Thứ Ba, 15 tháng 6, 2021

TIẾN SĨ ĐINH CÔNG VỸ MỘT YẾU NHÂN “CỔ LAI HY” SÁNG GIÁ

     TRƯƠNG SỸ HÙNG


                                             Đinh Công Vỹ, Trương Sỹ Hùng, Hữu Thỉnh tham quan bảo tàng văn học Nga 

của Thúy Toàn tại Từ Sơn, Bắc Ninh – tháng 6 năm 2019. Ảnh Nguyễn Văn Lưu

     Mở rộng tầm suy nghĩ, hoạt động chuyên môn được đào tạo chính quy, ngay từ những ngày đầu tiên xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng và tạp chí, kỷ yếu ngành hẹp; Đinh Công Vỹ đã, đang và hiện vẫn theo đuổi những ý tưởng nghiên cứu khoa học xã hội, góp phần sáng tác văn học ở dạng ký sự lịch sử và thơ ca. Anh say mê với ngôn từ, chữ nghĩa bằng tất cả mọi sinh lực, trong mọi hoàn cảnh xã hội, trong mọi mối quan hệ gia đình, để có được khá nhiều thành tựu.

     Sinh trưởng ở Sơn Tây, vốn có nguồn gốc xuất thân từ xứ Đoài xưa thuộc ngoại, nội thành Hà Nội; một thời gian dài cư ngụ tại khu Khâm Thiên (quận Đống Đa) rồi lại trở về ở Sơn Tây khi đến tuổi nghỉ hưu, để suốt ngày, tháng, năm liên hoàn, Đinh Công Vỹ làm thơ, viết văn khảo cứu, tìm hiểu thế giới tâm hồn, tìm hiểu thân thế, sự nghiệp của các bậc cổ nhân nước Việt. Gặp những vấn đề tư liệu tiểu sử tác giả hay tác phẩm bi ký của các danh nhân văn hóa còn chưa được minh bạch, anh kỳ cục mày mò viết bài tôn vinh, góp phần khẳng định nhiều mặt giá trị lịch sử, nhắc lại những chiến tích, những công trạng làm ăn, đánh giặc, dựng nước và giữ nước của các bậc tiên tổ. Gần đây, hàng loạt công trình nghiên cứu, sưu tập của Đinh Công Vỹ được tái bản, in mới, góp thêm những bằng chứng về đức tính kiên trì, cần cù lao động sáng tạo của một tiến sĩ khoa học lịch sử. Vì hiểu công việc của nhau, tâm đầu ý hợp với nhau trong nhiều vấn đề khoa học, đôi khi cứ gặp nhau ở một hội thảo khoa học nào đó, hoặc là hội thơ Việt Nam hàng năm vào ngày Rằm tháng Giêng, tôi thường gọi anh là “tiến sĩ kép”, Đinh Công Vỹ cười tít mắt, rồi bắt lời vui vẻ.

    Những năm anh Vỹ làm luận án tiến sĩ sử học là lúc tôi làm “chân chạy”- cách gọi thân mật của thầy Đinh Gia Khánh – trong nhóm biên tập và tổ chức biên soạn bộ Tổng tập văn học Việt Nam; (42 tập đã xuất bản trọn bộ, Nxb. KHXH, năm 2000). Anh Phạm Ngọc Hy cán bộ biên tập thường sai tôi đi gặp, giao dịch tài liệu, bản thảo với các nhóm chủ biên, trong đó có giáo sư Văn Tân chủ biên tập 1. Khoảng thời gian ấy, Đinh Công Vỹ được ban đào tạo sau đại học viện Lịch sử cử đến nhà riêng số 21 Hòa Mã, gặp giáo sư Văn Tân xin được thầy hướng dẫn luận văn. Vốn có tính hăng hái, xông xáo, được tiếp cận người thầy nổi tiếng có “cái gu” viết nghiên cứu lịch sử và văn chương na ná nhau về phong cách, anh lao vào đọc; đọc và viết ngay từ khi giáo sư chưa có nhiều thì giờ hướng dẫn. Chờ đến lúc giáo sư Văn Tân xem lại bản đề cương, đọc nội dung sơ thảo luận án, ông nhận ra ngay sự năng động, sáng tạo của nghiên cứu sinh Đinh Công Vỹ.

   Rủi thay, duyên phận đã đưa đẩy nghiên cứu sinh Đinh Công Vỹ sang thầy khác hướng dẫn vì sức khỏe của giáo sư Văn Tân sau độ tuổi 80 bị suy giảm nhanh chóng. Thế là đương nhiên anh phải thay đổi đề tài, sao cho tương thích với sở trường tư duy của mình. Song, đúng là trong mỗi đời người thường có những bước thăng trầm, biến đổi gần như thiên định đã “gắn chip”. Sưu tầm, đọc chọn, thiết kế tư liệu, vận dụng và chọn lọc điểm kế thừa, phê phán và loại bỏ hay lấy phương pháp tiếp cận nào làm chủ đạo… với hàng loạt thao tác khoa học đâu phải chuyện tùy hứng. Tình thế buộc Đinh Công Vỹ phải lựa chọn, hoặc là từ bỏ ý nguyện làm luận án tiến sĩ hoặc tiếp tục thực hiện thì phải tìm ra một đề tài khác, với thầy khác có thể có một vài nét tương đồng trong tư duy khoa học.

              

Trương Sỹ Hùng và Đinh Công Vỹ tại Quốc Tử Giám (Hà Nội)

đầu xuân Tân Sửu (2021). Ảnh: Phương Văn

      Đinh Công Vỹ quyết tâm làm luận án tiến sĩ bằng chủ đề khác, nhưng cũng gắn liền với những đóng góp của nhà bác học Lê Quý Đôn ở thế kỷ XVIII. Đúng là “Trời có mắt, chẳng bao lâu sau cả hai bản luận văn tiến sĩ của anh; một bản sau đẫ được bảo vện chính thức tại hội đồng chấm luận án tiế sĩ cấp quốc gia năm 1991. Phải nói thêm rằng, Đinh Công Vỹ và Cung Khắc Lược là hai vị tiến sĩ đầu tiên của viện nghiên cứu Hán Nôm, các anh thuộc tốp thứ hai sau khi Việt Nam chính thức có hệ đào tạo sau đại học.

     Hồi tưởng của bạn cùng quê, đồng tuế, đồng môn Lê Văn Chung có nói đến chi tiết gần 10 năm Đinh Công Vỹ không dự thi vào đại học, vì quan niệm ấu trĩ tả khuynh thời ấy từ cả hai phía chủ quan và khách quan. Một chút hơi hướng lý lịch có thể có lãnh đạo địa phương vin cớ, nhưng điểm nhấn mạnh hơn nếu cần là thuở nhỏ cậu bé Đinh Công Vỹ là đứa trẻ thông minh kèm theo đức tính bộc trực, thẳng thắn và táo bạo đôi khi. Những trang viết Lá cờ thêu sáu chữ vàng (1960) của Nguyễn Huy Tưởng, truyện thơ Phù Đổng Thiên Vương (1970) của Huy Cận, Quận He khởi nghĩa (1963), Nguyễn Trung Trực (1964) Bên bờ Thiên Mạc (1967) của Hà Ân… đã ngấm dần, ảnh hưởng sâu sắc trong tâm tư tình cảm và biến đổi thành chất là tinh thần yêu nước của Đinh Công Vỹ. Chỉ có điều vì tính bồng bột, hiếu thắng của lứa tuổi mới lớn, thích phưu lưu mạo hiểm, Vỹ đã lấy bông lau, tầu lá chuối làm cờ, bắt chước Phù Đổng, Đinh Tiên Hoàng hòa mình cùng lũ trẻ trong làng cầm quân đánh trận giả và xưng vương... Thực chất đó chỉ là biểu hiện non nớt của tuổi vị thành niên, có thể coi là mầm mống của ý chí rèn luyện tự giác để vượt qua trở ngại, đặng giành được thắng lợi trên những chặng đường đời về sau, chẳng may gặp phải sự kỳ thị, có vị cán bộ xã lúc bấy giờ cho là hành động nổi loạn nên có ý kiềm chế.

     Sự cảm hóa tư tưởng, sự hình thành nhân cách, sự hun đúc tình cảm của mỗi con người cụ thể, là tổng hòa bền bỉ, thường xuyên của nhiều yếu tố tác động khách quan, nhưng những người yêu thích đọc sách báo, lao động cần cù bao giờ cũng có một cách sống giản dị, hăng say sáng tạo.

Phải chăng khi chớm tuổi trưởng thành, Đinh Công Vỹ đã mê mẩn với hình ảnh Thúy Kiều, tưởng là nàng chỉ có sắc đẹp “chìm đáy nước cá lờ đờ lặn/ Bổng lưng trời nhạn lửng lơ sa”; với cảnh “chị em thơ thẩn dan tay ra về” trong “lễ là tảo mộ hội là đạp thanh” qua đoạn trích giảng thầy truyền đạt từ sách giáo khoa. Rồi ấn tượng ấy cứ bám lấy tâm trí anh, Đinh Công Vỹ lớn lên cùng thời cuộc, trải nghiệm lẽ đời, chứng kiến cảnh bom đạn, loạn ly tang tóc thời chống Mỹ, anh hiểu sâu sắc hơn về giá trị hiện thực của truyện Kiều. Đó là nguyên cớ khiến anh viết được những trang xúc tích, sử dụng tư liệu lịch sử khá chính xác, góp phần là sáng tỏ nhiều sự kiện bị chép sai hoặc chưa rõ ràng. Các tác phấm tiêu biếu của Đinh Công Vỹ đã xuất bản như: Thảm án các công thần khai quốc triều Lê (1991) Phương pháp làm sử của Lê Quý Đôn (1994), Các bậc khai quốc triều Lê – còn có tên là Bí sử một vương triều (2003) Chuyện tình vua chúa hoàng tộc Việt Nam(2004), Bên lề chính sử (2005) Nguyễn Du đời và tình (2006),  Trái tim đồng điệu (2007), Chuyện lạ về 12 con giáp (2011) Nhà sử học Lê Quý Đôn (2012), Chuyện tình kẻ sĩ Việt Nam (2016)…Ngoài ra, Đinh Công Vỹ còn là tác giả của hơn 200 bài báo, hội thảo và một số công trình nghiên cứu khoa học đồng tác giả có giá trị, như: Cội nguồn (viết chung với Nguyễn Văn Thành-  6 tập - 1996), Nhìn lại lịch sử, in lần đầu năm (viết chung vối Phan Duy Kha và Lã Duy Lan - 2003) Nguyễn Trực từ cội nguồn tới ngôi sao rực sáng trên văn đàn Tháng Long (viết chung với Nguyễn Quốc Khánh – 2005)…v.v.

Mở đầu những năm hai mươi của thế kỷ XXI, tiến sĩ Đinh Công Vỹ đã thực thụ trở thành một nhà nghiên cứu văn hóa nghiêng theo ngành sử học và Hán Nôm, có tận dụng tư liệu điền dã dân gian. Thành tựu đáng biểu dương ấy, âu cũng là một điển hình mẫu người cán bộ nghiên cứu khoa học xã hội áp dụng thành công phương pháp nghiên cứu tổng hợp liên ngành đã chiếm lĩnh được niềm tin yêu của đông đảo công chúng, học giả và thi nhân.

Tiến sĩ Đinh Công Vỹ là một yếu nhân “cổ lai hy” sáng giá.

 

 

Thứ Bảy, 5 tháng 6, 2021

CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRÊN BÀN CỜ QUỐC TẾ

     Là một chuyên đề lịch sử hiện đại của giáo sư Vũ Dương Ninh đã được xuất bản. Đây là bài trả lời phỏng vấn trang báo mạng Thế giới & Việt Nam năm 2016, nay xét thấy bài vẫn nóng hổi tính thời cuộc.TMT trân trọng giới thiệu.


 

 

 

 

 Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Vũ Dương Ninh nêu bật quá trình hội nhập quốc tế và mối liên hệ giữa Việt Nam với thế giới trong lịch sử.

     Nội dung cuốn sách phân tích các cuộc đàm phán ngoại giao ở Hà Nội, Geneva và Paris; các mối quan hệ tam giác Việt-Pháp -Hoa năm 1946, Việt-Trung-Xô năm 1950-1975 và vị thế của Việt Nam trong cục diện. 

     Cuốn sách cũng dành nhiều trang viết về đường lối hội nhập quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là quan hệ Việt-Mỹ, Việt Nam - ASEAN. Phần cuối nêu lên một số kinh nghiệm đối ngoại, những chặng đường hội nhập quốc tế và sự hội nhập của Việt Nam nhìn từ góc độ lịch sử.

Điều gì đã khiến Giáo sư quyết định biên soạn cuốn sách này?

     Trong suốt 5 thập kỷ giảng dạy và nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, tôi nghiên cứu về lịch sử thế giới nói chung. Từ năm 1986, tôi đi sâu nghiên cứu về lịch sử quan hệ quốc tế rồi tập trung vào lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam và đã viết 3 cuốn sách (Thế giới, Việt Nam và những vấn đề hội nhập; Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam; và Cách mạng Việt Nam trên bàn cờ quốc tế - Lịch sử và vấn đề). 

     Riêng cuốn Cách mạng Việt Nam trên bàn cờ quốc tế đưa ra một số bài viết mang tính khảo cứu thể hiện quan điểm nghiên cứu của tôi về những vấn đề cốt yếu trong lịch sử đấu tranh giải phóng đất nước. 

Tại sao Giáo sư lại lựa chọn phân tích khía cạnh “lịch sử và vấn đề”? 

     Đặt vấn đề lịch sử ở đây vì tôi là nhà nghiên cứu lịch sử, nhìn hoạt động đối ngoại Việt Nam theo quan điểm lịch sử. Nhưng từ lịch sử ấy có thể rút ra vấn đề gì trong thời đại hiện nay? Thực tiễn hiện nay đặt ra nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tiến trình hội nhập quốc tế. Từ lịch sử 70 năm qua, ta rút được những gì cần chú ý. Ví như trong mọi trường hợp chúng ta phải giữ được đường lối độc lập tự chủ trong đối ngoại, phát triển kinh tế và bảo vệ lãnh thổ; hay từ những kinh nghiệm quan hệ với đồng minh và đối thủ, trong hội nhập ngày nay, chúng ta nên xử lý như thế nào với các đối tác và đối tượng để đi tới mục đích cuối cùng của mình là xây dựng và bảo vệ đất nước theo kịp sự phát triển của thế giới.

Trong quá trình biên soạn, Giáo sư có gặp khó khăn nào không?

     Khó khăn đầu tiên là việc sưu tầm tài liệu, đặc biệt là nguồn tài liệu nước ngoài. May mắn tôi có nhiều bạn bè đồng nghiệp tìm giúp, đồng thời tôi khai thác tài liệu trên mạng. Tìm được tài liệu rồi, nhưng xử lý tài liệu ra sao còn khó hơn. Quan điểm của tôi khi viết cuốn sách là tôn trọng khách quan lịch sử, nhưng cũng phải viết như thế nào để tránh gây phức tạp trong quan hệ đối ngoại. 

Chẳng hạn như vấn đề Khmer Đỏ, năm 1982, tôi đã đến Phnom Penh thăm nhà tù Toul Sleng mà Khmer Đỏ giam giữ và tàn sát tù nhân. Tôi đã gặp Chủ nhiệm khoa Lịch sử (Đại học Phnom Penh), người đã chứng kiến tội ác diệt chủng kinh khủng này và nghe ông kể chuyện về chính cuộc đời mình, về việc quân đội Việt Nam đã vào giải phóng Campuchia, hồi sinh đất nước này ra sao... Nhưng, do một số toan tính chính trị mà việc làm nhân đạo của Việt Nam bị lên án thành hành vi xâm lược và trong những năm 1970 và 1980, nhiều nước tìm cách bao vây cô lập chúng ta. Bài học rút ra là những hoạt động nhân đạo phải đi cùng với hoạt động ngoại giao, có sự giải thích vận động để tranh thủ được sự đồng tình của dư luận. 

Theo Giáo sư, những bài học đối ngoại trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước là gì?

     Đó là phần 2 của cuốn sách. Trong phần này, cũng như cả cuốn sách, tôi khai thác mảng bối cảnh lịch sử khá phức tạp của các sự kiện quan trọng. Tôi đi sâu phân tích tam giác quan hệ Trung - Mỹ - Xô. Trong đó có nêu vấn đề Việt Nam là nước nhỏ, tiềm lực kinh tế yếu chống lại một nước kinh tế mạnh, quân sự mạnh. Tôi không chỉ nêu sự chênh lệch tương quan về khía cạnh quân sự và kinh tế mà ngay trong lĩnh vực quan hệ quốc tế cũng rất chênh lệch. Họ có bộ máy khổng lồ với những nhà ngoại giao dày dạn kinh nghiệm, có phương tiện truyền thông rộng khắp, hơn hẳn ta. Vậy mà với tinh thần lấy yếu đánh mạnh, ta đã buộc họ phải ngồi vào bàn đàm phán, họ phải lùi từng bước để cuối cùng đi đến ký Hiệp định Paris.

     Điểm nữa là tôi phân tích Việt Nam đã xử lý mối quan hệ với đồng minh (Trung Quốc và Liên Xô) và với đối thủ (Mỹ) như thế nào, nhất là khi hai đồng minh mâu thuẫn với nhau và đều muốn lôi kéo đối thủ. Với nhãn quan của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo Đảng, chúng ta đã thấy chỗ yếu của họ và thế mạnh của ta cho dù bất đồng, mâu thuẫn với nhau, cả Liên Xô và Trung Quốc đều ủng hộ ta đánh Mỹ.

     Trong nội dung đàm phán Paris, tôi đã nghiên cứu tài liệu của phía bên kia để hiểu được những bước đi của họ thế nào? Tôi đi sâu phân tích bối cảnh hết sức nguy hiểm khi hai đồng minh quay sang bắt tay với đối thủ… Nhưng Hiệp định Paris được ký kết cho thấy sự thành công của tính độc lập tự chủ, kiên định mục tiêu giải phóng dân tộc của ngoại giao Việt Nam. Cho nên thắng lợi 30/4/1975 trên các mặt chính trị, quân sự, đồng thời cũng là thắng lợi của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam.

 Tư tưởng phong cách ngoại giao HCM

     Ngành Ngoại giao Việt Nam rất vinh dự và tự hào được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên.

     Là lãnh tụ thiên tài, là nhà ngoại giao kiệt xuất đã sáng lập ra nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, Bác đã chỉ đạo công tác ngoại giao nước nhà vượt qua muôn vàn khó khăn, góp phần giành độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Từ chủ nghĩa yêu nước và truyền thống văn hóa Việt Nam, bằng kho tàng tri thức đồ sộ Đông-Tây, với bản lĩnh dạn dày và kinh nghiệm vô cùng phong phú qua hàng chục năm bôn ba hoạt động cách mạng, Bác đã để lại cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại một tư tưởng ngoại giao đặc sắc - Tư tưởng Ngoại giao Hồ Chí Minh.

     Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bao hàm những nguyên lý, nội dung, phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao. Người đề cao các quyền dân tộc cơ bản, bao gồm độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, hòa bình và chống chiến tranh xâm lược. Người nhấn mạnh ngoại giao “phải luôn luôn vì lợi ích của dân tộc mà phục vụ” ; độc lập tự chủ, tự lực tự cường phải gắn liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế, theo đó Việt Nam sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” . Người hết sức coi trọng tình hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng có chung biên giới; mở rộng bang giao với các nước trong khu vực và trên thế giới; xử lý tốt quan hệ với các nước lớn để phục vụ lợi ích cách mạng.

Trong phương pháp, Người xác định ngoại giao phải là một mặt trận, một binh chủng hợp thành của cách mạng Việt Nam, kết hợp nhuần nhuyễn “vừa đánh vừa đàm”, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn. Người luôn đặt Việt Nam trong dòng chảy của thế giới, coi trọng các trung tâm quyền lực, các trào lưu lớn. Người đặc biệt đề cao “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, lấy cái không thể thay đổi để ứng phó với muôn sự thay đổi, giữ vững tính nguyên tắc, kiên định, vững chắc của mục tiêu chiến lược với tính linh hoạt, uyển chuyển của sách lược cách mạng. Phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh còn thể hiện truyền thống yêu hòa bình của dân tộc ta, nỗ lực giải quyết bất đồng bằng các phương cách hoà bình.

     Trên nền tảng văn hóa dân tộc, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh thấm đẫm giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại, kết hợp nhuần nhuyễn văn hoá Đông-Tây. Về tư duy, Người căn dặn phải có quan điểm toàn diện, “nhìn cho rộng suy cho kỹ” để thấy rõ được xu thế chung và chiều hướng của tiến bộ xã hội. Trong ứng xử, Người kết hợp hài hòa giữa các giá trị dân tộc và quốc tế, làm cho mọi người cảm thấy gần gũi, thân tình. Trong giao tiếp, Người dùng cách thể hiện bình dị để gửi gắm hiệu quả những thông điệp ngoại giao.

Nét nổi bật trong nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh là sự vận dụng nhuần nhuyễn “năm cái biết” (biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến), là khả năng tạo dựng thời cơ và chớp thời cơ, là ngoại giao tâm công giúp thu phục lòng người bằng chính nghĩa, tình người, lẽ phải và đạo lý. Những thành tựu của đối ngoại Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ Tổ quốc ta đã thể hiện rõ nét sự tài tình của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng các nghệ thuật ngoại giao để đưa cách mạng đến thành công.

     Thực tiễn đã chứng minh Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là di sản vô giá, là nền tảng sức mạnh và là chìa khóa để triển khai thắng lợi, hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng qua các giai đoạn cách mạng. Chính nhờ sự vận dụng sáng tạo Tư tưởng ngoại giao của Người trong tình hình mới, đối ngoại Việt Nam đã giành được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần duy trì môi trường hoà bình, thu hút các nguồn lực cho phát triển, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và nâng cao vị thế quốc tế của nước ta.

     Đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc, có quan hệ đối tác chiến lược, toàn diện với 30 nước. Chúng ta hết sức coi trọng quan hệ với các nước láng giềng chung biên giới, các đối tác chiến lược, toàn diện; đã đưa quan hệ với các đối tác ngày càng đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, từng bước xử lý ổn thoả các vấn đề phát sinh, tồn tại. Đồng thời, chúng ta đã nỗ lực phát triển quan hệ ngày càng thiết thực với các nước láng giềng khu vực và bạn bè truyền thống.

     Tiến trình hội nhập quốc tế của nước ta ngày càng sâu rộng, hiệu quả. Về kinh tế, Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế thông qua ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do, qua đó tạo ra những động lực to lớn cho phát triển. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đánh giá Việt Nam nằm trong số 20 nền kinh tế có đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng toàn cầu năm 2019. Dù dịch COVID-19 đang gây ra suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng Việt Nam vẫn tăng trưởng dương vào loại cao trong khu vực. Hội nhập quốc tế về chính trị - an ninh - quốc phòng, xã hội - văn hoá và các lĩnh vực khác ngày càng sâu sắc.

     Với thế và lực mới, Việt Nam đã tham gia và đóng góp tích cực ở hầu hết các tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, đảm nhiệm thành công nhiều trọng trách, đang phát huy hiệu quả vai trò Chủ tịch ASEAN 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2020-2021. Việt Nam đã và đang đóng góp tích cực trong giải quyết nhiều vấn đề quốc tế quan trọng như: góp phần bảo đảm an ninh lương thực, đẩy mạnh hợp tác quốc tế phòng chống dịch COVID-19, thúc đẩy hoà bình và hoà giải trên bán đảo Triều Tiên...

     Trong môi trường quốc tế ngày càng phức tạp, đối ngoại đã góp phần hiệu quả vào bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Chúng ta đã nỗ lực xây dựng đường biên giới trên bộ hoà bình, hữu nghị và phát triển với Lào, Campuchia và Trung Quốc. Trước những phức tạp ở Biển Đông, chúng ta đã đánh giá đúng tình hình, đấu tranh, xử lý kịp thời, tỉnh táo, sáng suốt, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, các quyền và lợi ích chính đáng của Việt Nam trên biển.

     Bên cạnh những kết quả trên, các trụ cột và lĩnh vực quan trọng khác của công tác đối ngoại đều đạt nhiều thành tựu. Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân, đối ngoại Quốc hội, đối ngoại quốc phòng - an ninh được triển khai hiệu quả, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng; ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa, bảo hộ công dân, công tác người Việt Nam ở nước ngoài, thông tin đối ngoại cũng được triển khai chủ động, tích cực, góp phần quan trọng vào thành tựu đối ngoại chung của đất nước.

*

*           *

     Bên thềm thập niên thứ ba của thế kỷ 21, thế giới đang chứng kiến những biến động to lớn, sâu sắc và khó lường. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đại dịch COVID-19 đã góp phần đẩy nhanh hơn những chuyển biến sâu sắc trong cục diện quốc tế, tác động trực tiếp tới môi trường an ninh và phát triển của nước ta. Chúng ta cần tiếp tục vận dụng sáng tạo Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh để đặt Việt Nam vào đúng “dòng chảy của thời đại”, tạo sức mạnh to lớn đưa cách mạng Việt Nam tới những thắng lợi mới.

     Theo đó, ngoại giao Việt Nam cần phát huy tốt vai trò là “một mặt trận” tiên phong nhằm củng cố vững chắc môi trường quốc tế thuận lợi và thu hút các nguồn lực phục vụ phát triển và nâng cao vị thế đất nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ lúc nước chưa nguy. Các “binh chủng” của đối ngoại Việt Nam, gồm ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Đảng và đối ngoại nhân dân cần đồng tâm hiệp lực để tận dụng được những cơ hội mới và xử lý hiệu quả những thách thức phức tạp đang đặt ra. Chúng ta cần vận dụng tốt nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Cần kiên định mục tiêu bất biến là lợi ích tối thượng của quốc gia - dân tộc với nội hàm là hoà bình, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao sức mạnh và vị thế của quốc gia; đồng thời, linh hoạt, khéo léo trong sách lược, hành động để xử lý cái "vạn biến" của tình hình. Trước những phức tạp ở Biển Đông, chúng ta kiên trì sử dụng các biện pháp hoà bình để giải quyết tranh chấp, đồng thời "kiên quyết bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: Toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”  như lời Bác căn dặn.

     Chúng ta cũng cần tiếp tục thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế sâu rộng để đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho người dân và doanh nghiệp. Thực hiện tư tưởng của Bác về đoàn kết và hợp tác quốc tế, chúng ta tiếp tục coi trọng quan hệ với các nước láng giềng có chung biên giới; đưa vào chiều sâu quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới; đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương.

     Trong tình hình mới, cán bộ đối ngoại cần thường xuyên phấn đấu, tu dưỡng như lời Bác dặn: "chỉ có qua học tập, qua sự cố gắng của từng cá nhân và cả ngành thì công tác ngoại giao mới đáp ứng nhu cầu của đất nước" . Cán bộ đối ngoại cần vừa "hồng", vừa "chuyên" để xây dựng nền ngoại giao Việt Nam hiện đại trong thời kỳ mới. Đặc biệt, cần thực hiện lời căn dặn của Bác: “phải luôn luôn vì lợi ích dân tộc mà phục vụ và nhà ngoại giao phải khôn khéo để lợi ích đó được đảm bảo" .

     Dưới ánh sáng của Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, ngoại giao Việt Nam sẽ tiếp tục viết lên những thành công mới, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa nước ta sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác hằng mong ước.


Thứ Ba, 18 tháng 5, 2021

MỖI LẦN TRÌNH DIỄN LẠI THẤY TRUYỆN KIỀU BÙNG NỔ SỨC MẠNH NỘI TẠI

 CHRISTOPHE THIRY

     Tôi từng sống ở Việt Nam từ năm 1970 đến 1974. Hồi đó, tôi là đặc phái viên khoa học nghiên cứu về rừng nhiệt đới của Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam ở Sài Gòn. Giai đoạn này, tôi đã đọc rất nhiều sách về văn hóa Việt Nam và văn học Việt Nam, trong đó có cuốn Truyện Kiều, bản dịch sang tiếng Pháp của ông Nguyễn Văn Vĩnh, lúc ấy vừa được tái bản và xuất hiện rất phổ biến ở các hiệu sách Pháp ngữ trong thành phố.

     Bản dịch gồm ba phần: phần một gồm khổ thơ Kiều viết dưới dạng chữ quốc ngữ. Kế đến là phần dịch nghĩa khái quát sang tiếng Pháp, và thứ ba là phần cắt nghĩa từng từ tiếng Việt sang từ tiếng Pháp. Nhờ bản dịch thiên về tính học thuật hơn giá trị văn chương ấy, tôi đã hiểu được rành mạch tác phẩm.

                Một bức trong bộ tranh Đông Hồ do Pascal sưu tầm

     Mặc dù Truyện Kiều được Nguyễn Du viết vào đầu thế kỷ XIX, dựa trên một tác phẩm Trung Quốc thế kỷ XVI, dĩ nhiên bức tranh xã hội đấy chẳng có điểm nào giống với thập niên 70 ở Sài Gòn đương thời. Tuy vậy, cuốn sách khiến tôi hiểu hơn về việc dịch thuật, về trào lưu đọc sách của giới thượng lưu bấy giờ, nhất là về tinh thần lãng mạn của người dân Việt Nam mà ta bắt gặp khắp mọi nơi. Quả thật người Việt thấm đượm chủ nghĩa lãng mạn. Và về mặt này, Truyện Kiều hoàn toàn tương ứng với chất trữ tình ấy.

      Mấy năm trước, tôi từng tổ chức triển lãm bộ sưu tập tranh dân gian Việt Nam tại Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở Paris, trong đó, bộ tranh Đông Hồ minh họa Truyện Kiều đã thu hút sự chú ý của khách thưởng tranh với phần chú thích rõ ràng, mạch lạc. Riêng các bộ tranh minh họa Truyện Kiều, tôi thấy điều này khá hiếm trên thế giới, ở chỗ, một tác phẩm cực kỳ phổ biến trong dân chúng được kể lại bằng tranh.

     Tôi nghĩ, người Việt thế kỷ trước chắn hẳn đều biết đến Truyện Kiều, thuộc lòng nhiều đoạn thơ, nhưng rất ít trong số họ đã đọc sách bản chữ Nôm. Tranh Đông Hồ minh họa Kiều góp phần vào việc phổ biến hơn nữa Truyện Kiều trong dân gian và gìn giữ nó qua các thời vận, thăng trầm của đất nước.


     Tranh Đông Hồ không giàu giá trị nghệ thuật như tranh khắc gỗ Nhật Bản, không đậm đặc tình tiết, tỉ mẩn như tranh khắc gỗ Trung Hoa, nhưng đặc biệt ở chỗ, chúng bảo tồn và chất chứa được toàn bộ nền văn hóa Việt, bởi chúng rất phổ biến. Với bộ tranh minh họa Truyện Kiều, tôi cảm nhận được ở đó một cơ số nét duyên dáng ẩn hiện, rõ rệt hơn nhiều so với các tranh khác, như Thạch Sanh chẳng hạn.

     Phong cách thể hiện trong tranh Kiều gợi nhắc đâu đó vẻ đẹp yêu kiều của thi ca Nguyễn Du. Sự duyên dáng thoát ra từ dáng điệu của nhân vật trong tranh, cách họ đứng ngồi, trang phục của họ. Có một sự chuyển giao ngầm từ phong cách văn chương đến phong cách hình họa. Ví dụ trong cảnh Thúy Kiều chơi đàn sum vầy cùng Thúy Vân và Kim Trọng, xuất hiện hình ảnh lò hương trầm. Người nghệ nhân khắc tranh đã tinh tế khắc làn khói, như thể làn khói ấy đồng hành dìu dặt cùng tiếng đàn của nàng.

     Ở đây, hồn Việt được khắc họa trong từng cử chỉ của nhân vật trong tranh, sự mềm mại toát ra từ trang phục của họ; trong việc chỉ chọn minh họa một số ít nhân vật, tối giản hóa các trang trí trong không gian, nhưng phần trang trí này phải gợi mở được quang cảnh Truyện Kiều, như một cành lê thấp thoáng ở góc này, một bóng cây nở hoa ở góc kia… Ta cảm nhận được sự luân chuyển của thời gian, sắc màu của mùa màng. Tất cả điều ấy thấm đẫm màu sắc Việt.

     Lấy bức Kim - Kiều gặp nhau lần đầu tiên trong tiết Thanh Minh là một ví dụ. Một cảnh với phần trang trí cực tối giản, chỉ thấy vòm cây nở hoa tỏa bóng phía trên đầu hai nàng Thúy Vân - Thúy Kiều. Chỉ chi tiết này cũng mang đến thông tin về thời điểm trong năm (tiết xuân tháng Ba hoa nở), mở ra trước ta không gian riêng tư trữ tình, và ta cảm được cả sự tò mò của hai nàng thiếu nữ dậy lên trong tranh qua cử chỉ nghiêng đầu khẽ nhìn về phía chàng Kim Trọng.

     Những điều này không thể gặp trong tranh khắc Trung Hoa, không có nét vẽ chiếc cổ thiếu nữ khẽ vươn ra để nhìn chàng trai rõ hơn qua vòm cây. Tất cả nét tinh tế, duyên dáng này phảng phất tính thơ của Truyện Kiều văn chương, biến nó thành tính thơ của hội họa trong tranh khắc dân gian Đông Hồ. Một chất thơ dân tộc được chuyển tải và bảo tồn nguyên vẹn.

Giáo sư Jean Pierre Pascal - nguyên giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Khoa học quốc gia tại thành phố Lyon, Pháp

Lan Tử Viên ghi

Theo PNO 02/10/2020



 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Thứ Bảy, 10 tháng 4, 2021

TỔ QUỐC HIÊN NGANG CỘT CỜ LŨNG CÚ

                                                                                            THANH THẢO

    Tôi rất ấn tượng một đoạn văn trong bút ký “Trở lại Mèo Vạc” của nhà văn Nguyên Ngọc viết năm 1991: “…Rất đột ngột, bỗng thấy mình đã đứng trên một đỉnh cao chót vót, đỉnh cao nhất. Và trước mặt, một kỳ quan chưa từng thấy: Không còn ngọn núi đất nào nữa. Chỉ còn toàn đá. Một cao nguyên đá. Mênh mông, trùng điệp, lô nhô, lởm chởm, cuồn cuộn hàng triệu đợt sóng đá dồn dập như những bức trường thành đá vô tận, nhọn hoắt, sắc lẹm, nham nhở, lở lói, khô cằn, khắc nghiệt…Đá, đá, đá bạt ngàn, hút chân trời. Đá vôi đen xỉn. Và tuyệt không còn gì khác.”

  

                 Nhà thơ Thanh Thảo thăm Cột Cờ Lũng Cú

Tôi chỉ muốn nói thêm vào đoạn văn đã rất hay này của anh Nguyên Ngọc: Còn, còn những nương ngô xanh ngắt mọc trùm lên những mặt núi đá khắc khổ. Còn, còn cột cờ Lũng Cú sừng sững hiên ngang trên chót đỉnh ngọn núi Rồng cao 1.700 mét so với mặt nước biển, cột cờ trấn giữ điểm cực Bắc của Tổ quốc chúng ta.

Người ta nói, nếu hình dung đường biên giới Việt-Trung như một chóp nón, thì hai điểm thấp nhất của chóp nón này nằm ở A-pa-chải (Điện Biên), Sa Vĩ (Móng Cái), còn đỉnh chóp nón là Lũng Cú. Và, tâm đỉnh của Lũng Cú chính là ngọn núi Rồng.

Cuối tháng 7/2012, khi tôi lên đây, cao nguyên đá Đồng Văn đã vào mùa mưa. Từ thị trấn Đồng Văn đi Lũng Cú chỉ khoảng 30 km, nhưng do đường quanh quất cua tay áo và buổi sáng xe toàn chạy trong mây hay sa mù, nên chúng tôi phải đi mất hơn giờ đồng hồ mới tới.

Lúc chúng tôi dừng ở chân núi Rồng, trời nắng đẹp. Nhưng chỉ khoảng 5 phút sau, khi chúng tôi bắt đầu leo 389 bậc dẫn lên đỉnh núi nơi dựng cột cờ, trời đột ngột đổ mưa lớn. Mưa nắng thất thường có lẽ là một đặc điểm của vùng chót đỉnh cực Bắc này chăng? Không ai trong đoàn dừng lại hay bỏ cuộc. Chúng tôi đội mưa leo qua 389 bậc dẫn tới đỉnh núi. Tại sao có con số 389 bậc?

Tối hôm trước, chúng tôi đã ngủ lại một đêm với các chiến sĩ Huyện đội Đồng Văn, chuyện trò rất khuya với đại tá Lê Trân-chỉ huy trưởng huyện đội( bây giờ gọi là “Ban chỉ huy quân sự huyện”), anh Lê Trân mới “bật mí” cho biết, chính anh là tác giả của con số 389 bậc đá này.

Tại sao lại 389? Anh Trân cười: “Thông thường, khi tính con số đẹp, người ta hay chọn “9 nút”. Riêng tôi lại nghĩ: nhất chín, nhì bù. Đã đành, số 9 là con số đẹp nhất, nhưng số 10 lại tính thêm được phần “bù” của những người lính bảo vệ biên cương chúng tôi. Khi cầm súng ở địa đầu Tổ quốc này, chúng tôi nghĩ cả đất nước luôn đứng đằng sau mình, luôn “bù” cho mình tất cả những tình cảm thiết tha yêu mến nhất. Cột cờ Lũng Cú tượng trưng cho ý chí và sự kiên định bảo vệ từng tấc đất từng mỏm đá của Tổ quốc, đó cũng là khát vọng của những người lính biên cương chúng tôi. Vì thế, tôi đề nghị với ban xây dựng Cột Cờ nên chọn con số 389 (bậc), một con số “tiến” và nếu cộng lại thì “tròn 10”. Đó là con số cuối cùng, tột đỉnh, như một lời thề”.

Khi đã đọc xong “lời thề” 389 bậc, và leo thêm 140 bậc thang xoắn ốc ngay trong lòng cột cờ, chúng tôi đã lên tới đỉnh Lũng Cú. Gió ào ạt. Mưa quất xối xả. Nhưng trong gió, trong mưa, lá cờ đỏ sao vàng thiêng liêng có diện tích 54m2-tượng trưng cho 54 dân tộc Việt Nam-được cắm trên cán cờ cao 13m vẫn bay phần phật.

Giây phút ấy, cả đoàn chúng tôi như ngập trong một trạng thái đặc biệt: Cứ như cả Tổ quốc đang sừng sững trong gió trong mưa, đang sừng sững trong tâm hồn mình. Lá cờ thiêng vẫn tung bay phần phật, bất chấp thời tiết. Đó thực sự là một biểu tượng cho nước non mình, dù chịu bao khắc nghiệt đắng cay vẫn ngẩng cao đầu không khuất phục.

Có một luồng năng lượng kỳ lạ nào chợt lưu chuyển trong tôi, khiến toàn thân đột nhiên ấm áp, mặc cho gió mưa quất tơi tả bốn bề. Khi rời đỉnh Cột Cờ xuống chân núi, bỗng mưa tạnh. Nắng lên. Trời xanh ngắt.

Lũng Cú-tiếng H’Mông có nghĩa là “Long cư”-nơi cư ngụ của Rồng. Còn theo một truyền thuyết của người địa phương, thì ở thời Tây Sơn, sau khi Hoàng đế Quang Trung đại thắng quân xâm lược phương bắc, Người đã cho đặt một chiếc trống đồng rất lớn tại Lũng Cú, và cứ mỗi canh giờ trống lại được gióng lên ba hồi ầm vang xa đến bên kia biên giới cũng nghe được. Những hồi trống đĩnh đạc khẳng định chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của Tổ quốc chúng ta. Và tên Lũng Cú còn có nghĩa là “Long Cổ”-tức trống của Vua. Một truyền thuyết thật đẹp và rất Việt Nam.

Khởi từ thời Lý Thường Kiệt, sau rất nhiều lần xây dựng lại và trùng tu, cột cờ quốc gia Lũng Cú mà chúng tôi chiêm ngưỡng hôm nay được hoàn thành ở lần nâng cấp sau cùng vào đúng ngày 2/9/2010. Đã nhiều lần, các vị Chủ tịch nước Việt Nam đã lên thăm cột cờ Lũng Cú.

Tôi rất thích bức ảnh chụp Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đứng trên chót đỉnh cột cờ, phía sau có một chiến sĩ vệ binh nghiêm trang bồng súng chào, cùng lời nói lịch sử của vị nguyên thủ quốc gia: “ Phải giữ cho được từng tấc đất mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta!”.

Không ở đâu hơn khi đứng trên đỉnh cột cờ Lũng Cú, chúng tôi thấm thía từng chữ của câu nói này. Vì trước mặt chúng tôi, rất gần là biên giới, còn phía sau chúng tôi là trùng điệp mênh mang cao nguyên đá Đồng Văn.

Năm nay, bà con H’Mông ở Lũng Cú-Đồng Văn được mùa ngô. Những bắp ngô mập mẩy, nặng trĩu tay cầm. Đã có biết bao mồ hôi đổ ra trên tầng tầng đá núi để được những bắp ngô ấy. Cũng như có biết bao xương máu đồng bào và liệt sĩ chúng ta đã đổ ra cho cột cờ quốc gia Lũng Cú đứng hiên ngang một dáng hình Tổ quốc.

Nếu đất nước ta là một con tàu như nhà thơ Xuân Diệu đã hình dung, mũi tàu là Mũi Cà Mau, thì cột cờ Lũng Cú chính là cột cờ ở đằng lái của con tàu. Uy nghiêm và điềm tĩnh phóng tầm mắt cảnh giác bao quát cả miền biên viễn cực Bắc Tổ quốc.  

Ngày Quốc khánh 2/9 năm nay, lại hiển hiện trong tôi cột cờ Lũng Cú, nơi tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi một lần trong đời được đến viếng thăm, một lần được leo lên tới chót đỉnh.

Tôi coi chuyến đi về cột cờ Lũng Cú của mình như một cuộc hành hương, mà khởi đầu là nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên - Hà Giang, và kết thúc là một bữa trưa trong bản nhỏ của người H’Mông, nơi lần đầu tiên tôi được ăn ngon lành ba bát mèng méng kèm dưa nương, trước ánh mắt thân thương của bà con người H’Mông.

Nghe nói, hầu như người dân H’Mông nào ở Lũng Cú cũng đều biết đánh trống đồng. Nhưng không chỉ biết đánh trống đồng, người H’Mông - những con người tự do như gió và bất khuất như đá mà tôi vô cùng kính phục - còn có biệt tài đánh giặc xâm lăng.

Tôi đã gặp và nghe ở bản nhỏ ấy, trong bữa trưa mèng méng ấy câu chuyện về người dân bản này đã 3 lần đánh thắng quân xâm lược Trung Quốc vào năm 1984.  Nhưng có lẽ, đó là câu chuyện dành cho một bài viết khác mà tôi sẽ có dịp trình bạn đọc.

 

 

Thứ Bảy, 3 tháng 4, 2021

VÔ TỰ LÀ CHÂN KINH – MINH TRIẾT THƠ NGUYỄN DU

         NGUYỄN KHẮC MAI

     LƯƠNG TRIỀU CHIÊU MINH THÁI TỬ PHÂN KINH XỨ

 























渡人  





其中奧旨多不明

 

 

Thạch đài do kí "Phân kinh" tự
Đài cơ vu một vũ hoa trung
Bách thảo kinh hàn tận khô tử
Bất kiến di kinh tại hà sở
Vãng sự không truyền Lương thái tử
Thái tử niên thiếu nịch ư văn
Cưỡng tác giải sự đồ phân phân
Phật bản thị không bất trước vật
Hà hữu hồ kinh an dụng phân
Linh văn bất tại ngôn ngữ khoa
Thục vi Kim Cương vi Pháp Hoa
Sắc không cảnh giới mang bất ngộ
Si tâm quy Phật Phật sinh ma
Nhất môn phụ tử (1) đa giao tế
Nhất niệm chi trung ma tự chí
Sơn lăng bất dũng liên hoa đài
Bạch mã triêu độ Trường Giang thủy
Sở lâm họa mộc trì ương ngư
(2)
Kinh quyển thiêu hôi đài diệc dĩ
Không lưu vô ích vạn thiên ngôn
Hậu thế ngu tăng đồ quát nhĩ
Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn
Thuyết pháp độ nhân như Hằng Hà sa số
(3)
Nhân liễu thử tâm nhân tự độ
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu
Minh kính diệc phi đài
Bồ Đề bản vô thụ
(4)
Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
Kì trung áo chỉ đa bất minh
Cập đáo Phân kinh thạch đài hạ
Chung tri vô tự thị chân kinh
(5)


 







  1. Một nhà cha con (cùng không hiểu Pháp). Lương Vũ Đế 梁武帝, năm Phổ thông thứ 8, sai sứ đi thỉnh Bồ Đề Đạt Ma 菩提達摩 về thành đô là Kim Lăng. Đế hỏi: "Trẫm lên ngôi đến nay, xây chùa, chép kinh độ tăng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy có công đức gì không?". Sư Đạt Ma đáp: "Đều không công đức. Tại sao không có công đức? Bởi vì những việc vua làm là hữu lậu chỉ có những quả nhỏ trong vòng Nhân, Thiên, như ảnh tùy hình, tuy có, nhưng không phải thật. Vậy công đức chân thật là gì?. Trí phải được thanh tịnh hoàn toàn. Thể phải được trống không vắng lặng, như vậy mới là công đức, và công đức này không thể lấy việc thế gian (như xây chùa, chép kinh, độ tăng) mà cầu được". Sau câu chuyện đối đáp này, Sư biết tâm vua không khế hợp được với pháp mình, bỏ đi.
  2.  Bạch Mã, Sở lâm: Chuyện Hầu Cảnh trước là tướng Đông Ngụy, sau hàng Lương rồi lại phản Lương, cưỡi ngựa trắng qua sông Trường Giang đánh Lương Vũ đế. Khi Hầu Cảnh hàng Lương, Đông Ngụy đưa tờ hịch cho Lương, có câu: "Sợ nước Sở mất vượn, họa lây đến cây rừng, cửa thành cháy, vạ lây đến cá dưới ao"
  3. Hằng Hà là một con sông ở Ấn Độ, hai bờ toàn cát. Hằng Hà sa số: nhiều như cát sông Hằng, câu này sau trở thành một thành ngữ
  4. Lục tổ Huệ Năng 六祖慧能, trong một bài kệ có câu:Bồ đề bản vô thụ, Minh kính diệc phi đài, Bản lai vô nhất vật, Hà xứ nhạ trần ai? 菩提本無樹, 明鏡亦非臺 本來無一物, 何處惹塵埃 (Bồ đề vốn không cây, Gương sáng chẳng phải đài, Xưa nay không một vật, Bụi bặm bám vào đâu?)
  5. Vô tự kinh: kinh không chép bằng chữ. Ý nói đạo ở tâm chứ không phải ở kinh kệ

Dịch nghĩa:

                     Đây là nơi phân phát kinh của Thái tử Chiêu Minh nhà Lương.

                     Thạch đài còn ghi hai chữ “Phân kinh”.

                     Nền đài chìm mất trong mưa và hoa rừng.

                     Trăm loài cây cỏ chết rét, khô héo cả.

                     Chẳng còn thấy kinh còn sót lại ở chốn nào.

                     Chuyện Lương Thái tử đã qua truyền mơ màng.

*

                     Thái tử thời trẻ đắm đuối với văn chương,

Ham việc giải thích với phân tích.

(Thật ra) linh văn không ti khoa ngôn ngữ.

Đâu là Kim cương đâu Pháp hoa,

Cảnh giới sắc không, mơ màng không tỏ.

Tâm si mê quy Phật, thì phật sinh ma,

Chỉ trong một niệm thì ma đã tới.

*

Lăng trong núi không dng đài hoa sen.                      

Ngụa trắng một sớm vượt sông Trường giang.

Rừng Sở cháy họa cho cây mà cũng vạ lây cho cá trong ao.

Kinh  cháy mà đài cũng sụp đỗ.

Lưu lại vô ích ngàn vạn lời nói,

(Để đám) ngu tăng đời sau tụng điếc cả tai.

*

Ta nghe đức Phật tổ tại Linh sơn,

Thuyết pháp độ người kể như cát sông Hằng.

Người nào hiểu cho cùng chữ tâm ấy thì có thể tự độ.

Linh sơn chỉ có trong tâm của mình.

Gương sáng và đài gương đều không có                

Bồ đề vốn không là cây.

*

Ta đọc Kim cương ngàn lẻ biến,                                   

Những điều chính sâu xa trong đó rất ảo diệu đều không tỏ rõ.

Cho đến khi đứng dưới đài Phân kinh.

Rốt cùng mới biết Không chữ mới là chân kinh.

     Ta có thể chia bài thơ này thanh mấy khổ (đoạn) NHƯ TRÊN để tìm hiểu. Khổ thứ nhất từ câu Đây là nơi phân phát kinh của Thái tử Chiêu minh nhà Lương đến câu Chuyện Lương Thái tử đã qua truyền mơ màng. Nguyễn Du tả lại cảnh đài phân kinh đã  hoang tàn, nền đài chìm lấp dươi mưa, trăm loại cây đều chết lạnh và héo khô. Hình ảnh tàn phế hoang lạnh khiến ta ngậm ngùi. Đài phân kinh đã mai một trong hoang lạnh. Thế thì kinh còn đến nay ở đâu?

     Khổ thứ hai từ câu Thái tử thời trẻ đắm đuối với văn chương đến câu Chỉ trong một niệm thì ma đã tới. Nguyễn Du chê bai cả hai cha con Lương Vũ đế và Chiêu minh. Con thì chết đuối (nịch) trong văn chương, chăm chắm lo phân lo giải. Bản chất Phật là không dính mắc với vật. Đã là không thì làm gì có kinh để mà phân với phát. Đã là linh văn thì không tại nơi khoa ngôn ngữ. Nguyễn Du khẳng định một triết lý nhà Phật: Ngôn ngữ đoạn đạo. Nếu chấp vào ngôn ngữ sẽ làm đứt con đường đến với Đạo. Cả hai Cha con đều mơ màng không chứng ngộ được thế nào là cảnh giới sắc và không, Đem cái tâm ngu muội mà theo Phật thì Phật chỉ là ma. Cả môt nhà, cha cùng con đều lầm lạc. Chỉ cần một niệm sai lầm thì ma đã tự đến. Đây là triết lý về sự sai lầm trong ý thức, khiến cho “ma đưa lối quỷ dẫn đường, lại tim những lối đoạn trường mà đi!” Biết bao sai lầm trong xã hội ta đã khiến cho con người đang phải sống chen với ma quỷ.

     Khổ thứ ba, từ Sơn lăng không dựng đài hoa sen, đến Lũ ngu tăng đời sau tụng điếc tai. Nguyễn Du chê việc làm vô ích của cha con nhà Lương và cả đám tăng ngu ngốc đời sau.

     Khổ thứ tư Ta nghe Phật tổ tại Linh sơn đến Bồ đề bản vô thụ. Nguyễn Du nhấn mạnh chữ Tâm trong kinh Kim cương: Phật tức tâm Tâm tức Phật. Nhân liễu thử tâm nhân tự độ. Tương truyền rằng một hôm trong pháp hội, Phật đến trước đại chúng bèn giơ lên một bàn tay. Chỉ mình Ca Diếp, vị đại đệ tử của Phật, nhìn Phật và mỉm cười. Phật cho là Ca Diếp đã ngộ được ý của mình. Từ đó xuất hiện phép “dĩ Tâm truyền Tâm” của thiền học, rất thâm thúy ảo diệu. Phương thức “Bất lập ngôn ngữ, Giáo ngoại biệt truyền” ra đời. Thiền sư Huệ Năng xuất hiện ở Trung Hoa với bài Kệ nổi tiếng Bồ đề bản vô thụ. Minh kính diệc phi đài. Bản lai vô nhất vật, Hà sự nhạ trần ai. (Bồ đề vốn không cây. Gương sáng cũng chẳng phải đài. Xưa nay vốn không gì là một vât. Làm sao vướng bụi trần), Ngài khẳng định mạnh mẽ rằng, tu thiền không nhất thiết cứ bám vào kinh văn mà mắc dinh. Vấn đề chính yếu là cái Tâm. Làm cho có được cái tâm thanh tịnh, không còn vướng mắc vào cái tiểu ngã của mình. Hòa được vào cái đại ngã tâm linh của chúng sanh và vũ trụ. Làm được như thế thì trong cái sát na đốn ngộ ấy, ta sẽ đạt tới niết bàn. Trở thanh một Bohdhi Sástva (vị Bồ tát) có cái tâm thế của bâc chính đẳng chính giác (Anudala SamiatSambodhi), Nguyễn Du đã đọc ngàn biến kinh Kim cương, mà vẫn không tỏ (minh) cái gì là ảo diệu trong đó. Chỉ đến khi đến cái đài đó, ông bắt gặp một cái trống không và đột nhiên đốn ngộ rằng Vô tự mới là chân kinh.

     Những ai đã đọc Kinh Kim cương bản dịch của Huyền Trang đời Đường, mà chính văn viết bằng chữ Phạn trên lá bối, nay đang lưu trữ ở một thiền viện tại Nhật Bản, sẽ thấy mỗi câu kinh đều nói đến tính Không của cái Tâm, thì mới thấy Nguyễn Du đã truyền đạt được giá trị minh triết Phật giáo ấy một cách rất thẳm sâu.

    Giá trị minh triết của bài thơ vì thế thật không thể nghị bàn “bất khả tư nghì”.

.

 

.