần đầu sự tích và huyền thoại ghi: “Liễu Hạnh đã trừng trị một hoàng tử đã ve vãn nàng ở bến nước bên đèo Ngang, đã tặng vua một đôi giày khi vua ghé thăm quê nàng ở Vụ Bản (Hội Phủ Giầy do sự tích này).” Nhưng năm 1992 - 1993, khi về làm việc ở Kim Thái, không ai biết truyền thuyết đôi giày này. Năm 1976, khi công nhận xếp hạng di tích Phủ Dầy đã ghi trong Bằng công nhận là Phủ Giầy, lại có chỉ thị (cùng với Sở Văn hóa Hà Nam Ninh) phải viết Phủ Giầy chứ không được viết Phủ Dầy. Đến năm 1993, khi gặp các cụ ở Kim Thái, mới biết tên làng cũ An Thái là Kẻ Dầy, chữ Nôm là 几履(5 như Kiều Oánh Mậu năm 1912 vỉết Tỉẻn phả dịch lục. Văn bia năm 1902 của Cao Xuân Dục ở phủ Vân Cát cũng viết Phủ Dầy (Dầy là dầy mỏng). Vậy phải gọi là Phủ Dầy mới đúng và lý do là như thế, chứ không phải Mau dâng giầy cho vua. Trước đây thường lấy tên làng ghép để gọi đền chùa bằng tên Nôm: dân Kẻ Dầy, đền Kể Dầy, sau dân quen gọi đền thờ Mầu là Phủ nên đổi thành Phủ Dầy.

2. Có phải lăng mộ Thánh Mu Liễu Hạnh do vua Bảo Đại trả ơn mà xây dựng không? Câu trả lời là không đúng!

Năm 1938, đệ tử Phổ Hóa cung ở Kinh thành Huế bỏ tiền và hưng công xây dựng lăng Mu, và đặt bia ghi việc Thánh Mẫu giáng bút cảm ơn đệ tử Đào Chi của cung Phổ Hóa ở Huế đã xây dựng lăng mộ “minh chửng có trời!” Mu đã khẳng định:

Xuân Kinh Phổ Hóa đàn con

 Đàn con Phổ Hóa là con có tình

Có tình mẹ cũng thương tình

 Đắp lăng xây mộ chứng minh có trời!

Tiên Hương linh tích muôn dời

 Trường Xuân phúc quả thảnh thơi lâu dài

Có duyên, ờ cũng có tài

Thực là tình mẹ, lâu dài nghĩa con.

Lạc khoản khắc bia này: “Ngày tốt tháng ba năm Mậu Dần (1938) niên hiệu Bảo Đại. Đệ từ nam nữ Đào Chi Phổ Hóa Xuân Kỉnh cùng chung lập nên”.

Như vậy là bia làm năm 1938 ghi nhận sự hoàn thành của đệ tử Đào Chi Phổ Hóa. Thế mà giáo sư Ngô Đức Thịnh viết trong Đạo Mu (NXB Khoa học Xã hội - 2007) như sau:

“Theo sách cũ ghi lại, năm 1937, người trẩy hội Phủ Dầy được biết tin vua Bảo Đại lấy vợ lâu không có con, bà hoàng hậu (theo đạo Thiên chúa) đến cầu khẩn ở đền Sòng, đã được Mu ban cho hoàng tử Bảo Long. Thánh Mu báo mộng cho biết mộ của Mầu ở ngôi miếu xứ Cây Đa, Phủ Dầy. Năm 1938, để trả ơn Mu, vua Bảo Đại đã cho “Hội Xuân Kinh” triều đình Huế hưng công xây dựng khu lăng Mu toàn bằng đá xanh và đá hồng ”(trang 144).

Sang trang 145, tác giả viết tiếp: “Mu ở phía Nam, có hai nhà bia cũng được làm bằng đá xanh là nơi đặt bàn thờ bà chúa Liễu và văn bia ca ngợi công đức”

“Tiên Hương linh tích muôn đời

Trường xuân phúc quả, thảnh thơi lâu dài.”

     Như vậy, giáo sư đã đọc và trích trong văn bia của đệ tử Đào Chi Phổ Hóa Xuân Kỉnh hai câu thơ trên, có nghĩa là biết lăng mộ của Thánh Mẩu do họ lập ra, chứ đâu phải của Hội Xuân Kinh triều đình Huế lập ra. (Xuân Kinh có nghĩa là kinh thành Phú Xuân xưa ở Huế)

Lại nữa, sau ba năm, giáo sư cho ra đời cuốn Đạo Mu Việt Nam với số trang đồ sộ hơn (NXB Tôn giáo - 2010), và ở trang 155 tác giả vẫn lặp lại nguyên văn như đoạn in trong sách năm 2007: “Người ta cũng tương truyền rằng năm 1937, vua Bảo Đại ỉấy vợ không có con, nên Nam Phương hoàng hậu đến cầu tự ở đền Sòng (Thanh Hóa), sau ứng nghiệm sinh hoàng tử Bảo Long. Sau đó, Thánh MẫuLiễu Hạnh đã báo mộng cho biết mộ của Người ở xứ Cây Đa, thôn Tiên Hương, Phủ Dầy. Để trả ơn Mu, năm 1938, vua Bảo Đại cho Hội Xuân Kinh triều đình Huế tiến hành hưng công xây dựng khu lăng mộ Mu bằng đá. Cũng có tư liệu cho rằng việc xây dựng lăng Mu chủ yếu là do những đệ tử ở Huế, thành viên của Hội Xuân Kinh (hay hội Sơn Nam) đã bỏ tiền bạc và trực tiếp ra đây xây dựng”.

Như vậy có nghĩa là tác giả đã “phớt lờ” văn bia của Đào Chi Phổ Hóa đặt ở lăng Mu, mặc dầu có đọc (nếu không đọc tại sao lại trích dẫn được?) Nghịch lý hơn nữa:

-    Giáo sư cho biết vua Bảo Đại cho vợ đi cầu tự vì lâu không có con, cầu tự năm 1937, mà lại sinh ra hoàng tử Bảo Long vào 04 tháng 01 năm 1936.

-    Ai cũng biết Nam Phương hoàng hậu lấy vua Bảo Đại ngày 20 tháng 03 năm 1934 và đến ngày 04 tháng 01 năm 1936 (tháng 12 năm Ất Hợi) thì đẻ hoàng tử Bảo Long.  Nếu đúng như  giáo sư Ngô Đức Thịnh cho biết, thì Nam Phương đBảo Long trước hàng năm rồi mới đi cầu tự để ứng mộng?

-    Vả lại, mới lấy nhau 1 năm 10 tháng đã sinh con và từ năm 1936 đến 1943 bà Nam Phương “sòn sòn” ra các vị:

Hoàng tử Bảo Long 1936 (ngày 04/01)

Công chúa Phương Mai 1937 (ngày 01/08)

Công chúa Phương Liên 1938 (ngày 03/11)

Công chúa Phương Dung 1942 (ngày 5/02)

Hoàng tử Bảo Thăng 1943 1

Có lẽ ít người “mắn đẻ” như Nam Phương hoàng hậu, chỉ trong khoảng trên dưới 7 năm đã sinh được 5 người con liền. Thế mà vẫn mang tiếng “lấy v đã lâu không có con”.

3. Phủ Dầy thờ ai?

Có người cho là người “ngớ ngẩn” mới hỏi như vậy. Có người lại cho rằng Phủ Dầy thờ Mu Liễu Hạnh chứ thờ ai? Ông từ Trần Viết Đức ở Phủ Dầy Tiên Hương và ông từ Trần Văn Bái ở Phủ Dầy Vân Cát – vào những năm 80 của thế kỷ XX - đêu chỉ dẫn cho tôi nghiên cứu nội dung thờ Tam tòa Thánh Mẫu: Liễu Hạnh, Duy Tiên và Quế Anh. Năm 1988 - 1993, khi nghiên cứu để biên soạn cuôn Lịch sử Đảng bộ huyện Vụ Bản cũng như Lịch sử xã Kim Thái, hai vợ chông ông từ Đức và ông từ Bái đều cho tôi nhiều lần vào nội cung để nghiên cứu và đều giới thiệu đúng như vậy. Cụ thể, lúc đầu trong nội cung phủ Tiên Hương có khám kính đặt 5 bức tượng trong khám, gồm: Thánh Mu Liễu Hạnh mặc áo đỏ, Thánh Mu Duy Tiên mặc áo xanh, Thánh Mẫu Quế Anh mặc áo trắng. Đó là Tam tòa Thánh Mu của Phủ Dầy, hai bên có tượng Thánh phụ và Thánh mẫu của thánh Mu Liễu Hạnh. Sau này khi sửa phủ cổ 4 gian thành nơi thờ các vị Khải thánh, đưa Thánh phụ và Thánh mẫu về đó thờ, thì khám kính còn ba vị Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Duy Tiên và Quế Anh.

Nhưng các sách Đạo Mẫu (2007) và Đạo Mu Việt Nam (2010) của giáo sư Ngô Đức Thịnh lại cho đó là Tam tòa Thánh Mu của đạo Tứ phủ.

Trong Đạo Mẫu (2007) viết về Phủ Dầy Vân Cát có đoạn: “Cung đệ nhất (chính cung) ở trong cùng, bao gồm ba gian khung gỗ làm theo kiểu mái cuốn lợp ngói ta. Trên bàn thờ có ba khám thờ Tam tòa Thánh Mầu: Đệ nhất Liễu Hạnh, mặc áo đỏ được đặt chính giữa; Mầu đệ nhị áo xanh, bên trái và Mu đệ tam áo trắng bên phải.” Phần chú thích ghi:

1.    Mầu đệ nhất Thượng Thiên (Liễu Hạnh)

2.    Mầu đệ nhị Thượng Ngàn

3.    Mẫu đệ tam Thoải cung.[1]

Về phủ Dầy Tiên Hương, giáo sư Ngô Đức Thịnh viết: Cung đệ nhất... gồm ba gian, là nơi thờ Tam íòa Thánh Mầu. Mu đệ nhất ở giữa mặc áo đỏ, đồng nhất với Mu Liễu Hạnh. Mu đệ nhị Thượng Ngàn - áo xanh và Mu đệ tam Thoải phủ - áo trắng đặt hai bên.[2]

     Trên thực tế văn bản 24 bản sắc phong đời Lê - Nguyễn không hề có chữ nào đả động đến Tam tòa Thánh Mẫu của Đạo Tứ phủ (Mu Thượng Thiên, Mu Thượng Ngàn và mẫu Thủy  phủ) mà tất cả mỹ tự trong toàn bộ sắc phong đều dành cho Tam tòa Thánh Mẫu ở phủ Dầy, nơi đang thờ ba vị Thánh Mu, Liễu Hạnh, Duy Tiên và Quế Anh. Ngoài ra còn có sắc phong Thánh phụ và Thánh mẫu của Mầu Liễu Hạnh (xem thêm phần IV: Các di tích lịch sử Phủ Dầy, trong sách PHỦ DẦY VÀ CÁC NỮ THẦN VỤ BẢN TRONG TÍN NGƯỠNG THÁNH MẪU LIỄU HẠNH, Nxb. Hồng Đức, H, 2020).

  Thật sai, trong sách Đạo Mầu (2007) giáo sư Ngô Đức Thịnh lại viết: “Phủ Nội ở xóm 1 Tiên Hương, xây dựng năm Duy Tân thứ nhất (1907)... Cung đệ nhị thờ Tam tòa Thánh Mu, trên ngai có tượng Liễu Hạnh công chúa, mặc áo hồng; Quỳnh Cung Duy Tiên công chúa, mặc áo xanh là em dâu của Mu và Quảng Cung Quế Anh công chúa là cháu của Mu mặc áo trắng. Cả ba vị này đều có sắc phong thời Nguyễn.”[3]Sách còn ghi tiếp: “Khải thánh từ... ngôi từ đường họ Trần này dựng năm Thành Thái thứ nhất (1889) đến năm Khải Định thứ 8 (1923) tu sửa và mở rộng hơn. Hiện nay, trong ngôi phủ này thờ Thủy tổ Lê Công Tiên ở cung đệ nhất cùng với bố mẹ Thánh Mu. Cung Đệ nhị thờ Tam tòa Thánh Mẩu, cung ngoài thờ Tứ phủ Công đồng”.

Như trên đã nói, sắc phong cũng ch phong cho Tam tòa Thánh Mẫu của phủ Dầy. Năm 1996, tôi dự trong đoàn khảo sát Phủ Dầy của Sở Văn hóa do pgiám đốc Tràn Văn Bút dẫn dầu đã phát hiện ở phủ Tiên Hương một hộp gỗ sơn đựng hơn hai chục sắc phong từ đời Lê Vĩnh Khánh đến (1728) đến đời Khải Định (1924) chia làm 2 loại:

-  Loại thứ nhất: Phong cho Tam tòa Thánh Mu của Phủ Dầy (Đệ nhị Quỳnh cung Duy Tiên công chúa và Quảng cung Quế Anh công chúa).

-  Loại thứ hai: phong cho từng Thánh Mầu, trong đó có cả sắc phong cho bố mẹ Thánh Mầu. Hòm sắc phong này hiện đang lưu giữ nguyên vẹn ở phủ Dầy Tiên Hương.                                                                                                       

      Trong hòm sắc phong này còn có 4 sắc phong của Tam tòa Thánh Mẫu phủ Dầy (1sắc phong chung 3 vị và 3 sắc phong riêng từng vị) nhưng lại phong cho đền An Trung và An Hạ của huyện Đại An (tức Quảng Nạp xã Yên Đồng huyện Ý Yên). Chúng tôi đã báo tin cho phủ Quảng Nạp ở Yên Đồng lên nhận. Khi xây dựng lại phủ Quảng Nạp (phủ Nấp), UBND xã Yên Đồng và ban quản lý đã lên đón nhận 4 đạo sắc phong đó. Như vậy, Phủ Nấp hay nói từ đời Hoằng Định (1601) đến 1781 đã có sắc phong cho bà Phạm Tiên Nga thờ ở Phủ Nấp, nhưng nay vẫn chưa thấy, còn ở Phủ Nấp cũng thờ Thánh MẫuLiễu Hạnh và Tam tòa Thánh Mu ở Phủ Dầy. Vì sắc phong chỉ phong cho thần thờ ở đền phủ ấy mà thôi.

     Như vậy, xét về hiện trạng cũng như tư liệu, có thể rút ra hai nhận xét:

-   Nội cung phủ Dầy thờ Tam tòa Thánh Mấu của Phủ Dầy và có điện thần Tứ phủ (xem như cung đình của Mu): Tam tòa Thánh Mẫu đó là ba vị Thánh Mu Liễu Hạnh, Duy Tiên và Quế Anh, chứ không phải Mu Thượng Thiên, Thượng Ngàn, Thủy phủ. Trong điện thần Tứ phủ công đồng của Mu có việc thờ Tam tòa Thánh Mu của đạo Tứ phủ hay không? Xin các học giả cho thêm ý kiến.

-   Hệ thống điện thần của phủ Dầy không giống như sơ đồ hệ thống điện thần của giáo sư Ngô Đức Thịnh nêu ra cho đạo Tam, Tứ phủ là Phật bà Quan âm đứng đu điện thần, trên cả Ngọc hoàng thượng đế.[4] Điện thần của phủ Dầy không có tượng Phật nào cả.

Và do đó, câu trả lời cho câu hỏi: “Phủ Dầy thờ ai? Chính là phủ Dầy thờ bà Thánh Mẫu Liễu Hạnh hay nói rộng ra là thờ Tam tòa Thánh Mẩu Liễu Hạnh, Duy Tiên và Quế Anh theo đúng sắc phong từ đời Lê, Nguyễn để lại. Trong phủ có thờ điện thần tứ phủ công đồng, coi như hệ thống cùng hoạt động với Thánh Mau Liễu Hạnh.

Nói như thế, không có nghĩa là Thánh Mu không nằm trong đạo Tứ phủ. Mà muốn nói rằng đã thờ thần thì phải “chính danh định phận” cho vị thần đó. Bỏ ra ngoài một vị thần thờ ở đó là một sai lầm cả về mặt tâm linh và tâm thức đối với các vị thần thờ ở ngôi đền, phủ đó theo như sắc phong đã có. Sắc phong cũng chỉ phong cho vị thần thờ ở đền ấy. Có sắc phong mà lại thờ thần khác thì chấp nhận sao được?

4. Vấn đề “Tam thế luân hồi” của Thánh Mấu Liễu Hạnh.

     Trước đây, nghiên cứu về Thánh Mẫu Liễu Hạnh, chỉ biết đến hai đời của Mu ở Vân Cát và Tây Mỗ. Phủ Tiên Hương cũng như phủ Vân Cát đều có hoành phi: “Nhất thần lưỡng hóa” (một vị thần hai lần sinh hóa) cũng đều có niên hiệu Bảo Đại (1930 và 1934). Đầu thế kỷ XXI, khi xây dựng lại phủ Nấp, các nhà nghiên cứu mới tìm thấy nhiều tài liệu về phủ Nấp có liên quan nhiều đến truyền thuyết tam thế luân hồi của Thánh Mu Liễu Hạnh. Mu của phủ Dầy, nơi đang thờ ba vị Thánh Mu (Liễu Hạnh, Duy Tiên và Quế Anh), ngoài ra còn có sắc phong Thánh phụ và Thánh mẫu của Mu Liễu Hạnh.

     Thế nhưng trong sách Đạo Mầu (2007) giáo sư Ngô Đức Thịnh lại viết: “Phủ Nội ở xóm 1 Tiên Hương xây dựng năm Duy Tân thứ nhất (1907)... Cung đệ nhị thờ Tam tòa Thánh Mấu, trên ngai có tượng Liễu Hạnh công chúa, mặc áo hồng; Quỳnh Cung Duy Tiên công chúa, mặc áo xanh là em dâu của Mầu và Quảng Cung Quế Anh công chúa là cháu của Mau mặc áo trắng. Cả ba vị này đều có sắc phong thời Nguyễn.”[5]

Sách cũng ghi tiếp: “Khải thánh từ... ngôi từ đường họ Trần này dựng năm Thành Thái thứ nhất (1889) đến năm Khải Định thứ 8 (1923) tu sửa và mở rộng hơn. Hiện nay, trong ngôi phủ này thờ Thủy tổ Lê Công Tiên ở cung Đệ nhất cùng với bố mẹ Thánh Mầu. Cung Đệ nhị thờ Tam tòa Thánh Mấu, cung ngoài thờ Tứ phủ Công đồng”.

Như trên đã nói, sắc phong cũng chỉ phong cho Tam tòa thánh Mau của phủ Dầy. Năm 1996, tôi dự trong đoàn khảo sát Phủ Dầy của Sở Văn hóa do Phó Giám đốc Trần Văn Bút dẫn dầu đã phát hiện ở Phủ Tiên Hương một hộp sắc phong có hơn hai chục sắc phong từ đời Lê Vĩnh Khánh đến (1728) đến đời Khải Định (1924) chia làm 2 loại:

-  Loại thứ nhất: Phong cho Tam tòa Thánh Mẩu của Phủ Dầy (Đe Quỳnh cung Duy Tiên công chúa và Quảng cung Quế Anh công chúa).

-  Loại thứ hai: phong cho từng Thánh Mầu, trong đó có cả sắc phong cho bố mẹ Thánh Mầu. Hòm sắc phong này đang lưu giữ nguyên vẹn ở Phủ Dầy Tiên Hương.

Trong hòm sắc phong này còn có 4 sắc phong của Tam tòa Thánh Mẫu phủ Dầy (1 sắc phong chung 3 vị và 3 sắc phong riêng từng vị) nhưng lại phong cho đền An Trung và An Hạ của huyện Đại An (tức Quảng Nạp xã Yên Đồng huyện Ý Yên). Chúng tôi đã báo tin cho phủ Quảng Nạp ở Yên Đồng lên nhận. Khi xây dựng lại Phủ Quảng Nạp (phủ Nấp), UBND xã Yên Đồng và Ban Quản lý đã lên đón nhận 4 đạo sắc phong đó. Như vậy, Phủ Nấp hay nói từ đời Hoằng Định (1601) đến 1781 đã có sắc phong cho bà Phạm Tiên Nga thờ ở Phủ Nấnhưng nay vẫn chưa thấy, còn ở Phủ Nấp cũng thờ Thánh MẫuLiễu Hạnh và Tam tòa Thánh Mẫuở Phủ Dầy. Vì sắc phong chỉ phong cho thần thờ ở đền phủ ấy mà thôi.

Như vậy, xét về hiện trạng cũng như tư liệu, có thể rút ra hai nhận xét:

-  Nội cung Phủ Dầy thờ Tam tòa Thánh Mấu của Phủ Dầy và có điện thần Tứ phủ (xem như cung đình của Mau): Tam tòa Thánh Mau đó là ba vị Thánh Mau Liễu Hạnh, Duy Tiên và Quế Anh, chứ không phải Mầu Thượng Thiên, Thượng ngàn, Thủy phủ. Trong điện thần Tứ phủ công đồng của Mầu có việc thờ Tam tòa Thánh Mau của đạo Tứ phủ hay không? Xin các học giả cho thêm ý kiến.

-  Hệ thống điện thần của phủ Dầy không giống như sơ đồ hệ thống điện thần của giáo sư Ngô Đức Thịnh nêu ra cho đạo Tam, Tứ phủ là Phật bà Quan âm đứng đầu điện thần, trên cả Ngọc hoàng thượng đế.[6] Điện thần của Phủ Dầy không có tượng Phật nào cả.

Và do đó, câu trả lời cho câu hỏi: “Phủ Dầy thờ ai? Chính là Phủ Dầy thờ bà Thánh Mẩu Liễu Hạnh hay nói rộng ra là thờ Tam tòa Tháỉih Mẩu Liễu Hạnh, Duy Tiên và Quế Anh theo đúng sắc phong từ đời Lê, Nguyễn để lại. Trong phủ có thờ điện thần tứ phủ công đồng, coi như hệ thống cùng hoạt động với Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Nói như thế, không có nghĩa là Thánh Mau không nằm trong đạo Tứ phủ; mà muốn nói rằng đã thờ thần thì phải “chính danh định phận” cho vị thần đó. Bỏ ra ngoài một vị thần thờ ở đó là một sai lầm cả về mặt tâm linh và tâm thức đối với các vị thần thờ ở ngôi đền, phủ đó theo như sắc phong đã có. Sắc phong cũng chỉ phong cho vị thần thờ ở đền ấy. Có sắc phong mà lại thờ thần khác thì sao được?

4. Vấn đề “Tam thế luân hồi” của Thánh Mẩu Liễu Hạnh.

Trước đây, nghiên cứu về Thánh Mau Liễu Hạnh, chỉ biết đến hai đời của Mu ở Vân Cát và Tây Mỗ. Phủ Tiên Hương cũng như phủ Vân Cát đều có hoành phi: “Nhất thần lưỡng hóa” (một vị thần hai lần sinh hóa) cũng đều có niên hiệu Bảo Đại (1930 và 1934). Đầu thế kỷ XXI, khi xây dựng lại phủ Nấp, các nhà nghiên cứu mới tìm thấy nhiều tài liệu về phủ Nấp, có liên quan nhiều đến truyền thuyết tam thế luân hồi của Thánh Mu Liễu Hạnh.

Có nguồn gốc từ Quảng cung, thực là thần hóa

Vang tiếng tăm trong thiên hạ chỉ bởi hiếu trinh

Rồi đến Vân Cát, khuôn mẫu mẹ bao trùm hải nội Luôn vì phu tử, lòng nhân từ nhuộm thấm sơn hương.

Buổi Tây Mỗ, đoạt thân Hoàng Thị, tái hợp Đào quân Ngụ Kẻ Soi, dạy con học hành cho tròn phụ đạo.[7]

     Câu đối ở Phủ Dầy Tiên Hương:

Tam thế luân hồi, vu Vĩ Nhuế, vu Vân Cát, Vu Nga Sơn ngũ bách dư niên quang thực lục,

Lịch triều ba cổn, vi đế nữ, vi đại vương, vi chúng mẫu ức thiên vạn cổ điện danh bang.

Dịch:

Ba đời đổi thay, ở Vĩ Nhuế, ở Vân Cát, ở Nga Sơn hơn năm trăm năm, sự tích sáng ngời trong sử sách.

Các triều phong tặng là con trời, là Đại vương, là mẹ dân; muôn ngàn đời sau, tiếng tăm vang dội khẳp trần gian.

     Như vậy chúng ta thấy có sách thì chỉ chép có 2 đời ở Vân Cát, Nga Sơn, các đại tự ở Phủ Dầy cũng chỉ có “nhất thần lưỡng hóa”. Năm 1806, đời Gia Long thứ 6, Lý Văn Phức cho rằng Đoàn Thị Điếm chỉ nói có 2 đời vì bà yếu đuối không đi sâu được.

     Từ khi có Cát thiên tam thế thực lục ra đời, truyền thuyết “tam thế luân hồi” mới nổi lên. Sự thực thì truyền thuyết này được ghi chép lại do Vũ Huy Trác đời Lê Cảnh Hưng đã nêu ra.

     Thời Nguyễn thế kỷ XIX đã có ý đề cao, nhấn mạnh truyền thuyết tam thế luân hồi của Mu Liễu. Trong thực tế, tôi đồng tĩnh với quan điểm của nhà nghiên cứu Dương Văn Vượng, rõ ràng có 3 vị nữ thần Phạm Tiên Nga, Liễu Hạnh Công chúa và bà Hoàng Thị Trinh thờ ở ba nơi khác nhau. Nhưng các nhà Nho và các nhà đồng cốt đã ghép ba chuyện này vào một thân thế là Liễu Hạnh công chúa để tôn vinh về mặt tâm linh cho vị nữ thần này, tạo thành truyền thuyết “tam thế luân hồi” lung linh, huyền diệu và đậm yếu tố đạo đức trinh, hiếu, từ của một nhân vật Thánh Mu Liễu Hạnh. Đó chính là sự sáng tạo văn hóa dân gian của nhân dân ta, tạo nên một huyền thoại đẹp cho đời. Một điều hiển nhiên là ở Quảng Nạp, hay Phủ Dầy Vân Cát, hay Tây Mỗ đều lấy thần hiệu Liễu Hạnh là trung tâm để thờ phụng. Ngay sắc phong của Quảng cung, Vĩ Nhuế cũng phong cho Liễu Hạnh, Duy Tiên, Quế Aeh tam vị thánh Mẩu của phủ Dầy. Điều đó cũng nói lên rằng tín ngưỡng Mu Liễu Hạnh đã lan rộng ra cả Nam Định, Thanh Hóa ngay ở thế kỷ XVII, XVIII, sang thế kỷ XIX, XX đã phát triển khá mạnh. Phủ Dầy xứng đáng là trung tâm của tín ngưỡng Mu Liễu Hạnh và đạo Tam, tứ phủ.

     5. Thánh Mẩu Liễu Hạnh vị thần chủ của đạo Tam tứ phủ hay Đo Mẩu Viêt Nam

     Về vị thế Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong đạo Tam tứ phủ, giáo sư Ngô ĐứcThịnh đã có kiến giải sắc bén và xác đáng.

     Nhưng Thánh Mu Liễu Hạnh có phải là Thần chủ của Đạo Mu Việt Nam nói chung thì cần phải bàn luận cho minh xác.

     Có thể nói trên đất nước ta có nhiều vị Thánh Mu, được coi như Thánh Mẫu của các vùng miền. Ví dụ như bà chúa Xứ (bà chúa Xam) ở Nam Bộ, Bà Thiên Yana ở Nam Trung bộ, bà Thánh Mu Nam Hải Càn Vương ở Bắc Trung bộ, hay bà Ngũ Hành nương nương ở Nam Trung bộ (Quảng Nam). Ở Việt Bắc và miền Trung du nhiều nơi thờ Quốc Mu Âu Cơ... Tất cả các Thánh Mu đó, ta coi như đều nằm trong Đạo Mu Việt Nam, có thể không liên quan gì tới đạo Tam tứ phủ, hay có mối liên quan ít nhiều về một khía cạnh nào đó với Tam, tứ phủ. Như vậy, Mu Liễu Hạnh là Thánh Mu của Tín ngưỡng Mu Liễu Hạnh, chủ yếu ở miền đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ, nay tuy có lan rộng nhiều nơi khắp Bắc, Trung, Nam đều có phủ thờ Thánh Mu Liễu Hạnh. Nhưng như thế, có thể coi Mu Liễu Hạnh là thần chủ của đạo Tam tứ phủ mà thôi?

     Trong Đạo Mu Việt Nam, giáo sư Ngô Đức Thịnh có nhận định: “Về bản chất, việc phụng thờ bà Thiên Yana, Bà chúa Xứ, Bà Đen không thuộc hệ thống thờ Tam phủ, Tứ phủ. Tuy nhiên, ít nhất từ giữa thế kỷ XX trở lại đây, cùng các lóp di dân của người Việt, nhất là sau năm 1954, nhiều nơi ở Nam Bộ, ngoài việc hình thành các đền phủ thờ Tam, Tứ phủ thì còn có việc các nơi đang thờ Mu, như ở núi Bà Đen, núi Sam, cũng ít nhiều chịu tác động của quá trình Tam phủ, Tứ phủ hóa.[8] Nói một cách khác, việc thờ Mu ở miền Nam có sự tích hợp nhiều tầng văn hóa, có tính chất đa văn hóa, cần phải xem xét, bóc tách ra.

     Vậy Thánh Mẫu Liễu Hạnh, vị thần chủ của đạo Tam phủ, Tứ phủ có thể là thần chủ chung của đạo MẫuViệt Nam không? vấn đề này cần phải xem xét minh bạch, chu đáo hơn.

     Hơn ba chục năm nay, từ khi có lệnh phục hồi lễ hội Phủ Dầy cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, thì việc nghiên cứu về tín ngưỡng Thánh Mu Liễu Hạnh đã diễn ra tương đối mạnh mẽ, không chỉ nghiên cứu riêng về tín ngưỡng Mu Liễu Hạnh, mà đã mở rộng ra về Đạo Mẫu Việt Nam nói chung, các Thánh Mu ở khắp nước, miền Bắc, miền Trung, miền Nam bộ, Tây nguyên .v.v. đều đã được nghiên cứu. Nhiều vấn đề đã được giải mã, nội dung Đạo Mẫu được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn về nhiều mặt, khiến mọi người đều hiểu rõ hơn về Đạo Mu nước ta. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải mã, phải có kiến giải thuyết phục để minh định nội dung của vấn đề.

Những vấn đề còn băn khoăn hiện nay chưa phải đã hết, như vấn đề cách tính thời gian Mầu Liễu qua đời trong tam thế luân hồi mà Cát thiên tam thế thực lục nêu ra đã thỏa đáng chưa?[9] Vấn đề “Phủ Chính” kiến giải như thế nào cho đúng? Và có nên đặt ra không? Vấn đề thị trường hóa các lễ hội cũng đang đau đáu trong ứng xử của các nhà quản lý văn hóa. Quản lý như thế nào cho các lễ hội đi vào con đường đúng đắn v.v… Cho nên, nêu ra 5 nỗi băn khoăn trên, chúng tôi cũng nhằm nghiên cứu cho đúng hướng, giải quyết những vấn đề bức xúc về tâm thức dân gian đi vào những nhận thức văn hóa đúng đắn hơn.

                                                              Mùa xuân Canh Tý 2020

BÙI VĂN TAM



[1] Ngô Đức Thịnh - Đạo Mẫu NXB Khoa học Xã hội 2007 trang 142-143.

[2] Ngô Đức Thịnh - Đạo Mẫu - Sđd trang 137

[3] Ngô Đức Thịnh - Đạo Mẫu Việt Nam - Sđd - trang 158. Như vậy, chính Ngô Đức Thịnh đã công nhận có Tam tòa Thánh Mầu ở Phủ Dầy gồm Liễu Hạnh, Duy Tiên và Quế Anh công chúa.

[4] Ngô Đức Thịnh - Đạo Mầu Việt Nam - Sđd trang 62.

[5] Ngô Đức Thịnh - Đạo Mầu Việt Nam - Sđd - trang 158. Như vậy, chính Ngô Đức Thịnh đã công nhận có Tam tòa Thánh Mầu ở Phủ Dầy gồm Liễu Hạnh, Duy Tiên và Quê Anh công chúa.

[6] Ngô Đức Thịnh , Đạo Mâu Việt Nam, Sđd trang 62.

[7] Ngô Đức Thịnh - Phủ Quảng Nạp. Sđd. Bài của Dương Văn Vượng trang 134.

[8] Đạo Mu Việt Nam - Sđd. Trang 331.

[9] Trong các tài liệu ở Phủ Quảng Nạp từ đời Lê đến Duy Tân lục niên (1912) bài Giáng bút của Thánh Mẩu có ghi: “Ta vâng mệnh giáng sinh, niên hiệu Thiệu Bình. Thiên Hựu đến nay 535 năm... Xin hãy làm con tính trừ 1912-1434=? Có được 500 năm không?”

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2020

CÁ NHÂN TRONG NƯỚC AN NAM XƯA

 Trong tương lai gần, viện nghiên cứu văn hóa Minh Triết sẽ tiếp tục xuất bản bản dịch tiếng Việt hai luận văn tiến sĩ của giáo sư Nguyễn Mạnh Tường«Nức tiếng tranh khôi đoạt giáp với 2 bằng Tiến sĩ Quốc gia ở tuổi 22 (1932). Giáo sư Luật và văn  Nguyễn Mạnh Tường (1909 -1997) là hình ảnh mẫu mực của người trí thức Việt Nam về lòng tự trọng và bảo toàn danh dự.” Để có thể có những gợi ý tiếp xúc, chúng tôi trân trong mời bạn đọc Lời giới thiệu của chính tác giả trong CÁ NHÂN TRONG NƯỚC AN NAM XƯA  do dịch giả HIẾU TÂN thực hiện.

 

                                 GS. Nguyễn Mạnh Tường & GS. Hoàng Xuân Hãn tại Paris năm 1989

LỜI GIỚI THIỆU

 

Mở đầu nghiên cứu này chúng tôi thấy có bổn phận trình bày đôi lời biện giải và đưa ra một số giải thích.

Chúng ta biết đại cương sự tiến triển của nền lập pháp An Nam. Vào thời điểm chúng tôi viết những dòng này, một Bộ Dân luật mới vừa được ban hành, mà người ta cắt gọt theo mẫu Dân luật Pháp năm 1804. Như vậy công trình của Napoléon sau khi đã làm lóa mắt thế giới bằng ánh sáng chói chang của mình, sau hơn một thế kỉ, sau khi đã cung cấp dồi dào dưỡng chất cho luật pháp của nhiều nước phương Tây, đã vượt qua bao sông núi biển khơi, sắp sửa kết thúc hành trình vinh quang của nàng trên mảnh đất Viễn Đông cổ xưa, nơi mà có lẽ nàng muốn qua những ngày cuối cùng của mình trong bình yên và thanh thản. Nàng sắp sửa chạy trốn khỏi những đối nghịch của châu Âu văn minh, những phê bình bạc bẽo và khắt khe mà một trường phái luật học trẻ không ngớt tuôn ra với nàng. Người ta muốn nàng già nua, trăm tuổi, mang trên đôi vai gầy guộc của nàng gánh nặng của biết bao mùa đông lạnh lẽo, trong cái vẻ lụ khụ uy nghiêm của mình, nàng không còn tỏ ra đủ dẻo dai và linh hoạt để chạy theo cuộc sống luôn luôn trẻ trung, luôn luôn đổi mới. Phẫn nộ trước thái độ cực kì xấc láo ấy, nàng suy nghĩ tìm nơi ẩn náu êm ả trong mảnh đất viễn đông này, nơi mà xưa nay người già được tôn kính, tuổi già được tôn trọng và quý mến. Và ở đó, để phản bác mạnh mẽ những lời công kích nàng, bắt chước một triết gia cynique (khuyển nho) chứng minh vận động đang tiến lên, nàng đã chứng tỏ sức sống và khả năng sinh sản mắn của mình bằng cách đẻ con...Một đứa bé xinh đẹp giống mẹ nó như hai giọt nước: cả hai đều là tác phẩm của sự thỏa hiệp.

Nhưng không có gì là mới dưới ánh mặt trời, như Sách Giảng viên (Ecclésiaste)[1] đã than. Cũng chính hiện tượng này đã xảy ra cách đây hơn một trăm năm, vào buổi bình minh của thế kỉ mười chín. Vào thời gian đó vua Gia Long đã lên ngôi vua nước Nam, các đạo quân của ông vừa mới đây đã vãn hồi hòa bình. Xã hội tự điều hòa các cảm xúc của nó và tự tái lập trong thế cân bằng. Trật tự trở lại trong tiếng hoan hô nồng nhiệt. Một kỉ nguyên thịnh vượng mở ra. Gia Long lo ra một bộ Luật mới cho đế chế của ông. Vì mục đích ấy ông giao cho các cố vấn pháp luật của nhà nước sưu tập những điều luật và phong tục của nước Việt Nam cổ xưa. Trong suy nghĩ của ông, tất cả những luật lệ ấy phải tôn trọng tinh thần của các truyền thống cổ, thỏa mãn những nhu cầu mới của đời sống kinh tế và xã hội. Luật pháp phải xuất phát từ công việc hai mặt bảo tồn và thích nghi, dung hòa đòi hỏi tôn trọng với đòi hỏi của cuộc sống, thống nhất trong một tổng thể hài hoà những di sản đáng trọng của quá khứ dân tộc, những đòi hỏi chính đáng của thực tại. Nhưng Gia Long đã có lựa chọn sai lầm, và ông cố vấn pháp luật mà ngài ủy thác đã tỏ ra thờ ơ trễ nải hơn cả người phương Đông. Ông ta áp dụng một cách chặt chẽ và cẩn thận nguyên tắc cố gắng ít nhất; và thay vì làm tròn cái sứ mệnh tinh tế và khó khăn mà ông ta được giao phó, lười biếng hơn và kém tài hơn cả những người cóp nhặt [văn] ở Byzance, thậm chí không buồn nhét thêm lời của mình vào văn bản, ông ta đã tự hài lòng với việc sao chép nguyên xi Bộ Luật Mãn Thanh.

     Đây chính là lúc mà  An Nam vừa giành được độc lập, nhân dân Annam nhận được món quà mừng là một bộ luật nước ngoài mới được làm ra thế nhưng họ phải tuân theo và tôn trọng. Nền văn minh Trung Hoa bằng cách này củng cố nền thống trị mà nó đã áp đặt lên nhân dân An Nam từ nhiều thế kỉ. Như vậy Bộ Luật Gia Long đã biết đến một tài sản mà nó không xứng đáng và ngự trị không có tranh chấp trong  hơn một thế kỉ, cho đến thời gian gần đây. Không có nền pháp chế nào kém tính An Nam hơn nền pháp chế mà nó ban bố.

     Chúng ta cần xuất phát từ nguồn nào để phát hiện ra luật pháp thật sự của An Nam? Chúng ta cần tìm ở công trình lập pháp nào để gặp được thiên tài luật học An Nam? Thật ra, chúng ta cần hạ thấp yêu cầu. Không có một nền luật học đặc thù và thuần túy An Nam. Thiên tài luật học của An Nam chỉ là giấc mơ dịu ngọt mà người ta có thể ngây ngất chếnh choáng nhưng sớm muộn rồi cũng phải thức tỉnh. Tuy nhiên không nên hiểu rằng luật An Nam, dù ta có ngược về quá khứ xa xôi đến đâu, thì cũng chỉ là bản sao nhợt nhạt và mờ mịt hoàn toàn thiếu độc đáo, từ một nền lập pháp nước ngoài, nó không bao giờ hắt lại một hồi quang cực nhỏ của tâm hồn An Nam.

     Thật ra, nếu chúng ta đồng ý từ bỏ việc đi tìm cái tuyệt đối và tự bằng lòng với cái tương đối đơn giản thì chúng ta sẽ nhanh chóng nhận ra rằng có thứ thoả mãn được khẩu vị của chúng ta và làm dịu tính tò mò của chúng ta. Chúng ta biết rằng trước khi soạn (sưu tầm) bộ luật Gia Long, triều Lê đã lo cho dân An Nam một bộ luật xứng đáng với nó. Cái ấy gọi là Luật Nhà Lê, mà ông Maître, giám đốc Viện Viễn Đông Bác Cổ đã phát hiện ra vào tháng 12 năm 1908 trong Thư viện của đế quốc ở Huế ông Raymond Deloustal đã dịch và công bố trong Kỉ yếu Trường Viễn Đông Bác Cổ (Bulletin de l'Ecole Française d'Extrême- Orient). Chắc chắn là - ông nói với chúng ta trong Lời giới thiệu ông viết cho bản dịch của M.H. Deloustat - bộ Luật này thấm đẫm tư tưởng Trung Hoa, nó đã tái tạo trung thành những của Luật của triều Đường, làm mẫu cho tất cả những tập sau, và đã được giữ hơn một mục. Nhưng đó là Luật Trung Hoa được sửa sang trong nhiều thế kỉ và hàng loạt những cách tân tiên tục trong những bộ phận... Dường như An Nam đời Lê sau khi đã thật sự giành được độc lập chính trị trước Triều đình phương Bắc, nhờ thiên tài của Lê Lợi, đã có một cố gắng rụt rè, nhưng thực chất và liên tục, nới lỏng những mối ràng buộc quá chặt của chư hầu về tinh thần trói nó với nền văn minh Trung Hoa. Từ đó dẫn đến Luật Nhà Lê là một tác phẩm độc đáo hơn nhiều, nếu ta muốn, mang đặc thù An Nam hơn Luật Nhà Nguyễn. Bởi vậy nghiên cứu việc xét xử dưới triều Lê không chỉ quan trọng thuần túy về mặt lịch sử: nó còn cho ta tri thức về tâm tính người An Nam mà không đâu trình bày chính xác hơn các định chế pháp luật.

     Chính bộ luật này, mang đặc tính An Nam nhất so với tất cả những luật thừa kế nó ở An Nam, là cái mà chúng tôi nghiên cứu trong tác phẩm này. Bộ Luật Gia Long đã là đối tượng của nhiều nghiên cứu xuất sắc, trong đó trước hết phải nhắc đến nghiên cứu của Silvestre. Nhưng Luật Nhà Lê dường như đã bị các nhà luật học và sử học bỏ qua. Theo chỗ chúng tôi biết, nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu đầu tiên về chủ đề này. Chúng tôi không tìm kiếm vinh dự gì ở đó. Chúng tôi chỉ muốn hi vọng rằng người ta nhìn nhận chúng tôi khoan dung hơn. Nên nhớ rằng đi dạo bên những khóm cây được chăm sóc cẩn thận thì dễ hơn nhiều mở lối băng qua nơi hoang vu nguy hiểm của một khu rừng nguyên sinh.

     Ý định của chúng tôi là nghiên cứu luật pháp xưa của đời Lê từ một quan điểm thịnh hành trong toàn bộ tầm rộng của nó và cho phép hiểu nó một cách sâu sắc. Chúng tôi muốn nghiên cứu tình hình cá nhân trong nhà nước Cổ  An Nam theo những văn bản pháp luật và nhằm những mục đích khoa học. Trong tất cả các xã hội loài người người ta nhận thấy có những kẻ thống trị và những người bị trị, có sự hiện diện của giới có quyền lực và những cá nhân. Hai lực lượng chủ yếu, mà toàn bộ đời sống xã hội dao động giữa chúng. Mỗi lực lượng có thể đưa ra những khía cạnh phức tạp, khái niệm quyền lực của cá nhân thể hiện bằng nhiều cách và dưới nhiều hình thức. Nhưng chúng ta luôn luôn thấy chúng trong tính đối ngẫu không thể tránh khỏi, trong sự đối kháng bắt buộc, trong sự chống đối liên tục của chúng. Mục tiêu của công trình của chúng tôi là xác định những mối quan hệ qua lại và những mối quan hệ tương ứng của chúng trong những hoàn cảnh muôn mặt của sự tồn tại đồng thời của chúng, vấn đề là một sự tổng hợp, một tiếu luận tổng hợp logic cách nào đó đưa vào nghiên cứu Luật pháp đời Lê. Chúng tôi đã thử phối hợp các văn bản pháp lí giới thiệu chúng theo một lược đồ của hệ thống tư tưởng và theo một trật tự logic. Chúng tôi cho rằng theo cách ấy sẽ dễ dàng đọc về một bộ Luật, bỏ qua sự tổng quát hóa theo kiểu hàn lâm, bỏ qua những hệ thống tiện lợi, những lí thuyết tập hợp khéo léo. Liên kết các bài báo với nhau bằng những chuỗi logic, chúng tôi muốn gỡ ra từ khối rối rắm các văn bản một số ý tưởng rõ ràng và chính xác còn dưới dạng manh nha, một số nguyên tắc rõ ràng và dễ hiểu còn đang ẩn tàng ở đó. Bằng cách này chúng tôi tiến tới rọi một chút ánh sáng lên tâm hồn người An Nam. Nhưng đây chỉ là nhân thể thêm vào. Mục tiêu chính của công việc của chúng tôi vẫn là làm một tổng hợp logic từ một mớ luật lệ hỗn độn.

     Xin đừng hiểu lầm ý định của chúng tôi. Như chúng tôi đã tuyên bố, chúng tôi chỉ chuyên theo đuổi những mục đích khoa học. Nếu phong trào cá nhân được phát động ở thời điểm hiện tại trong xã hội An Nam có thể gặp trong việc trình bày nghiên cứu những đạo luật, nếu thậm chí có thể thấy ở đó cả vũ trang, chúng tôi xin tuyên bố hoàn toàn không chịu trách nhiệm.

   Chúng tôi không muốn làm một tác phẩm phê phán chính trị hay xã hội, chúng tôi chỉ muốn đi đến chỗ hiểu, không có gì ngoài hiểu, và có thể làm cho mọi người hiểu. Chúng tôi hoàn toàn không quan tâm đến việc sử dụng những sự thật tốt hay xấu mà chúng tôi đã đạt được, tại điểm ấy thực ra nhiệm vụ khoa học của chúng tôi đã kết thúc.

Chúng tôi luôn muốn thiết lập những so sánh giữa luật mà chúng tôi nghiên cứu và luật của nhiều nước khác nhau ở phương Tây. Thậm chí có lần chúng tôi đã liều dùng một số ám chỉ rõ ràng nhưng chúng tôi không dám làm điều đó một cách hệ thống bởi vì như thế chúng tôi buộc phải mở rộng đáng kể cái khuôn khổ rất khiêm tốn của công việc của chúng tôi. Cuối cùng chúng tôi xin báo trước bạn đọc rằng bạn sẽ không thấy trong nghiên cứu này việc khảo sát đầy đủ và tỉ mỉ về tất cả những vấn đề mà luật An Nam đặt ra, và có trong lịch sử luật đời Lê. Có thể chúng tôi sẽ trở lại lịch sử này khi nào có hoàn cảnh thuận lợi. Nhưng nếu mong muốn của chúng tôi không thể thực hiện, thì chúng ta vẫn có thể gặp trong tác phẩm này tất cả những yếu tố hữu ích cho mục đích đó. Nếu có ai đó sẽ nhận làm việc này, chúng tôi xin bày tỏ lời chúc nồng nhiệt nhất cho cố gắng của họ thành công trọn vẹn. Với tất cả sự không hoàn hảo lộ rõ, với những thiếu sót không thể tránh khỏi của nó, chúng tôi hi vọng cuốn sách này vẫn sẽ có ích và giúp được cho những ai có trí tò mò về luật học so sánh và triết lí pháp luật. Người ta sẽ phát hiện ở đây một quan niệm độc đáo về đời sống xã hội và luật học cũng như những tư tưởng đẹp đẽ và cao quý, sẽ rọi một ánh sáng mới vào tâm hồn một dân tộc. Chúng tôi xin kết luận bài này bằng cách thành kính nhớ lại kỉ niệm về ông Aurousseau, giám đốc trường Viễn đông Bác Cổ, giáo sư trường Cao đẳng Pháp, là người trong thời gian đó đã quan tâm đến những nghiên cứu của chúng tôi, - chúng tôi chân thành cám ơn và tỏ lòng hết sức ngưỡng mộ các nhà bác học của trường Viễn đông Bác Cổ, nhờ những nghiên cứu của họ mà công việc của chúng tôi mới thành tựu. Chúng tôi xin gửi lòng biết ơn đầy xúc động tới các vị thầy của Khoa Luật, những người đã chăm chút và biệt đãi chúng tôi, chúng tôi mang ơn các thầy về đào tạo luật khoa, và xin mãi mãi ghi nhớ công lao của các thầy.

 

 

 

ĐẠI HỌC MONTPELLIER – KHOA LUẬT

CÁ NHÂN

trong nước An Nam xưa

L’INDIVIDU

Dans la Cité annamite

(tổng luận về Luật đời Lê)

Luận văn tiến sĩ Luật khoa của

NGUYỄN MẠNH TƯỜNG

CỬ NHÂN VĂN CHƯƠNG (VĂN CHƯƠNG THUẦN TÚY)

TỐT NGHIỆP CAO HỌC VĂN CHƯƠNG CỔ ĐIỂN

 GIẢI THƯỞNG VĂN KHOA VÀ LUẬT KHOA

CỦA THÀNH PHỐ MONTPELLIER

LUẬT SƯ TẠI TÒA ÁN

____________________

 

Chủ tịch Hội đồng:  GUENOUN, giáo sư

MORIN

Bỏ phiếu giám khảo

BECQUE

 

 

 

MONTPELLIER

Nhà in báo, Phố Jardin Martel

Téléphone: 47-84

1932

 

 

 

 

ĐẠI HỌC TỔNG HỢP MONTPELLIER

_______________

KHOA LUẬT

________________

Các ông:

VALERY, Trưởng khoa danh dự, Viện sĩ thông tấn, Giáo sư Luật Thương mại. MOYE, Trưởng khoa danh dự, Giáo sư Luật quốc tế công. MORIN, Trưởng khoa, Giáo sư Luật Dân sự. BECQUÉ, Giáo sư Luật Dân sự.DE NESMES-DESMARETS, giáo sư luật hành chính.

ROCHE-AGUSSOL, Giáo sư Kinh tế Chính trị. BOSC, Giáo sư tố tụng dân sự. GUENOUN, giáo sư luật La Mã. COURTIN, Giáo sư Kinh tế Chính trị. DUPEYROUX, giáo sư luật hiến pháp. LEGAL, Giáo sư Luật Hình sự. PETRAU-GAY, giảng viên Lịch sử Luật,

DIJOL, phụ trách khóa L.DONAT, thư ký. DUBOIS và ROCHETTE, thư ký danh dự.

CÁC THÀNH VIÊN BAN GIÁM KHẢO

Các ông:

GUENOUN, Chủ tịch Hội đồng Giám khảo. MORIN, Giám khảo

BECQUÉ, Giám khảo. Khoa không có ý tán thành hay không tán thành các ý kiến ​​viết trong luận văn: các ý kiến ​​này phải được coi là ý kiến riêng của tác giả của chúng.

Gửi tới ông

GUENOUN

 

Tới các ông

MORIN, và BECQUÉ

Gửi tới những người thầy của tôi

ở Khoa Luật lòng biết ơn nồng nhiệt

N.M.T

 

 

MỤC LỤC

 

 

GIỚI THIỆU

PHẦN MỘT

Ý NIỆM VỀ BỔN PHẬN

QUYỂN MỘT: CÁ NHÂN TRƯỚC QUYỀN LỰC CÔNG

Chương một: Cá nhân trước vương quyền

 

thuyết vương quyền trong học thuyết của khổng tử. đặc điểm của vương quyền trong học thuyết của khổng tử. đặc điểm của vương quyền: thần thánh, nhân đức, gia trưởng. Hệ quả của nó: nghĩa vụ tôn trọng của cá nhân đối với thể chất và đạo đức của Hoàng đế.

Chương hai: Cá nhân trước trật tự công cộng

Cố gắng xây dựng khái niệm * về trật tự công cộng: tập hợp các nhu cầu của nhóm xã hội. Các ký tự * của khái niệm này. Dẫn đến hậu quả: tôn trọng trật tự và an ninh, chính trị, luật pháp và các quy định, nộp thuế, tôn trọng chính quyền và công chức. Nghĩa vụ đối với người nước ngoài ở cấp độ quốc tế. Pháp chế về nghi thức. Đạo đức của trật tự công cộng.

QUYỂN HAI: CÁ NHÂN TRƯỚC GIA ĐÌNH.

CHƯƠNG MỘT: HÔN NHÂN

Quan niệm về hôn nhân *, hành vi xã hội, gia đình, hợp đồng. Nghĩa vụ phát sinh từ đó. Hợp đồng hành động, nhưng mong muốn của cha mẹ, ràng buộc ràng buộc của các thỏa thuận chung. Hành vi tôn giáo: sự cần thiết của một nghi lễ, sự cản trở sinh ra từ ý tưởng gia đình. Hành vi xã hội: tuân thủ các nghi thức và quy định của pháp luật nhằm đảm bảo công khai và bảo vệ đạo đức.

CHƯƠNG HAI: GIA ĐÌNH. 89

Quan niệm của Nho giáo về gia đình của bạn. quan niệm về đạo hiếu và quyền làm cha trong luật an nam xưa. bổn phận của con cái đối với cha mẹ. nghĩa vụ của phụ nữ đối với chồng và các thành viên khác trong gia đình bổn phận của đầy tớ và gia nhân đối với chủ.

CHƯƠNG BA:  những người chết. 119

Quan niệm về cái chết trong nền văn minh An Nam. Các nghĩa vụ phát sinh từ đó: bổn phận, buồn bã và tang tóc, kiêng mọi trò giải trí. Cái chết truyền cảm hứng cho việc hợp pháp hóa lăng mộ. Sự thờ cúng người chết: tài sản Hương Hóa, khu bảo tồn tôn giáo trong luật An Nam, bản chất, sự quản lý của nó, sự tàn phá của nó.

QUYỂN BA: CÁ NHÂN TRƯỚC CÁ NHÂN.

Chương duy nhất. - Bổn phận của cá nhân đối với cá nhân. 149

Tôn trọng tài sản. Luật tài sản, bảo vệ sự hưởng thụ. Transactiôrisef tranh chấp mà họ là chủ đề. Nhiệm vụ của chủ sở hữu. Luật hợp đồng * nhu cầu xã hội về sự tự tin mà hợp đồng đã thỏa mãn;-nghĩa vụ cá nhân-kết quả từ-hợp đồng. Luật tra tấn. Nghĩa vụ đạo đức thuần túy. Bổn phận của cá nhân đối với người khác. Bổn phận của mình đối với bản thân.

PHẦN HAI

 KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN.

QUYỂN MỘT: CÁ NHÂN TRƯỚC CÁ NHÂN.

Chương duy nhất: Cá nhân trước cá nhân .190

Quyền của chủ sở hữu được bảo vệ về quyền lợi và sự an toàn của mình. Quyền tài sản khi có sự trùng lặp giữa quyền sở hữu và quyền sở hữu: tài sản thế chấp; quyền năng cứu chuộc của điên cuồng hương hoa. Quyền chiếm hữu; quyền-của đức tin sôi nổi trong lĩnh vực hợp đồng.

QUYỂN HAI: CÁ NHÂN TRƯỚC GIA ĐÌNH.

CHƯƠNG MỘT: QUYỀN CỦA CHỦ GIA ĐÌNH

Quyền kiểm tra, không thừa kế, các giới hạn mà nó được thực hiện. Quyền làm quà tặng mortis causa. Quyền nhận con nuôi. Tầm quan trọng của nó trong xã hội An Nam cũ. Quyền xa lánh hương hoa trong một số trường hợp nhất định. Trên thực tế, ngày càng có nhiều quyền quan trọng hơn vì lòng hiếu thảo ngăn cản con cái vươn lên chống lại ý muốn của người chủ gia đình.

CHƯƠNG HAI: QUYỀN CỦA TRẺ EM

Quyền hạn tiêu cực do các nhiệm vụ đặt ra cho người cha. Quyền được tôn trọng trong pháp nhân của mình. Quyền được bảo vệ trong thể nhân của mình. Quyền được bảo vệ về quyền gia trưởng của mình, chống lại các thành viên trong gia đình, chống lại anh chị em: quyền bình đẳng về chia sẻ, không có đặc quyền sinh con trai; chống lại cha hoặc mẹ tái hôn: quyền thừa kế trong những trường hợp này. Quyền của con nuôi.

CHƯƠNG BA:  QUYỀN CỦA PHỤ NỮ. Chống lại quyền lực hôn nhân và trong hôn nhân. Quyền trong trường hợp từ chối hoặc ly hôn. Quyền của góa phụ. Bảo vệ người; bảo vệ tài sản: chia sẻ bình đẳng, quyền của cô gái đối với hương hoa. Quyền của phụ nữ đối với tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; quyền thừa kế khi hôn nhân tan hợp. Quyền trông nom và quản lý của góa phụ đối với tài sản của con cái. Bình đẳng giữa vợ và chồng trong các vấn đề pháp lý.

QUYỂN BA: CÁ NHÂN TRƯỚC QUYỀN LỰC CÔNG.

CHƯƠNG DUY NHẤT: QUYỀN CỦA CÁ NHÂN TRƯỚC NHÀ NƯỚC

quyền bình đẳng với h quả của nó. bảo vệ chống lại quyền lực và cơ quan công quyền trong lĩnh vực tài chính. bảo vệ chống lại cơ quan công quyền trong lĩnh vực này. hành chính. bảo vệ chống lại sự tùy tiện của công chức. bảo vệ chống lại quyền lực công trong lĩnh vực tư pháp. res judicata thẩm quyền; quyền được mua; quyền kháng cáo. bảo lãnh cấp cho đương sự. xin lỗi, và sự thiếu hiểu biết, bảo vệ tuổi tác và đức hạnh. quyền được tha thứ. nguyên tắc không cộng dồn hình phạt. quyền hành động chống lại các giám đốc của các lệnh khác nhau. bảo vệ chống lại quyền lực của đế quốc. quyền khởi nghĩa chống lại chế độ quân chủ bất xứng.

 

Kết luận

sách tham khảo

       Mục lục

 

 

 



[1] Sách Giảng viên (Ecclésiaste): Kinh Thánh Do Thái, thuộc Cựu ước.