Thứ Năm, 10 tháng 10, 2019

HỮU LOAN TÁC GIẢ ÁNG THƠ TÌNH RUNG CẢM MÃI VỚI CHUYỆN ĐỜI



HỮU LOAN (1916 - 2010)


Hữu Loan tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2 tháng 4 năm 1916 (theo lý lịch, ông sinh năm 1914) tại làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; học thành chung, rồi đi dạy học, tham gia Mặt trận Bình dân năm 1936, hoạt động Việt Minh ở thị xã Thanh Hóa. Năm 1943, ông về gây dựng phong trào Việt Minh ở quê. Cách mạng tháng Tám (1945) ông làm phó chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn. Hữu Loan là cộng tác viên của các tập san Văn học, xuất bản tại Hà Nội  trước năm 1945. Sau Cách mạng tháng, ông được cử làm Ủy viên Văn hóa trong Ủy ban hành chính lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính. Trong kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tham gia quân đội nhân dân Việt Nam, phục vụ trong đại đoàn 304. Sau năm 1954, ông làm việc tại báo Văn nghệ. Thời gian 1956-1957, ông tham gia Phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Năm 1958, nhà thơ Hữu Loan phải đi học tập chính trị, rồi bị quản thúc tại địa phương. Cuối đời ông về sống tại quê nhà ở tỉnh Thanh Hóa.
Săp tới kỷ niệm 10 năm ngày mất Hữu Loan, Thôn Minh Triết giới thiệu lại bài Màu tím hoa sim nổi tiếng của ông, sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và mấy dòng hồi tưởng đầy cảm xúc về câu chuyện riêng tư trong tình cảm vợ chồng.

MÀU TÍM HOA SIM

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệrớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu…

(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)

                                     và tác giả tự thuật:

     Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.
      Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.
     Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
     Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ…
     Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ …
     Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:-Ngọt quá.Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.
     Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
     Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”. 
     Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. 
     Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn …
     Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. 
     Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim… Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”
     Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!
     Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông … 
     Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi … 
     Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
     Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. 
     Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông . 
     Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. 
     Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì. 
     Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.
     Tưởng nhớ một nghệ sĩ tài ba, một cựu chiến binh, Trung tâm nghiên cứu văn hóa Minh Triết rất mong nhận được những bài viết và tư liệu của đông đảo bạn đọc và các nhà nghiên cứu lịch sử vă hóa, để chúng tôi có thể cùng thân tộc, địa phương quê hương tác giả và bạn bè,,, tổ chức một cuộc tọa đàm hay hội thảo vào đầu năm 2020.

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2019

HOA NAM CỤC – ANH LÀ AI ?


                                                                    Duan Dang

Phần 1

Hẳn người Việt không có ai chưa từng nghe đến cái tên tình báo Hoa Nam, con ngáo ộp khét tiếng trong đời sống chính trị nước Việt Nam. Thế nhưng, gần như chẳng mấy ai biết được tình báo Hoa Nam, hay Hoa Nam tình báo cục, nằm ở đâu trong cơ cấu tình báo của Trung Quốc.

Đối với người Việt, Hoa Nam tình báo ngày nay dường như cụm từ là để chỉ tất cả mọi vấn đề liên quan đến tình báo phương Bắc. Cứ tình báo Trung Quốc thì sẽ được gọi là tình báo Hoa Nam, vốn được xem là một phân cục tình báo phụ trách Nam Trung Quốc, Hồng Kông, Đông Dương và Đông Nam Á.

Định kiến này sẽ dẫn đến sự nhầm tưởng tai hại rằng chỉ có một cơ quan tình báo Trung Quốc hoạt động tại Việt Nam, dưới tên gọi tình báo Hoa Nam. Thực tế, có rất nhiều cơ quan tình báo Trung Quốc cùng hoạt động ngầm ở Việt Nam, cũng như bất kỳ nước nào khác trên thế giới. Vậy đối với người Việt, Hoa Nam tình báo bắt nguồn từ đâu và liệu có thực sự tồn tại một cơ quan như thế hay không? Câu trả lời là có và không.

Để tìm hiểu nguồn gốc Hoa Nam tình báo cục đối với người Việt, cần phải quay trở lại với thời kỳ quốc cộng liên minh kháng Nhật lần thứ hai ở Trung Quốc.

Tháng 10.1937, lãnh đạo đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) triệu tập hội nghị Bộ Chính trị về vấn đề hoạt động cách mạng ở 12 tỉnh phía nam Trung Quốc. Tại đại hội này, CCP quyết định thành lập Cục Trường Giang đặt tại Vũ Hán. Cục Trường Giang chịu trách nhiệm lãnh đạo hoạt động cách mạng ở phía nam và Tân Tứ quân ở miền nam, đàm phán với Quốc dân đảng và mở rộng tầm ảnh hưởng của cộng sản ở các khu vực thuộc quyền kiểm soát của Quốc dân đảng.

Cục Trường Giang lúc này được xem như Bộ Chính trị thứ hai, với sự góp mặt của 5 ủy viên Bộ Chính trị là Chu Ân Lai, Vương Minh, Bác Cổ, Hạng Anh và Khải Phong. Bộ Chính trị thứ nhất lúc đó đặt tại Diên An dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông. Cục Trường Giang lúc đó rất có trọng lượng trong CCP và bị Mao xem như là một cái gai.

Chính Chu Ân Lai, người được xem là ông tổ của tình báo cách mạng Trung Quốc, lúc đó đã nỗ lực thiết lập một mạng lưới tình báo hiệu quả trong lòng địch ở phía nam. Đến tháng 10.1938, Cục Trường Giang được đổi tên thành Cục Nam Phương đặt tại Trùng Khánh. Sau đó, vào năm 1939, Chu ra lệnh cho Phan Hán Niên, một tên tuổi điệp báo lẫy lừng của CCP, thiết lập một mạng lưới tình báo lớn có trụ sở tại Thượng Hải, lấy tên là “Hoa Nam Tình báo Cục”.

Cục Tình báo Hoa Nam chính thức ra đời dưới sự quản lý của Cục Nam Phương (Southern Bureau) từ năm 1939, mặc dù mạng lưới của nó đã được thiết lập rải rác từ trước đó.

Cục Nam Phương phụ trách lãnh đạo kháng chiến ở các vùng Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, Giang Tô, Hồng Kông và đặc biệt phụ trách quan hệ với các phong trào cách mạng ở Đông Nam Á.

Đây có lẽ là yếu tố then chốt khiến Cục Tình báo Hoa Nam trở nên khét tiếng ở Việt Nam và Đông Nam Á bởi việc cục này cài cắm gián điệp vào các phe phái đối địch với phong trào cộng sản ở khu vực hoặc thậm chí vào chính các đảng có quan hệ là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt khi kinh đô của phong trào cộng sản ở Đông Á khi đó nằm tại Thượng Hải và Hồng Kông. Đây là hai địa bàn đặt trụ sở chính của tình báo Hoa Nam do Phan Hán Niên lãnh đạo. Cơ quan này cài cắm nhiều điệp viên nằm vùng trong lòng giới ngoại giao và quân đội Nhật Bản cũng như Quốc dân đảng.

Một trong những thành tích chói sáng nhất của tình báo Hoa Nam thời Đệ nhị thế chiến là nắm trước được thời điểm chiến dịch Barbarossa xảy ra. Đây là cuộc tiến công chớp nhoáng do Hitler phát động nhằm vào Liên Xô.

Theo sử sách Trung Quốc, một điệp viên của Hoa Nam tình báo ở Trùng Khánh đã nghe ngóng được trong giới ngoại giao Nhật Bản về một kế hoạch tấn công Liên Xô của Đức Quốc xã vào ngày 22.6.1941. Thông tin này được chuyển đến Chu Ân Lai và Chu lập tức ký một bức điện gửi về Diên An, rồi từ đó nó được gửi đến Moscow vào ngày 20.6, hai ngày trước khi cuộc tấn công nổ ra.

Vài tháng sau đó, Hoa Nam tình báo tiếp tục nắm bắt được thông tin từ nhiều nguồn khác nhau về quá trình chuẩn bị của quân đội Nhật cho một cuộc chiến tranh với Mỹ. Đến tháng 10, Hoa Nam tình báo kết luận quá trình chuẩn bị đã cơ bản hoàn tất và quân đội của Thiên Hoàng sắp sửa gây chiến với Mỹ. Thông tin này được gửi về Diên An và một lần nữa được chuyển tiếp cho các lãnh đạo Liên Xô. Ngày 7.12.1941 chuyện gì đã xảy ra? Xin mời search nếu quên.

Đến lúc này, có lẽ câu hỏi liệu có thực sự tồn tại một tổ chức có tên Hoa Nam Tình báo Cục hay không đã được giải đáp. Vấn đề còn lại là Hoa Nam Tình báo Cục đã thoát thai hoán cốt ra sao trong dòng lịch sử kinh thiên động địa ở Đông Á tiếp diễn sau đó. Liệu nó có tiếp tục tồn tại hay không và nếu tồn tại thì nó đang nằm ở đâu trong guồng máy tình báo khét tiếng của Trung Quốc.

Để giải quyết vấn đề này, hãy quay trở lại Diên An, gặp gỡ một Mao Trạch Đông đang tức tối và ủ mưu thâu tóm các quyền hành bị phân tán cho Cục Nam Phương của Chu Ân Lai. Tại đây, chúng ta cũng sẽ gặp gỡ một nhân vật độc nhất vô nhị không thể không nhắc đến trong lịch sử tình báo Trung Quốc – trùm mật vụ được mệnh danh là “Beria của Trung Quốc”: Khang Sinh.

                                                                                      Phần 2

Lịch sử cơ cấu tổ chức của Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) rất phức tạp, xuất phát từ địa hình rộng lớn của nước này và các cuộc đấu đá quyền lực liên miên trong nội bộ đảng. Năm 1937, Cục Trường Giang của CCP ở Vũ Hán lãnh đạo mặt trận hợp tác kháng Nhật với Quốc dân đảng trong khi Bộ Chính trị thứ nhất của Mao Trạch Đông núp lùm tại Diên An. Cục Trường Giang khi đó đặt dưới sự lãnh đạo của Vương Minh, thủ lĩnh của nhóm 28 Bolshevik vừa trở về từ Moscow. Trước đó Vương Minh là trưởng đoàn của Trung Quốc tại Đệ tam quốc tế (Comintern) trong giai đoạn 1933-1937. Phó đoàn của Vương là Khang Sinh, người tu nghiệp tại các trường đào tạo mật vụ của NKVD và KGB.

Tuy Mao tỏ ra tôn kính Vương Minh lúc ban đầu khi nhà lãnh đạo này trở về với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Comintern, song mâu thuẫn nhanh chóng nảy sinh giữa hai đối thủ này. Cục Trường Giang dưới sự lãnh đạo của Vương Minh và Chu Ân Lai chủ trương hợp tác thực tình với Quốc dân đảng để kháng Nhật. Tuy nhiên, Mao lại chỉ muốn đánh cầm chừng và xây dựng cơ sở đảng trong các khu vực kiểm soát của Quốc dân đảng. Hiềm khích nảy sinh giữa Mao và Vương Minh là không thể tránh khỏi.

Trong nỗ lực giành lợi thế trước Vương Minh, Mao đã kết thân với Khang Sinh, giữa hai người này hình thành mối quan hệ liên minh chiến lược. Đặc biệt, Khang Sinh chính là người mai mối giữa Mao Trạch Đông với Giang Thanh, khi đó là một điệp viên được cài cắm ở Thượng Hải. Có nhiều lý do để Mao liên kết với Khang Sinh. Thứ nhất, vì từng là phó đoàn của Trung Quốc ở Comintern, nên Khang có thể giúp Mao thu hút được sự ủng hộ của Comintern lúc đó đang đổ dồn vào Vương Minh. Thứ hai, liên kết với Khang Sinh giúp làm suy yếu phe của Vương Minh. Và thứ ba, kinh nghiệm mật vụ của Khang sẽ giúp Mao thâu tóm hoạt động tình báo và an ninh. Sau này, chính Khang là đao phủ thủ trong đợt vận động chỉnh phong Diên An, thực chất là cuộc thanh trừng các đối thủ chính trị của Mao.

Cuộc đấu đá quyền lực giữa hai bộ chính trị của CCP dâng lên đến cao trào tại hội nghị trung ương sáu của Đại hội 6 từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1938 ở Diên An, và người chiến thắng là Mao Trạch Đông. Trong nỗ lực làm suy yếu Vương Minh, Mao quyết định bãi bỏ Cục Trường Giang, chia cục này làm ba cục là Cục Nam Phương do Chu Ân Lai lãnh đạo và Cục Trung Nguyên do một người thân tín của Mao là Lưu Thiếu Kỳ lãnh đạo và Cục Đông Nam. Cục Trung Nguyên sau được đổi tên thành Cục Hoa Trung. Tuy thời gian xuất hiện có thể khác nhau và trải quá vài đợt sáp nhập, chia tách, nhưng nhìn chung sau năm 1949, CCP phân chia thành các cục là Cục Hoa Bắc, Cục Đông Bắc, Cục Hoa Đông, Cục Tây Bắc, Cục Tây Nam và Cục Trung Nam, tương ứng với 6 đại địa khu tồn tại từ 1949 đến 1954.

Nhận thấy vai trò quan trọng của hoạt động an ninh và tình báo đối với quá trình thâu tóm quyền hành của mình, Mao muốn thống nhất các cơ quan tình báo thành một tổ chức đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của mình. Vì vậy, Mao quyết định thủ tiêu Cục An ninh chính trị và thành lập Bộ Xã hội do Khang Sinh làm bộ trưởng vào tháng 10.1939. Đây có thể xem là cơ quan tình báo thống nhất đầu tiên của CCP, tiền thân của Bộ Công an và Bộ An ninh quốc gia sau này.

Tổ chức của Bộ Xã hội (SAD) có các cục tình báo khu vực gắn liền với các cục của CCP. Và Hoa Nam tình báo cục chính là cơ sở của SAD ở Cục Nam Phương. Tuy nhiên, do e ngại sức ảnh hưởng quá lớn của Khang Sinh nên Mao đích thân triệu tập lãnh đạo tình báo Lý Khắc Nông của Cục Nam Phương ở Trùng Khánh về Diên An làm thứ trưởng thường trực của SAD.

Lý Khắc Nông lúc ấy là tổng thư ký phụ trách tình báo và an ninh của Cục Nam Phương. Việc triệu tập Lý Khắc Nông về Diên An làm phó tướng cho Khang Siinh phải nói là một đòn bậc thầy của Mao, vừa giúp kiểm soát Khang, vừa làm suy yếu Chu Ân Lai và lợi dụng được những kinh nghiệm vô giá về tình báo trong lòng địch của Lý Khắc Nông.

                                                                         Phần 3

Năm 1939, Bộ Xã hội, tiền thân của Bộ An ninh quốc gia và Bộ Công an, và cả tình báo quân sự Trung Quốc, ra đời, với Khang Sinh là bộ trưởng, Lý Khắc Nông là thứ trưởng thường trực và Phan Hán Niên là thứ trưởng. Năm 1939, Bộ Xã hội, tiền thân của Bộ An ninh quốc gia và Bộ Công an, và cả tình báo quân sự Trung Quốc, ra đời, với Khang Sinh là bộ trưởng, Lý Khắc Nông là thứ trưởng thường trực và Phan Hán Niên là thứ trưởng.

Huyền thoại tình báo Phan Hán Niên chủ yếu giám sát hoạt động đào tạo điệp viên ở Diên An và một số học trò của ông sau này đã theo ông đến Hồng Kông và Thượng Hải. Sau khi Phan Hán Niên trở lại địa bàn quen thuộc là Hồng Kông vào tháng 4.1939 để chữa bệnh mắt, giới lãnh đạo ở Diên An yêu cầu ông ở lại đây và giám sát việc tổ chức cơ quan tình báo ở phía nam có tên Hoa Nam Tình báo Cục, trên cơ sở hợp nhất các mạng lưới ở Thượng Hải, Hồng Kông Ma Cao và Quảng Đông như chúng ta đã biết.

Phan Hán Niên tái cấu trúc các mạng lưới hiện hữu bằng cách bổ sung những học trò mà ông dẫn theo từ Diên An. Ông cài cắm điệp viên vào các mạng lưới khác nhau, gồm cả cơ quan tình báo của Liên Xô ở Viễn Đông và Cục Điều tra và Thống kê quốc gia – cơ quan tình báo quân sự của Quốc dân đảng khét tiếng với tên rút gọn “Quân thống”, và dĩ nhiên là cơ quan tình báo của Bộ Ngoại giao Nhật Bản lúc bấy giờ.

Như một bi kịch oan khiên thường thấy của những nhà tình báo hiển hách, hoạt động của Phan Hán Niên ở Hồng Kông và Thượng Hải rồi sẽ khiến ông ngậm đắng nuốt cay với 22 năm tù ngục cho đến chết từ 1955 đến 1977.

Tuy nhiên, trước hết hãy giải quyết câu hỏi vì sao có lúc chúng ta gọi Hoa Nam Tình báo cục, có lúc lại gọi Hoa Nam Tình báo phân cục, có lúc lại chỉ đơn giản là tình báo Hoa Nam?

Sau khi Đệ nhị thế chiến kết thúc, tháng 12.1945, Cục Nam phương đổi tên thành Cục Trùng Khánh, tham gia vào hội nghị hiệp thương chính trị toàn quốc ở thành phố này. Đến tháng 5.1946, đoàn đại biểu của Đảng Cộng sản Trung Quốc dời về Nam Kinh theo chính phủ Trung Hoa dân quốc và đổi tên thành Cục Nam Kinh.

Tháng 3.1947, sau khi nội chiến toàn diện nổ ra, các tổ chức công khai của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Nam Kinh, Thượng Hải và Trùng Khánh bị trục xuất và triệt thoái về Diên An, Cục Nam Kinh, với các tiền thân là Cục Trùng Khánh, Cục Nam phương và Cục Trường Giang đã kết thúc sứ mệnh lịch sử và giải tán.

Trong cùng khoảng thời gian này, tại Hồng Kông, Phan Hán Niên cùng các đồng chí như Phương Phương, Doãn Lâm Bình, Chương Hán Phu nhận được chỉ thị thành lập Phân cục Hồng Kông trực thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc như là trung tâm chỉ huy của Đảng Cộng sản ở vùng Hoa Nam.

Ngoài tình báo, Phân cục Hồng Kông còn chịu trách nhiệm cho hoạt động hết sức quan trọng là công tác mặt trận thống nhất, bao gồm việc liên lạc với các lực lượng người Hoa ở hải ngoại, đặc biệt là ở Đông Nam Á. Trong đó, Quảng Đông là khu vực hết sức quan trọng bởi đây là quê quán của nhiều người Hoa ở hải ngoại nhất.

Sau khi Đảng Cộng sản giành chiến thắng và tuyên bố lập quốc vào tháng 10.1949, Trung Quốc được chia thành 6 đại khu hành chính, gồm đông bắc, hoa bắc, hoa đông, tây bắc, tây nam và trung nam. Ngoài khu hoa bắc đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chính quyền trung ương, 5 khu còn lại đều được chỉ huy bởi các cục có tên tương ứng trực thuộc ban chấp hành trung ương. Như vậy, Đảng Cộng sản Trung Quốc khi đó có 5 cục địa phương là Cục Đông Bắc, Cục Hoa Đông, Cục Tây Bắc, Cục Tây Nam và Cục Trung Nam. Các cục này tồn tại từ năm 1949 đến 1955 thì đồng loạt bị bãi bỏ.

Trong khoảng thời gian này, Phân cục Hồng Kông được đổi tên thành Phân cục Hoa Nam và di chuyển đại bản doanh đến thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông. Phân cục Hoa Nam khi ấy trực thuộc Cục Trung Nam, là cục duy nhất có phân cục. Đến năm 1955, khi các cục địa phương bị bãi bỏ, Phân cục Hoa Nam trở thành Tỉnh ủy tỉnh Quảng Đông.

Tuy nhiên, Phân cục Hoa Nam đã trở nên khét tiếng bởi quãng thời gian tồn tại của nó trùng với cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Trong thời gian đó, Hoa Nam Phân cục luôn thường trực một bản kế hoạch về việc xâm lược Đông Dương và Đông Nam Á. Bản kế hoạch này đã bị Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) lấy được và đó có thể là một trong những lý do dẫn đến sự hình thành của cái gọi là “lý thuyết domino”, một trong những nguồn cơn của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, còn gọi là Chiến tranh Việt Nam.

                                                                                                      Nguồn: Facebook tác giả


Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2019

VIỆT NAM CỔ VĂN HỌC SỬ– THÀNH TỰU XUẤT SẮC TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM CỦA NGUYỄN ĐỔNG CHI



  TRƯƠNG SỸ HÙNG
     Ôn lại những bài học từ tấm gương lao động học thuật của Giáo sư Nguyễn Đổng Chi – với không chỉ chúng ta hôm nay mà các thế hệ mai sau – vẫn ngời lên một tấm gương đầy sức sáng tạo, một người yêu nước thiết tha, sớm thể hiện bằng thành quả lao động ngay từ khi còn trẻ tuổi. Bầu nhiệt huyết ấy ngày càng lớn lên khi ở độ tuổi trưởng thành, ngày càng chín chắn hơn, già dặn hơn, sâu sắc hơn, khi lên lão và đến trọn cả cuộc đời. Theo dấu ấn thư tịch hiện có thì năm 1937 khi Nguyễn Đổng Chi 22 tuổi đã được dư luận khoa học nhân văn Pháp, Việt biết đến qua sách khảo cứu Mọi Kontum của hai tác giả Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi, do Mộng Thương Thư trai xuất bản, Huế, 1937. Đặc biệt là, ở tuổi hăng hái nhất với lý tưởng của mình “trên đà tam thập”, Nguyễn Đổng Chi đã lập một kỷ lục mới trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam, có ý nghĩa mở đầu, có giá trị lịch sử lâu dài là công trình Việt Nam cổ văn học sử, Quyển I, Hàn Thuyên xuất bản cục, Hà Nội, 1942([1]).

   . Rất có thể là trước khi viết công trình nổi tiếng này, ông đã đọc hầu hết những dòng tâm huyết của các nhà nghiên cứu, nhà giáo có quan tâm đến nghiên cứu, phê bình văn học đương thời; hoặc ít ra là bản thân ông đã dấn thân yêu nghề bằng mọi giá, để nắm vững tinh thần học giới nhận thức về nền văn hóa dân tộc nói chung và văn học Việt Nam nói riêng. Đọc rộng, đọc tác phẩm văn học trực tiếp bằng Hán ngữ, Pháp ngữ và quốc ngữ đã truyền cảm, gợi mở những ý tưởng khoa học trong nếp tư duy của ông, khi chữ quốc ngữ đang nhanh chóng phát huy thế mạnh ở những thập kỷ đầu thế kỷ XX.

     Giới học thuật lúc bấy giờ mới có một vài ý kiến tản mạn về lịch sử văn học Việt Nam, nhiều khi ý kiến còn gắn với vấn đề quốc học, chắc không vừa ý đối với tầm tri thức của Nguyễn Đổng Chi đang độ sung sức. Với con mắt tinh tường mẫn tiệp của một nhà nghiên cứu khoa học, với kho sách của ông từ Can Lộc mà khởi đi, ngày một ngày cứ đa dạng phong phú thêm mãi – rồi khi di chuyển theo bước đường sự nghiệp trên các chặng hành trình kháng chiến chống Pháp với “18 chum sách ngày xưa” ấy, cũng đã từng được lịch sử học giới nhắc đến – thì mục đích trước thư lập ngôn càng thôi thúc ông say mê làm việc. Mặt khác, thân sinh ông là Nguyễn Hiệt Chi đã từng được Nha học chính Đông Pháp giao cho cùng với Lê Thước soạn Hán văn tân giáo khoa thư (nhiều tập, xuất bản từ năm 1928), dùng làm tài liệu giảng dạy trong “Việt Nam tiểu học tùng thư”, thế nào cũng như một động lực xúc tác tới ý nguyện của ông.

    Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Nho học hàng trăm năm, lại được tắm gội trong nền Tây học từng hội nhập hơn 60 năm vào đời sống văn hóa Việt, Nguyễn Đổng Chi có điều kiện tham bác để sớm nhận chân ra nhiều giá trị lâu bền trong lịch sử văn hóa Việt Nam truyền thống. Tuy nhiên, trong số không ít bộ môn chuyên ngành mà ông đã tham dự, có lẽ văn học Việt Nam đã bén duyên với ông nhiều hơn ở cả hai lĩnh vực sáng tác và nghiên cứu, nhất là văn học cổ điển và văn học dân gian. Khởi nghiệp với những tập truyện ngắn và ký (bao gồm cả phóng sự và truyện ký), Nguyễn Đổng Chi đã khẳng định được khả năng trụ vững của mình; để rồi cái duyên văn tự ấy sẽ gắn bó với ông đến trọn đời: trung thực khi sử dụng tư liệu trong nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật và trau chuốt câu văn mượt mà, trong sáng trong quá trình viết văn. Đó là hai đức tính căn bản của một người cầm bút chân chính yêu nước, yêu nghề, thể hiện trách nhiệm trước lịch sử.

     Nguyễn Đổng Chi là người đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam theo tinh thần biện chứng duy vật lịch sử. Lưu ý rằng, thời điểm Nguyễn Đổng Chi viết Việt Nam cổ văn học sử thì hầu hết các tác phẩm văn học Việt Nam còn trong nguyên bản Hán Nôm. Nhiều học giả đương thời khi luận bàn trên báo chí, sách vở, không coi sáng tác văn học của người Việt bằng chữ Hán là tác phẩm văn học Việt Nam. Vả lại về mặt bằng tri thức chung, cho đến giữa thế kỷ XX tình trạng “văn sử triết bất phân” vẫn còn ngự trị trên sách báo và tạp chí.

     Vào khoảng trước kỳ thi học vấn Nho giáo cuối cùng năm 1918, Phạm Quỳnh đã viết: “Đến những nhà cựu học ngày nay không còn mấy nữa, nhưng còn người nào đều là người ôm cái chủ nghĩa chán đời cả. Trông thấy cái học cũ mỗi ngày một mòn mỏi đi, không thể cứu vãn được nữa, trong lòng những thương cùng nhớ, không hề xét đến tình thế tất nhiên, không hề nghĩ đến tiền đồ sự học, tựa hồ như quay mặt cả về dĩ vãng mà ngoảnh lưng lại với tương lai vậy.

     Như thế thì cả quốc dân không hề lưu tâm đến cái vấn đề tâm huyết, là vấn đề chữ quốc ngữ, cả quốc dân không hề tự hỏi: một nước có thể không có quốc văn được không? Một nước muốn mưu sự sinh tồn tìm đường phát đạt, có thể đời đời học mướn viết nhờ mãi được không?

     Đời trước đã lầm, đời nay phải biết tránh vết xe cũ mà đừng đi. Vì nước Nam ta xưa kia có được vài ba ông Nguyễn Du, năm bảy bà Thị Điểm, mấy cụ Bảng Đôn, mấy cụ Yên Đổ, thì chi mà quốc văn chẳng đã phong phú rồi, chi mà đến nỗi nghèo nàn như ngày nay!”([2])

     Lời “Tự ngôn” của Phan Kế Bính ở đầu sách Việt Hán văn khảo xuất bản năm 1930 có đoạn: “Ôi! Khoa văn chương là một khoa học rất cao, việc khảo cứu là một việc rất khó, ký giả tài sơ học thiển, đâu dám khoe khoang ngòi bút để mua thêm một trò cười cho các nhà đại phương. Song đương buổi này là buổi giao thời của tân cựu học giới, mai sau này tân học thịnh hành e có khi cái văn chương cựu thời cũng phải tiêu diệt. Văn chương ta tức là quốc túy từ mấy nghìn năm của ta, nếu để mai một theo cái tân trào mà tiêu diệt đi mất thì chẳng khá tiếc lắm ru? Bởi vậy, ký giả không tự lượng cái sức nhỏ mọn mà dám cả gan nghị luận đến đề mục to tát ấy, thực là một tấm lòng bất đắc dĩ vậy”([3]).

Lại nữa, trong lời “Tựa” tập Quốc văn cụ thể (1937) của Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim đã viết: “Người mình từ đời Trần, đời Lê trở đi, nghề văn đã sành. Văn Hán tự chẳng kém gì người Tàu mà văn quốc âm thì có nhiều lối rất hay. Ấy là cái nền văn của ta đã có sẵn, mà cũng đủ lấy làm vẻ vang vậy.

     Cái nền ấy của tổ tiên ta lưu truyền lại, ta nên gìn giữ lấy, rồi cố sức mà tô điểm cho tốt đẹp thêm.Văn chương của ta là cái tinh thần của dân tộc ta, cái tinh hoa của tiếng ta, dù ta có muốn sửa đổi thế nào nữa, ta cũng chưa dễ đã thoát ly được cái phạm vi các lối văn cũ. Là vì trừ lối văn xuôi ra không kể, còn lối văn vần, thì tất phải theo từ điệu và âm hưởng của tiếng nước ta mới làm được văn.

     Tiếng nước ta là tiếng độc âm, không thể bắt chước những lối làm văn bằng tiếng liên âm được”([4]).

     Như vậy, Phạm Quỳnh kêu khó giữ lại được tinh hoa văn hóa truyền thống với những tác gia Hán Nôm cự phách khi nền Nho học suy tàn. Phan Kế Bính cho rằng “khoa văn chương là một khoa học rất cao, việc khảo cứu là một việc rất khó”, ông sợ văn chương cổ bị tiêu diệt. Trần Trọng Kim kêu gọi “ta nên gìn giữ lấy, rồi cố sức mà tô điểm”. Dương Quảng Hàm biên soạn sách giáo khoa Quốc văn trích diễm (1924) cho các trường sư phạm và cao đẳng tiểu học đã “chọn trong mỗi thể văn lấy một vài bài đặc sắc, soạn sẵn bài giảng nghĩa để làm mẫu, không dám tự phụ rằng các bài ấy đã hoàn toàn, song gọi là phỏng theo lối bình giảng Âu Tây để giúp các giáo sư và học sinh châm chước đó mà biến hóa đặt để thêm ra”([5]).

    Trong khoảng 30 năm đầu thế kỷ XX, Đông Dương tạp chí in bản dịch Đại Nam nhất thống chí của Phan Kế Bính trên nhiều số, Nam phong tạp chí in Lĩnh Nam dật sử, cũng là biểu hiện bước đầu góp phần khôi phục di sản văn học cổ cận Việt Nam. Ý thức về một nền văn học có lịch sử phát sinh, phát triển và việc nghiên cứu, thẩm định giá trị nhiều mặt của các trào lưu, các xu hướng sáng tạo nghệ thuật dường như chưa có mấy người lưu ý tới. Trên tạp chí Hữu thanh năm 1924, Ngô Đức Kế viết Luận về chánh học cùng tà thuyết tranh luận với Phạm Quỳnh về Truyện Kiều, mở đầu cho một loạt bài tranh luận cùng đề tài trên Phụ nữ tân văn những năm sau.

     Nhận thức rõ tình hình nghiên cứu văn học Việt Nam lúc đó còn nghèo nàn như vậy, Nguyễn Đổng Chi tự giác gánh lấy trách nhiệm của mình, đúng vào thời khắc mà lịch sử đòi hỏi. Có lẽ còn băn khoăn nghi ngại, hay là thận trọng gìn giữ, nên ở “Lời nói đầu” cuốn sách, ông viết dè dặt khiêm nhường: “Cái động cơ của tôi làm quyển sách này chưa hẳn là ở chỗ chép sử văn học. Tôi còn muốn làm chức vụ người chứa đồ cổ, đi sưu tầm văn chương của tiền nhân, cái lớp người sống trước ta hàng thế kỷ trên giải đất Việt Nam này đã từng “cúi tai gài trốc” chịu bẹp dưới oai quyền của người Trung Hoa, lại đã từng phất cờ gióng trống chém Lưu Hoằng Thao, nhận chìm Ô Mã Nhi làm rực rỡ một góc trời phía đông châu Á.

     Công việc của người xưa làm, lời của người xưa nói chẳng qua là những cái bóng tiếng vang của một thời. Phê bình lịch sử cũ, khen cái hay, chê cái dở có lẽ là một việc thừa. Lại nữa, lịch sử độc lập đến đầu thế kỷ XV thì bị cắt khúc. Từ nhà Hồ trở về trước và từ nhà Lê trở về sau, hai đoạn ấy cơ hồ không dính líu gì với nhau. Với một ngón cai trị độc ác người Minh đã hữu ý bôi đen lịch sử nước mình để cho tiện bề đồng hóa. Vì thế mà cái văn học cố hữu có nhiều chỗ đặc sắc ở thế kỷ thứ X cho đến thế kỷ thứ XV, kẻ hậu lai không được biết mấy nỗi nữa. Cũng vì thế cho nên quyển sách này chỉ giới hạn đến cuối nhà Hồ và chủ ý nhất là góp lượm những tài liệu tan tác ở mọi nơi không kể chữ Tàu hay tiếng ta, hay hay dở, đều trưng bày cho độc giả, tức là lớp người sinh sau được nghe thấy phảng phất một ít tiếng vang, cái bóng của người lớp trước vậy thôi”([6]).

     Với lý do các tác giả Việt Nam sáng tác bằng chữ Hán là văn tự vay mượn của Trung Hoa nên các tác phẩm ấy không phải là tác phẩm văn học Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu văn học chỉ chấp nhận các tác phẩm viết bằng chữ Nôm và các tác phẩm viết bằng chữ quốc ngữ. Song muốn đọc và viết bằng chữ Nôm thì điều kiện tiên quyết là người đó đã phải học và biết sử dụng thành thạo chữ Hán; vả lại chữ Hán cổ cũng có khá nhiều dữ kiện, giả thuyết chứng minh là có nguồn gốc Bách Việt (?). Cách đặt vấn đề khăng khăng phủ nhận sự hiện diện của nó trong văn học của người Việt rõ ràng là máy móc, hẹp hòi, không thuyết phục. Có người đồng tình, có người phản đối, nhưng chưa ai trực diện lên tiếng trên báo chi hay viết sách công khai.

     Trước tình hình đó, Nguyễn Đổng Chi đã cầm bút tiên phong. Ông viết cả một công trình khoa học sắc sảo Việt Nam cổ văn học sử để chứng minh rằng, văn học Việt Nam thời Cổ trung đại bao gồm cả những thành tựu sáng tác của cha ông ta bằng chữ Hán Nôm. Đó là quyết định duy nhất đúng. Nếu không trân trọng ghi nhận thành tựu văn học viết bằng chữ Hán thì mặc nhiên người nghiên cứu đã nhắm mắt bỏ qua những áng văn bất hủ như Nam quốc sơn hà,hay Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, v.v. trong lịch sử văn học Việt Nam. Cũng vậy, cho đến thời hiện đại Bản án chế độ thực dân Pháp viết bằng tiếng Pháp, Nhật ký trong tù viết bằng chữ Hán của Hồ Chí Minh, nếu không coi là tác phẩm văn học Việt Nam thì hẳn khó lòng chấp nhận được, dầu bằng bất kỳ luận cứ nào!

      Việt Nam cổ văn học sử được thai nghén trong hoàn cảnh dư luận còn tranh luận nan giải như thế. Nguyễn Đổng Chi đã vượt qua tất cả, “lượm những tài liệu tan tác ở mọi nơi không kể chữ Tàu hay tiếng ta” tiên quyết đặt vấn đề nghiên cứu theo cách nhìn nhận mới. Chắc chắn về lôgic lịch sử. Tư liệu khoa học để chứng minh rõ ràng sáng tỏ. Ý kiến dứt khoát và mạch lạc. Trong quá trình thao tác từng công đoạn để hoàn thiện công trình, tác giả phải tự mình đặt ra định hướng nghiên cứu độc lập, đọc và cảm thụ tác phẩm từ nguyên bản, sưu tầm, dịch thuật được tinh lọc ở trình độ tinh tế, sao cho hàng loạt các tác phẩm văn chính luận, cáo văn, hịch văn, thơ ca… được giới thiệu, trích dẫn có giá trị thuyết phục. Ưu điểm nổi trội là cách trình bày cô, gọn, chỉ một vài câu hay dăm bảy chữ tóm đúng thần thái của đối tượng, việc phân tích từng trào lưu, thể loại, tác giả, tác phẩm... đều không dài dòng.

     Năm chương đầu của Việt Nam cổ văn học sử là:

Chương I - Gốc gác người Việt Nam; tr. 33-39

Chương II - Cỗi rễ tiếng Nam; tr. 40-46

Chương III - Chữ viết đời thượng cổ; tr. 47-50

Chương IV - Tư tưởng học thuật nước Tàu buổi quá khứ; tr. 51-58

Chương V - Triết lý tôn giáo Ấn Độ buổi quá khứ; tr. 59-75

     Cấu tạo của cả cuốn sách gồm 11 chương mà năm chương đầu lại là những vấn đề dân tộc học, ngôn ngữ học, triết học… nếu tác giả dàn dựng không khéo thì thật là miên man. Song với cái nhìn góc cạnh phân minh, Nguyễn Đổng Chi viết cả 5 chương ấy rất vắn tắt; chỉ có 30 trang trên tổng số 450 trang, chiếm 1/15 của cuốn sách. Có thể nghĩ, tác giả quan niệm rằng muốn dẫn nhập độc giả hướng vào tiến trình lịch sử văn học Việt Nam – dù là văn học viết của năm thế kỷ – những tri thức cơ bản sơ lược về các ngành khoa học xã hội khác đều cần được trang bị hỗ trợ. Quan điểm “văn sử triết bất phân” của thời đại ảnh xạ rất rõ vào phương pháp nghiên cứu của tác giả là thế đấy. Cái chính là liều lượng, bởi hơn ai hết Nguyễn Đổng Chi đã từng viết sách dân tộc học, đã từng dịch sách Hán Nôm, đã từng tiếp xúc khá nhiều với tác phẩm lịch sử triết học phương Tây.

     Quả thật trong lịch sử văn hóa Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, thế hệ các nhà Nho là văn sĩ phần đông còn mang nặng quan niệm bảo thủ, tin vào thần thánh, cực đoan với lý thuyết “cửa Khổng sân Trình”, không mấy ai có được cái nhìn duy vật như Phan Kế Bính lớp trước và Nguyễn Đổng Chi ở lớp sau.

Năm chương cơ bản của Việt Nam cổ văn học sử là:

Chương VII - Từ đời cổ đến Sĩ Nhiếp; tr. 76- 95

Chương VIII - Ngô, Đinh, Lê (930-1009); tr. 96-111

Chương IX -  (1010-1225); tr. 112-153

Chương X - Trần (1225-1380); tr. 154-370

Chương XI -Hồ (cầm quyền 1380-1399, làm vua 1400-1407); tr. 370-435

     Đó mới chỉ là Quyển I của bộ sách – theo “Lời nói đầu” của tác giả. Song người đọc đã lĩnh hội được gần như trọn vẹn những phát kiến khoa học của Nguyễn Đổng Chi. Hai quyển sau, nếu như có được, là dạng sách tinh tuyển tác phẩm, giới thiệu tác giả để minh chứng cho những luận điểm khoa học của người viết ở Quyển đầu. Chú thích 2, trang 68 của Chương I ghi: “Xem chương Thơ văn hoài nghi ở Việt Nam cổ văn học sử, Quyển III”. Vậy có thể là bản thảo Quyển II và III cũng đã có mà bị thất lạc khi chưa kịp in, giới nghiên cứu và gia đình may ra có thể tìm lại.

     Quan trọng hơn cả là sau một thành tựu nghiên cứu được công bố rộng rãi, những kết luận khoa học của đề tài sẽ làm thay đổi những nhận thức đã thành nếp trước đó và có tác dụng tích cực ngay đương thời và lâu dài cho một định hướng đúng, phù hợp với quy luật lịch sử phát triển của văn học.

     Bắt sang chương VIII, nhận định về văn học Việt Nam thời Ngô Đinh Lê, Nguyễn Đổng Chi viết: “Về tản văn ta đã thấy dùng ở triều đình trong những thư từ qua lại với thơ Tàu cùng những sớ tấu chiếu biểu việc quan”([7]). Về các tác giả thơ ca thì “Lời thơ ca đã uyển chuyển và thanh nhã. Đỗ Thuận và Ngô Chân Lưu đời [Tiền] Lê đã được lời khen của Lê Quý Đôn rằng: “câu thơ của sư Thuận sứ nhà Tống phải kinh dị, điệu ca của Chân Lưu đã nổi tiếng một thời”, mà Phạm Quỳnh cũng có nói: “Những câu thơ Hán Việt hồi đầu đó, tưởng cũng không phải là lối văn chương non nớt gì”([8]). Dòng văn học tôn giáo, ở đây là Phật giáo, thì “trong phái Thiền tôn có nhiều người nghiên cứu về sấm vĩ và thường dùng lối văn vần ngăn ngắn, ở trong chiết tự tên người và nói kín những việc sẽ xảy ra”([9]). Và đặc biệt khi đề cập đến văn vần quốc âm thì: “Những câu ca dao, tục ngữ, chuyện hát, ngày càng chứa chất thêm và thể thức tiệm có quy củ. Tục ngữ thì từ một câu ba chữ cho đến mươi mười lăm chữ, có hạng không vần, cử lệ những câu:

Không khảo mà xưng

Nước đến chân mới nhảy

Có hạng có vần, như:

Con dại cái mang

Ăn nên đọi nói lên lời (vần liền)

Tháng năm chưa nằm đã dậy.

Muốn coi lên núi mà coi

Coi bà quản tượng cưỡi voi bành vàng (vần lưng)

Sông có khúc người có lúc

Tham thì thâm (vần chân)

Đều là những câu dạy người đời về thường thức luân lý cả.

Về chuyện hát dài thì ngoài chuyện hát ái tình ta còn nhận thấy những chuyện hát chúc tụng trong những ngày tết lễ, như hát sắc bùa, hát mời rượu, hát bơi chải, hát hội đèn, v.v. đều bằng tiếng nước nhà, thường thường là lời chúc tụng vua quan”([10]). Những nhận định vắn tắt như vừa dẫn là những phác họa đủ sáng rõ và chừng mực đối với “buổi khai mạc” nền văn học viết thời tự chủ của văn học Việt Nam.

    Đặt vấn đề nghiên cứu sự phát triển của các thể loại văn học, Nguyễn Đổng Chi bước đầu đã tìm ra một lối đi mới, cho dù những đề xuất ấy không thể là duy nhất đúng tất cả đến ngày nay, nhưng ở thời điểm ông viết Việt Nam cổ văn học sử thì câu chuyện này là rất mới, chưa có tiền lệ. Có vị hủ nho còn cho lời hát dân ca là “xướng ca vô loài”, trong khi Nguyễn Đổng Chi lại nâng niu ghi nhặt. Ý tưởng khoa học về dân ca, trong sách Hát dặm Nghệ Tĩnh (công bố 1944)([11]) còn được ông xem là món ăn tinh thần, không kém phần quan trọng so với nhu cầu văn hóa ẩm thực của con người. Ông viết: “Trong đám văn vần của rừng văn Việt Nam hiện nay có thể chia làm ba hạng:

     Một hạng vốn nguồn gốc tự nước nhà sản xuất như điệu lục bát, song thất lục bát, hát ả đào cùng các lối hát do điệu lục bát sinh ra như hát chèo, hát xẩm, hát đò đưa, trống quân, sa mạc, v.v.

     Một hạng mượn khuôn mẫu của văn Tàu bắt đầu từ Hàn Thuyên và Nguyễn Sĩ Cố ở thế kỷ thứ XIII như các điệu bát cú, tứ tuyệt, thất ngôn, ngũ ngôn, cổ thể, phú, tứ lục, v.v.

     Hạng thứ ba pha lẫn cả giống Tàu và Ta như điệu phán tuồng, thét nhạc, phú lục, v.v. và lai giống Tây như phần nhiều điệu “thơ mới” mới phát hiện gần đây”([12]). Sau vài ba trích dẫn nữa, Nguyễn Đổng Chi khẳng định: “Văn học dầu là văn học nhi đồng cũng đều có ảnh hưởng đến xã hội và nghệ thuật không nhiều thì ít. Phương chi trong đó có nhiều điệu hát mà cách đây hàng thế kỷ các bậc tiền nhân mình đã có kẻ dùng để vẽ những bức tranh thời sự hoặc để bày tỏ mối cảm tình. Câu hát tuy ở miệng trẻ con đọc, nhưng đặt ra nó chính là do những bình dân đứng tuổi, có khiếu riêng về văn vần lại từng trải đời mới làm được”([13]).

     Ý thức nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam trong quan hệ thể loại, ở phần văn chương thời Lý sách Việt Nam cổ văn học sử, Nguyễn Đổng Chi lưu ý đến thơ ca của các Thiền sư: “Thi sĩ đời này hầu hết là tín đồ của Thích Ca, vì vậy cho nên giọng thơ có vẻ siêu nhiên thoát tục mà câu thơ thì rất cổ áo. Một vài thiền sư còn để lại ít bài chứa đầy những triết lý cao thượng. Cũng có số ít nhà chỉ cốt đạt tư tưởng chứ không ngó tới niêm luật gì cả”([14]). Ông cũng nói đến tạp văn: “trừ lối phú ra thì

các lối văn bia, văn phổ khuyến, minh, khánh, tán, v.v. đều làm bằng biền ngẫu, sản xuất nhiều lắm”([15]), đến văn hịch:“Thể văn hịch dùng vào việc quân đã thấy tiến bộ. Các vua chúa, đại tướng thường mượn đó để hoặc tuyên bố trong đám quân mình hay bên quân địch”([16]). Thâu tóm hầu hết số tác gia tác phẩm tiêu biểu thời Lý, dưới góc độ thể loại, ông còn nêu giả thuyết: “Ngoài các lối văn chia từng thể loại kể sau đây, trong các tác phẩm của phái tăng lữ ta có thấy một bộ Tăng gia tạp lục có lẽ là một quyển tùy bút hay nhật ký của sư Viên Thông. Chỉ tiếcNối mạch phát triển văn học thời Trần, Nguyễn Đổng Chi mạnh dạn gọi Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái là văn tiểu thuyết: “Quyển Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên và quyển Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp (?) đều biên chép các thần thoại cổ tích truyền tụng trong dân gian và ở các dã sử. Ấy là những đoản thiên tiểu thuyết có tính cách thần quái, hay là những chuyện lịch sử thêm lời bịa đặt gần giống như lịch sử tiểu thuyết”([18]). Và “sau hết ta còn thấy lối tiểu thuyết viết bằng văn vần. Lê Quý Đôn có sưu tầm được một bài Chiếc giày thơm của vô danh trong Toàn Việt thi lục.

Đây là kiểu mẫu của một lối tiểu thuyết trữ tình và dùng thuyết tiền định làm kết luận”([19]).

     Rồi còn có văn ngụ ngôn: “Lối văn ngụ ngôn khởi điểm tự đời Lý là do lối văn thí dụ (avadana) trong Phật học mà ra. Khi vua Lý Thái Tông sai sứ triệu sư Huệ Sinh về kinh, sư đáp với sứ giả rằng: “Ngươi hãy xem một con vật để làm cỗ cúng. Đi theo dây lụa, được nuôi rau cỏ ngon. Kịp khi dắt vào nhà Thái miếu dẫu muốn sống lâu cũng không thể được, huống gì vật khác”. Tuy vậy văn ấy cũng không có mấy nỗi.

     Đời Trần văn ấy thịnh hơn. Tướng Trần Khánh Dư khi bị vua Nhân Tông trách về tính tham lam đáp một câu rằng: “Tướng là con diều, quân là con vịt, lấy vịt nuôi diều có quái lạ gì([20]). Sau khi dẫn một ngụ ngôn nói về quan hệ Việt - Chăm, tác giả viết tiếp: “Cuối đời Trần có thơ vịnh thập cầm của Trần Nguyên Đán ý bảo Thượng hoàng Nghệ Tông gửi gắm con cháu cho Hồ Quý Ly là một việc mà kết quả trái ngược. Trong thơ còn truyền có câu:

Gửi con cho bác quạ già,

Biết là bác quạ thương là chẳng thương.

     Bên văn Việt ngữ có chuyện Trê Cóc (?). Đây là một vài bài văn dài không có tên người làm, nói con cóc đi kiện cá trê vì nó nhận gian mất con. Quan phủ bắt trê, vợ trê phải đút lót cả quan nha. Đến khi nha lại về khám làm biên bản nói những con nòng nọc giống trê như hệt, cóc phản tọa lại bị giam, vợ cóc đi tìm thầy kiện là nhái bén [...] Nhưng vợ cóc lại muốn tranh thi, chờ cho nòng nọc đứt đuôi tìm về, bấy giờ mới đưa đơn lên trình. Trê bị tra tấn thú thực, liền bị đày. Về phần cóc được kiện, nhưng không khỏi lễ tạ khắp nơi, vì:

Bước ra khỏi chốn cung đường

Thông Chiên giật lễ; đề Tôn cướp tiền.

Ôm đầu vỗ vế ngả nghiêng

Kẻ đòi hồ rượu, người xin bao chè.

Đại để là một bức tranh vẽ cảnh kiện cáo vô ích và quan lại tham nhũng”([21]).

Đưa Truyện Trê Cóc vào Việt Nam cổ văn học sử, Nguyễn Đổng Chi căn cứ vào Bùi Huy Bích. Ông có đánh một dấu hỏi nghi ngờ và chú thích rõ: “Bùi Huy Bích cho quyển văn này [Trê Cóc] do một gia khách ở nhà Trần Liễu làm ra, ám chỉ vào việc vua Thái Tông cướp chị dâu trong khi có mang, lấy con anh ở trong bụng mẹ làm con mình. Họ Bùi lấy bốn chữ “đoạt nhân thủ tử” làm định án”([22]). Chứng tỏ, việc xác định Truyện Trê Cóc sản sinh vào thời điểm nào vốn đang là phân vân của nhà văn học sử, nhưng ông vẫn đặt niềm tin ở lời thẩm xét xem ra không phải không có lý của một học giả có tiếng là uyên bác ở thế kỷ XVIII. Hơn nữa, việc giới thiệu thể loại ngụ ngôn Việt Nam đã có một vị trí đáng đề cập trong lịch sử văn học thời này là điều có thể chấp nhận. Thêm vào đấy, cách lý giải của Nguyễn Đổng Chi giúp ta nắm được hai đặc điểm: 1. Tác phẩm ngụ ngôn thời Trần, Hồ, Lê… thường khuyết danh; và 2. Hình thức thể hiện cùng nội dung phản ánh bộc lộ vốn kiến thức bác học và dân gian hòa quyện nhuần nhuyễn trong văn phong người viết. Câu chuyện được nhà học giả phân tích, lập luận từ những năm bốn mươi của thế kỷ XX mà đến nay, và có lẽ là còn lâu hơn nữa, vẫn còn giá trị khả thủ.

     Trong mục Thơ ca và thi xã thời Trần, tác giả cho rằng: “chỉ có món thơ là phát đạt hơn cả. Hai phần ba các sách trước tác đều là thi tập. Ngoại giả mỗi nhà có một ít bài lưu truyền thì nhiều lắm không thể kể xiết”([23]). Nhằm phân tích sâu hơn về các vẻ đẹp khác nhau của từng nhóm sáng tác, tác giả đã chia nhỏ thành: - Lối thơ nhàn tản là do “hấp thụ lấy văn hóa Tàu và Ấn Độ lại nặng lòng về chủ nghĩa thiên nhiên nhiều”([24]), như Trần Quang Triều (1287 - 1325), Trần Quốc Tảng (1252 - 1313), Nguyễn Xưởng (? - ?), Mạc Đĩnh Chi (1272 (?) - 1346), Phạm Tông Mại (? - ?), Trần Quốc Toại (? - ?)…; - Lối thơ cao siêu “có nhiều khí vị mới mẻ khác hẳn với làng thơ đương thời”([25]) của sư Huyền Quang ((?) - 1334), “lời thơ sáng suốt u dật… nhàn nhã…tự tại”([26]) của Chu An; - Lối thơ cảm khái “cảm khái thời thế, ẩn mà không quên việc đời”([27]) của Trần Nguyên Đán (1325 - 1390)... ; - Lối thơ hùng tráng “khảng khái chan chứa một tấm lòng thương nước thương nòi, lời lẽ mạnh mẽ, đời trước chưa từng biết mà đời sau cũng không bao giờ bằng”([28]), như của Trần Quang Khải (1241 - 1294), Phạm Ngũ Lão (1255 - 1320), Trần Nhân Tông (1257 - 1308), Trần Minh Tông (1301 - 1358), Trần Nghệ Tông (1321 - 1394), Phạm Sư Mạnh (? - ?); - Lối văn khôi hài và trào phúng như của Nguyễn Sĩ Tố [Cố] (? - ?), Đoàn Nhữ Hài (? - ?), Nguyễn Công Phụ (? - ?) “có một vẻ cười cợt ở trong giọng thơ”([29]); - Lối thơ vịnh sử “mới [xuất] hiện, nên chỉ có ít mà phần nhiều là những bài vịnh sử Tàu”([30]), của Trần Anh Tông (1276 - 1320), Trần Dụ Tông, Trần Lôi (? - ?)...; - Lối thơ sứ trình “hào mại, trong trẻo u dật có cái khí cách Đỗ Lăng”([31]) của Nguyễn Trung Ngạn (1289 - 1370), Phạm Sư Mạnh (? - ?), hoặc của một sứ giả khuyết danh đến Tây hồ (Hàng Châu) đề thơ còn “có khí vị lạ hơn”([32]); - Lối thơ thù phụng “dùng trong sự thù tạc giao tế... nhất là xướng họa đối đáp với sứ Tàu”([33]),như thơ của các vị vua Trần Thái Tông, Trần Minh Tông hay các trọng thần Trần Quang Khải, Phạm Sư Mạnh; - Loại văn biền ngẫu: có phú: “Phú đời Trần…lạ kỳ hùng vĩ, lưu loát, tốt đẹp”([34])của Mạc Đĩnh Chi và nhất là Trương Hán Siêu với “bài phú sông Bạch Đằng tả hai chiến công lừng lẫy của Ngô Quyền và Trần Quốc Tuấn ở trên sông ấy”([35]),lại còn cả “phú quốc văn... cũng đã xuất hiện. Người sáng thủy ra nó là Nguyễn sĩ Cố”([36]);có biền văn trong Khóa hư lục của Trần Thái Tông “tả cảnh, tả tình, lý thuyết, đều đẹp đẽ, giản dị, như nói suôn một hơi mà đối chọi chan chát. Tác giả có một ngòi bút tả chân sắc sảo, đáng kể là đứng đầu phái tả chân ở thời ấy”([37]).

     Cách phân chia tiểu mục và điểm xuyết một vài ý rất kiệm lời như trên có thể nói là đã thấu triệt được tinh thần của các thể loại văn học thời cổ. Phải đến thời hiện đại các nhà văn học sử, nhất là các nhà viết sách giáo khoa mới có thói quen diễn giảng dài dòng. Nguyễn Đổng Chi còn nhắc thêm thể câu đối gọn trong vài câu và đặc biệt dành ba mục riêng cho: 1. “Văn chương phái ở ngoại quốc”, như Trần Ích Tắc, Trần Tá Viên, Lại Ích Quy, Lê Trắc “hầu hết là những lời thù phụng, đạp gót giày vào người bản quốc để tôn trọng người nước mình hàng”([38]) (tuy vậy ông vẫn không quên dẫn kèm hai loại ý kiến đánh giá tương phản về văn phái này nhằm giúp bạn đọc cân nhắc); 2. “Ngọn cờ tiên phong của văn học quốc âm: Hàn Thuyên” (có phụ thêm Nguyễn Sĩ Cố và nàng Điểm Bích trong Tam tổ thực lục), với một nhận xét chung, nghiêm túc mà vẫn ưu ái: “cây quốc văn dẫu bị cây Hán văn to lớn “cớm” không xanh tốt, nhưng cũng còn giống truyền nối cho đến ngày nay”([39]); và 3. “Thơ ca bình dân”: “Các lối phong dao tục ngữ - cùng câu đố - đến đây đã thịnh hành lắm. Người ta phô diễn ra nhiều lối mà thông dụng nhất là lối tượng trưng cùng khôi hài và trào phúng”([40]).

     Có thể nói, Việt Nam cổ văn học sử thâu tóm tất cả mọi giá trị tinh hoa của cả hai dòng văn học dân gian và bác học, đã được cha ông ta ghi chép lại hoặc sáng tác bằng chữ Hán, chữ Nôm từ các nguồn tư liệu có sớm cho đến những năm đầu thế kỷ XV, mở ra một hướng nghiên cứu rất mới, độc sáng so với đồng đại. Hơn bảy thập kỷ đã qua đi, nhưng những đóng góp quan trọng về phương pháp luận của học giả Nguyễn Đổng Chi vẫn còn nguyên giá trị. Những dòng văn học, thể loại văn chương, nhóm xu hướng sáng tác, bộ phận tác phẩm của người Việt sống ở nước ngoài…đều được ông xem xét dưới góc độ nghệ thuật sáng tạo ngôn từ, đặng tìm ra những điểm sáng về tư tưởng chủ đề và nội dung phản ánh, tinh thần yêu nước và những nét đẹp hồi quang từ cuộc sống. Không kể lể rườm rà, chú trọng chứng lý hơn bình giảng, cách viết đúng phong cách văn học sử.

     Cuối những năm năm mươi của thế kỷ trước, sau khi Ban nghiên cứu Văn sử địa được thành lập (1953), nhóm tác giả Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi - Vũ Ngọc Phan trong Ban Văn đã “biên soạn một bộ lịch sử văn học Việt Nam”([41]) và “bắt đầu bằng công tác nghiên cứu và phê bình các tác phẩm văn học thành văn hay truyền miệng xưa và nay, nhất là các tác phẩm văn học xưa”([42]). Vậy là đúng mười lăm năm sau khi xuất bản Việt Nam cổ văn học sử, Nguyễn Đổng Chi lại trở thành một trong bốn tác giả sách Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam gồm 5 quyển. Quyển I in xong ngày 25 tháng 11 năm 1957; Quyển V in xong ngày 15 tháng 7 năm 1960 và có phụ chú là trọn bộ. Lời nói đầu ở Quyển I nêu rõ ba đặc điểm lớn của lịch sử văn học Việt Nam là: 1 - Văn học Việt Nam có một bộ phận quan trọng là văn học truyền miệng; 2 - Trong văn học Việt Nam có một bộ phận là văn học chữ Hán;3 -Văn học Việt Nam giàu tính chất chống xâm lăng([43]). Xem vậy, mặc dù cuối bài ký tên cả nhóm, nhưng rõ ràng ba đặc điểm trên đã được Nguyễn Đổng Chi thể hiện cụ thể trong Việt Nam cổ văn học sử trước đó 15 năm. Dĩ nhiên do sự phân công trong một cấu trúc mới về nhân sự, vả lại yêu cầu công việc thì quá lớn và thời hạn hoàn thành quá gấp (1957-1960) cũng không cho phép Nguyễn Đổng Chi gánh vác nhiều hơn. Tuy nhiên, kiểm lại trong toàn bộ sách, Nguyễn Đổng Chi vẫn là người đảm nhiệm số trang và khối lượng tác giả tác phẩm nhiều hơn cả. Cụ thể những phần ông viết trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam bao gồm:

     Quyển INgôn ngữ văn tự và văn học truyền miệng. Mục I trong Phần thứ Hai: “Văn học truyền miệng” (tr. 75-135).

Sau mấy dòng giới thuyết, Nguyễn Đổng Chi tiểu kết:

“Về nội dung, văn học truyền miệng phản ánh các hình thái đấu tranh xã hội, đấu tranh chống ngoại xâm, và nhất là thể hiện những tư tưởng nhân văn chủ nghĩa lành mạnh và trong sáng.

Về hình thức, văn học truyền miệng bao gồm nhiều loại truyện, nhiều loại ca dao, dân ca, v.v. đại khái ta có thể chia làm ba loại lớn:

1) - Loại truyện gồm có truyện thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện tiếu lâm, truyện khôi hài.

2) - Loại văn vần gồm có tục ngữ, ca dao, dân ca.

3) - Loại nghệ thuật sân khấu, như hát tuồng, hát chèo, hát cải lương. Nhiều vở hát tuồng, hát chèo, hát cải lương xuất hiện trong dân gian, không rõ tác giả, chưa biết xuất hiện vào thời nào. Lại có mấy lối hát chèo và cải lương chứa đựng nhiều điệu nhạc dân gian, nhiều điệu dân ca”([44]).

     Quyển IITừ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII. Có ba phần Ba, Tư, Năm thì ở Phần thứ Ba Từ thế kỷ XV trở về trước, Nguyễn Đổng Chi đảm nhiệm mục IV “Nói chung về tình trạng văn học chữ Hán” và mục V: “Văn học chữ Hán”, gồm: A. Loại sử và truyện, và B. Loại thơ văn. Ở Phần thứ Tư Từ thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVII, ông đảm nhiệm một nửa mục A: “Loại văn học tiêu biểu tinh thần yêu nước và ý chí hòa bình”, gồm Lam Sơn thực lục, thơ văn ca tụng cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi, Việt giám vịnh sử thi tậpPhùng công thi tập và Mai lĩnh sứ hoa thi tập; toàn bộ mục B: “Loại văn học ca công tụng đức phong kiến”; toàn bộ mục C: “Loại văn học ca tụng thiên nhiên nhàn tản”; và toàn bộ mục D: “Loại truyện” (tr. 108-168).

     Ông đánh giá vị trí của văn học chữ Hán trong suốt chiều dài lịch sử: “cũng có nhiều màu nhiều vẻ: có khuynh hướng thỏa mãn với hiện thực, có khuynh hướng yêu nước chống thù, có khuynh hướng uất ức bất bình đối với hiện trạng xã hội, có khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa, nhưng đại để là mang ý thức tư tưởng của giai cấp phong kiến, đề cao chế độ phong kiến”([45]). Và đó là nền văn học “sống rất dai dẳng trong khi bên cạnh nó văn học tiếng Việt đã phát triển mạnh”([46]), nhờ được “không khí sùng thượng chữ Hán kéo suốt một thời gian khá dài trên lịch sử”([47]) nâng đỡ, kể từ bước sơ khai với “Lý Tiến hay Khương Công Phụ” dưới thời Bắc thuộc “không đủ để cho ta đánh dấu được hình dáng của một nền văn học đã mở đầu từ đấy”([48]), “cho đến đầu thời Pháp thuộc, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, v.v. vẫn có thói quen sử dụng ngòi bút lông xen vào việc dùng ngòi bút sắt. Độc giả phần chữ Hán của họ tuy chỉ giới hạn trong tầng lớp trí thức Hán học, nhưng không phải vì thế mà những tác phẩm Hán văn này kém giá trị”([49]), trái lại, chúng “vẫn có một tác dụng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc”([50]), tuy rằng đến 1917, thực dân Pháp bỏ hẳn thi cử và giáo dục bằng chữ Hán, “cũng là bắt đầu thời kỳ nền văn học chữ Hán chấm dứt ở Việt Nam”([51]). Và “câu thơ của thi sĩ Trần Tế Xương: “Nào có ra gì cái chữ nho - Ông nghè ông cống cũng nằm co” đã xác nhận sự kết thúc cái địa vị độc tôn của chữ Hán, đồng thời cũng gián tiếp xác nhận sự kết thúc của một nền văn học chữ Hán”([52]).

     Theo Nguyễn Đổng Chi, trong vòng một nghìn năm, văn học chữ Hán có nhược điểm và ưu điểm của nó. Do “đức tính khiêm tốn” của nhà nho không muốn lưu bút tích của mình lại cho hậu thế, do điều kiện “in ấn khắc bản rất khó khăn đắt đỏ”, do bị “ngoại xâm” và “nội chiến” thiêu hủy nhiều phen (“Trương Phụ còn vơ vét đưa về Kim Lăng”), rồi “bao nhiêu lần thay đổi triều đại, lại nạn hỏa tai, nạn lụt lội, nạn mối mọt, v.v.”([53]) nên tuy nhà văn các thời đại sáng tác rất nhiều, nhưng thơ văn của họ không giữ lại được bao nhiêu, lại bị lẫn lộn, bị thêm thắt sửa chữa qua các đời, và “không có cái may mắn như các nhà viết sách trong thời đại gần đây: tư tưởng và tình cảm của tác giả chỉ trong một thời gian rất ngắn đã có thể đến ngay với độc giả”([54]). “Về hình thức thì tác phẩm thường là ngắn, đơn giản mà nội dung có tính chất sơ lược, nhằm phục vụ nhãn tiền hơn là lâu dài...

     Trong nhiều thi văn tập có một số thơ văn chỉ có ý nghĩa là thứ thơ văn thù tạc”([55]). Lại còn do “cái tệ khuôn sáo, cái bệnh bắt chước Trung Quốc”, “lấy sự bằng được với nhà văn Trung Quốc... làm mãn nguyện”([56]), khiến cho “văn học Trung Quốc vẫn gián tiếp kìm hãm văn học chữ Hán Việt Nam về mặt sáng tạo”([57]). Dầu sao, nếu nói “nghệ thuật của văn học chữ Hán không đại chúng và cố nhiên là không dân tộc”([58]) thì “về nội dung nó cũng phản ánh được tình trạng sinh hoạt của xã hội đương thời trong từng thời kỳ trên lịch sử. Một số tác giả trong đó tuy xuất thân phong kiến nhưng tư tưởng của họ có phần nào hướng về nhân dân, Tổ quốc, cho nên những lời phát ngôn của họ biểu lộ sự bất mãn với hiện thực, biểu lộ tính chất đấu tranh hoặc tích cực hoặc tiêu cực đối với tập đoàn thống trị đương thời. Giá trị của nền văn học chữ Hán chủ yếu là ở đó”([59]). Nhận định của Nguyễn Đổng Chi cơ bản là đúng đắn nhưng có hơi nghiêm khắc, bỏ qua nghệ thuật mà nặng về nội dung. Phải chăng lúc này đang giữa hồi “cuộc tranh luận về vị trí của văn học chữ Hán trong văn học sử dân tộc” chưa ngã ngũ (1955-1957) làm cho ông cũng phải ít nhiều dè dặt? Tuy vậy, đi sâu vào từng phần, ở từng thời đại cụ thể, thì ý kiến của ông lại rất cởi mở, tường minh.

     Quyển IIIThế kỷ XVIII. Nguyễn Đổng Chi viết mục IV trong Phần thứ Hai: “Văn học dân gian: Vè và truyện anh hùng của nhân dân” (tr. 165-171) là những sáng tác “đã dựa vào sự tích của các anh hùng nông dân rồi hoặc lý tưởng hóa hoặc hoang đường hóa một phần nào để xây dựng nên truyện. Nghệ thuật của họ tuy đơn sơ mộc mạc như nghệ thuật truyện cổ tích nhưng cũng khá hấp dẫn, phong phú về hình tượng”([60]).

     Ông cũng viết toàn bộ Phần thứ Ba: “Văn học chữ Hán” với Nhận xét chung và các mục A - Truyện ký: Truyền kỳ tân phả; Lê Hữu Trác và Thượng kinh ký sựHoàng Lê nhất thống chíVũ trung tùy bút; Sự phát triển của sách truyện ký (Công dư tiệp lýLan Trì kiến văn lụcTang thương ngẫu lụcSơn cư tạp thuật); và B - Thơ phú tạp văn: Các nhà thơ trước khởi nghĩa Tây Sơn (Ngô Thì Ức, Đặng Trần Côn và Hồng Liệt bá, Nguyễn Cư Trinh, Chiêu Anh các, Phạm Nguyễn Du và Ngô Thì Sĩ, Lê Quý Đôn); các nhà thơ ở cuối thế kỷ XVIII (A. Khuynh hướng phê phán hiện thực: Nguyễn Thiếp, Ngô Thế Lân, Nguyễn Du; B. Khuynh hướng lạc quan: Ninh Tốn, Vũ Huy Tấn, Phan Huy Ích; C. khuynh hướng bảo thủ bi quan: Trần Danh Án, Phạm Quý Thích, Nguyễn Hành, Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án) (tr. 175-296).

     Nhìn qua cũng thấy, các gương mặt tiêu biểu của văn học thế kỷ XVIII đều tập trung ở phần viết của Nguyễn Đổng Chi. Ông nhận định: “Thế kỷ này là thời kỳ phồn vinh của một nền văn học dân tộc. Biết bao hoa thơm cỏ lạ đã “đua nở” trong thế kỷ này làm rực rỡ vườn hoa văn học của chúng ta. Và nó cũng đóng góp với văn học dân tộc khá nhiều tác phẩm văn học có giá trị”([61]). Ông nêu lên 3 đặc điểm tiêu biểu: 1. “Cái buồn của thời đại qua văn học chữ Hán”; 2. “Tính chất trữ tình của văn học chữ Hán”; và 3. “tính chất hiện thực trong sáng tác [văn học chữ Hán]”. Ông nhấn mạnh đến sự bùng phát của văn học chữ Hán chữ Nôm thuộc nửa nước phía Nam, tính đồng dạng và so le về phương cách và chiều hướng phát triển của bộ phận văn học này so với văn học phía Bắc: “Không những văn học đua nở ở Đường Ngoài mà còn bắt đầu nẩy chồi trổ hoa ở Đường Trong... Văn học ở Đường Trong phát triển hơn trước. Chữ Hán một mặt được truyền từ Bắc vào, một mặt trực tiếp truyền từ Trung Quốc sang. Trong khi kinh dinh đất nước họ Nguyễn sẵn sàng thu dụng những nhân tài đất Bắc cũng như ở Trung Quốc vì bất đắc chí với triều đình phong kiến của xứ sở mà tìm đến đây... Và những người này đã đẩy dần phong trào Nho học và công việc sáng tác nôm cũng như Hán ở miền Nam. Cũng như miền Bắc, ở đây cũng có những dòng họ phong kiến nổi tiếng văn học, sản sinh nhiều tác gia, như dòng họ Nguyễn Đăng ở làng An Hòa (Thừa Thiên bây giờ)”([62]). Ông không quên một hiện tượng đột xuất là sự xuất hiện các cây bút nữ đã gây những âm hưởng lạ trên văn đàn: “Lúc này, người phụ nữ theo đuổi bút nghiên đã mạnh dạn viết sách làm văn. Ngoài Hồ Xuân Hương, ta còn thấy Đoàn Thị Điểm bút danh là Hồng Hà nữ sĩ, một nữ sĩ Hán học nổi tiếng trong nước. Ngoài ra còn có Đặng tiểu thư, một nữ thi sĩ ở Thăng Long mà Lê Hữu Trác có nhắc đến trong tập du ký của ông. Ở Đường Trong có nữ sĩ Phạm Lam Anh sáng tác khá nhiều thơ cả Hán lẫn nôm, từng cùng chồng xướng họa chép nên bộ Chiến cổ đường thi tập”([63]). Con mắt nhìn bao quát của Nguyễn Đổng Chi còn nhìn đúng vị trí của kinh đô văn học Thăng Long: “Kinh đô Thăng Long lúc này cũng như từ xưa là nơi trung tâm của văn học. Ở đây không những là nơi họp mặt của các học sinh trường Giám, của các nhà nho ôm mộng khoa bảng từ Tiến sĩ trở lên, mà còn là nơi cư ngụ hoặc là nơi đi qua về lại của các nhà văn nhà thơ. Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du, Nguyễn Hành, Chiêu Hổ, Nguyễn Án, v.v. thường trú ngụ khá lâu ở Thăng Long. Hồi Lê Hữu Trác ra kinh kỳ, ông có nói chỗ trọ của mình biến thành tao đàn của biết bao văn nhân thi sĩ đến xướng họa và mạn đàm. Ở các địa phương cũng thỉnh thoảng mọc lên những thi xã như Sơn Nam thi xã, Chiêu Anh các, v.v.”([64]).

     Nguyễn Đổng Chi cũng có những mũi khoan sâu vào các tác giả tiêu biểu, trong đó hai nhân vật có nhiều khám phá là Lê Hữu Trác (“quan niệm tự do cá nhân” và văn xuôi “gợi cảm giác”([65])) và Ngô Thì Sĩ (“bút pháp riêng đặc biệt khác với các nhà văn đương thời” và “tiếng khóc vợ chí tình... đượm tính chất cận đại... phảng phất có bóng dáng Linh Phượng ký của Đông Hồ”([66])).

Khai thác sự kiện văn học quyện hòa uyển chuyển với sự kiện văn hóa, nhìn nhận cân phân văn học đủ các vùng miền, đủ các phái tính, điểm đúng những tác giả cần được ưu tiên... tưởng về sau cũng chưa có ai vượt được GS Nguyễn Đổng Chi trong tư cách một nhà văn học sử tiên phong ở chặng đường mới – chặng đường làm khoa học trong điều kiện đất nước chia đôi sau Hiệp định Genève (1954-1975).

     Quyển IVThế kỷ XVIII (tiếp theo). Phần thứ Tư: Các tác gia của thế kỷ XVIII, Nguyễn Đổng Chi viết mục II: “Thơ văn trong phong trào nông dân khởi nghĩa”(tr. 12-26), “đó là những tiếng nói căm hờn chán ngấy chính sách mục nát đương thời, đó cũng là tiếng nói của những con người ngang tàng muốn phá tung trật tự phong kiến”([67]), như Hịch Lê Duy Mật, thơ Chim trong lồngHịch Tây SơnPhú Hầu Tạo.

Ngoài ra ông còn viết mục VI: “Nguyễn Thiên tích và Hà Tiên thập cảnh” (tr.76-81), đánh giá mười cảnh trí “tuyệt đẹp” của đất Hà Tiên trong thơ “đẹp không chỉ là thiên nhiên mà còn có con người, không chỉ là màu sắc mà còn có thanh âm”([68]); “những nét tả thừa thãi không phải không có lúc nhàm nhưng đi sâu vào ta thấy mỗi cảnh có nội dung một vẻ đẹp khác nhau”([69]); một vẻ đẹp “thật là thần tiên” bởi chủ thể thẩm mỹ – Mạc Thiên Tích – “là người yêu thiên nhiên rất mực”([70]); và cũng bởi “cái thế đang lên của một xã hội đang kiến thiết mà kinh tế thương nghiệp có chiều phát triển thuận lợi”([71]). Nguyễn Đổng Chi cũng viết một phần mục XI: “Nguyễn Hữu Chỉnh”(tr. 171-178), nhận thấy ở ông một con người “đa diện”: “liều lĩnh và tham vọng”([72]), nhưng “là người hào hoa phóng túng, giao du rộng. Thêm vào cái tài hùng biện còn có cái thú phong lưu của một nhà thơ”([73]). Và toàn bộ mục XII: “Đặng Trần Thường” (tr. 201-209), “là người có tài, học giỏi, từng đậu Sinh đồ về cuối đời Lê... Theo Đại Nam nhất thống chí ông bị Ngô Thì Nhậm chèn ép nên tức khí bỏ vào Nam... và đã đóng góp nhiều công trong việc tổ chức biên phòng, trong một vài chiến dịch lớn”([74]). Tuy nhiên vốn “là người tự phụ”, “ông có thái độ khinh miệt bọn quyền thần bấy giờ đang vây quanh Gia Long”([75]), do đó “mâu thuẫn ngày một lớn trở nên nguyên nhân cái chết của ông”([76]). Theo ông, thơ văn của cả hai tác giả này có đặc điểm chung là đều mượn điển tích lịch sử để chỉ trích vua (Nguyễn Huệ – Nguyễn Hữu Chỉnh / Gia Long – Đặng Trần Thường) đã bỏ rơi và hãm hại họ, trong đó “lời oán trách của họ Đặng... tuy cũng nhẹ nhàng, tình tứ, nhưng cay chua hơn lời Nguyễn Hữu Chỉnh. Nhất là ở đoạn cuối có giọng hằn học, không kém phẫn nộ”([77]).

     Quyển VGiai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX. Nguyễn Đổng Chi viết mục IX của Phần thứ Sáu “Các tác phẩm và tác gia” (tiếp theo) – mục Văn học chữ Hán, bao gồm Nhận xét chung và các tác giả Hà Tôn Quyền, Cao Bá Quát, Đinh Nhật Thận, Nguyễn Hàm Ninh, Nguyễn văn Siêu và Kết luận (tr. 119-167). Tuy nhận định về “bàn tay chuyên chế của nhà Nguyễn” làm cho “văn học ươn yếu” có hơi nặng nề (một thành kiến chung của hầu hết học giả thuở bấy giờ mà Nguyễn Đổng Chi cũng không ngoại lệ), nhưng ông vẫn nhìn được sự dụng công về hình thức nghệ thuật của văn chương trong giai đoạn: “Về hình thức thì thật là bóng bẩy trau chuốt, chưa bao giờ bóng bẩy trau chuốt đến thế. Một vài thi tập của Nhóm Mặc Vân thi xã không những được lời khen của một số danh sĩ trong nước mà còn nhận những lời tán thưởng của nhiều văn nhân Trung Quốc”([78]). Ông cũng ghi nhận mặt khả thủ đáng trân trọng của văn học chữ Hán thời này: “Đương nhiên nói như thế không phải bảo văn học chữ Hán lúc này không còn khí sắc nào khả dĩ còn chút khỏe mạnh nữa. Cũng không phải vì chuyên chế của thống trị mà tiếng nói của nhà văn phong kiến hoàn toàn mất tinh thần... trái lại, chính vì chính sách tàn bạo của chúng nên đã cuộn lên cái không khí bất bình trong văn học chữ Hán nói chung, tuy không phải là cái bất bình làm quằn quại cả thời đại nhưng đây cũng là thái độ phản ứng dai dẳng ngấm ngầm”([79]); “Tuy chưa phải là một xu hướng hiện thực [của cả dòng văn] nhưng rất hiếm những tác phẩm không phản ánh cảnh sống đau khổ của người nông dân ở khía cạnh này hay khía cạnh khác. Tình trạng tiêu điều của xã hội đã khách quan bắt buộc các nhà văn không cưỡng lại được sự thật. Đến nỗi có những nhà văn xuất thân từ cành vàng lá ngọc cũng thốt ra những tiếng bất bình như bài hát Bán tre, bài hành Tiền “phù lưu”, v.v. của Tùng Thiện vương... Cái không khí bất bình nói chung thường gây thành nỗi u sầu tiêu cực trong thơ văn nhưng cũng có khi tạo nên những nụ cười trào phúng, những đòn châm chọc khá ý vị và tích cực. Còn hơn cả Đặng Trần Thường “chửi khéo” Gia Long, Cao Bá Quát và Hoàng Phan Thái là hai nhà thơ bất bình đến độ nẩy lửa”([80]). Và “Vừa phản ánh cái bất bình, văn học chữ Hán lúc này lại vừa nhen lên tinh thần của chủ nghĩa nhân đạo”([81]) và “sẽ truyền lại cái tinh thần nhân đạo, ý chí bất khuất cho thời kỳ sau là thời kỳ mà dân tộc phải đương đầu với sự thống trị tàn khốc của chế độ thực dân cộng với chế độ phong kiến”([82]).

     Với tác giả Nguyễn Hàm Ninh, Nguyễn Đổng Chi cấp cho ta chân dung một nhà văn trào lộng độc đáo qua bài phú biền ngẫu nôm Phản thúc ước, “Phản thúc ước nghĩa là chống lại thúc ước... không ca tụng cảnh “dân yên vật phụ” như khuôn sáo thường lề của tác giả “thúc ước” mà ông đứng về phía nhân dân nêu bao nhiêu những tội ác đáng khóc đáng giận mà còn cả đáng cười nữa, thường xảy ra trong lũy tre xanh. Mỗi một vế là một thiên tội trạng, là một lời tố cáo nghiêm khắc nhưng cũng đầy giọng mỉa mai châm biếm sâu cay”([83]).

     Với Cao Bá Quát, lần đầu tiên Nguyễn Đổng Chi chỉ rõ giọng điệu ngạo nghễ tuyệt bút trong bài phú Tài tử đa cùng của nhà văn rất mực tài hoa này, đồng thời đi sâu vào khối lượng thơ chữ Hán đồ sộ của họ Cao để tinh kết thành những tiêu đề đắt giá mà trước ông chưa một ai nói được: “Một cuộc đời chìm nổi và bất khuất”; “Phú “Tài tử đa cùng” một bản tuyên ngôn đanh thép”; “Một nhân sinh quan có phần đối lập với nhân sinh quan phong kiến”; “Một tâm hồn thông cảm với nỗi đau khổ của quần chúng và tiêu biểu cho sự bi phẫn của quần chúng”. Ông tiểu kết: “Mặc dầu văn chương của cao Bá Quát còn lại không mấy nhưng số còn lại cũng đã nêu lên được cái đẹp rất hiếm có trong văn học phong kiến. Đó là lòng khinh ghét cuộc sống chật hẹp ti tiện. Đó là sự trực tiếp hoặc gián tiếp phủ nhận chính quyền đương thời, cũng chính là phủ nhận hiện thực. Nói chung đó là cái hiên ngang của một tâm hồn chỉ biết thờ có tự do và chân lý. Cái tự do và chân lý nói đây là cảm tính tự phát, gần như là bản năng của con người, khó có thể tìm thấy trong sách vở nhà nho. Tất cả những đạo lý phong kiến từng thấm vào óc Cao Bá Quát cũng như cả cái xã hội phong kiến đã vây quanh lấy Cao tuyệt nhiên không thể nào làm sai lạc được cái cảm tính, không làm nhụt được chí khí của ông... Cho nên một số thơ văn của Cao có giá trị của những tiếng gọi tập hợp vọng theo tiếng gọi tập hợp của Nguyễn Hữu Cầu, Tây Sơn, Hầu Tạo... gợi cho mọi người hoài bão một cuộc sống mới đầy ý nghĩa bất khuât, đầy vị tha và cởi mở, đầy tinh thần tôn trọng nhân phẩm”([84]). Trong phạm vi bấy nhiêu dòng, tưởng không thể nào tóm lược về Cao Bá Quát một cách thỏa đáng mà đầy đủ hơn những dòng trên đây!

     Tổng kết lịch trình phát triển của văn học Việt Nam chắc là đại diện cho cả nhóm tác giả Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi đã “Tóm lại, trong hơn một nghìn năm phát triển, văn học Việt Nam đã cống hiến không ít cho sự hình thành ý thức dân tộc, cho sự nghiệp bảo vệ đất nước, cho sự nghiệp giáo dục nhân dân biết yêu lẽ phải, yêu chính nghĩa, yêu đạo đức, trọng con người, trọng tự do, hạnh phúc của con người”([85]).

      Đã gần 70 năm trôi qua, nhưng tinh thần cơ bản về phương pháp luận, những đóng góp khoa học cơ bản về nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam trong Việt Nam cổ văn học sử của GS Nguyễn Đổng Chi dường như vẫn giữ nguyên giá trị ứng dụng thực tiễn. Con đường ấy đã trở thành linh hồn cho cả bộ sách lớn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam của Nhóm tác giả Văn sử địa hình thành giữa cuối những năm năm mươi, đầu những năm sáu mươi của thế kỷ XX, mà cho đến nay, mặc dù cũng đã có một vài dự án về lịch sử văn học Việt Nam được đặt ra, hoặc đã được in như Lịch sử văn học Việt Nam (Tập I)([86]năm 1980 của Ủy ban Khoa học xã hội chẳng hạn, hoặc hai bộ giáo trình lịch sử văn học Việt Nam của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, nhưng cũng chưa công trình nào có thêm nhiều phát hiện mới mẻ đáng nói, so với quan điểm và phương pháp của Nguyễn Đổng Chi trong cách đặt vấn đề nghiên cứu văn học sử dân tộc. Dĩ nhiên là các tác giả kể trên đều có mở rộng sự diễn giải để đáp ứng nhu cầu giảng dạy và nghiên cứu.

     Cũng có thể bổ sung vào đây một lời phụ chú: công trình Lược khảo về thần thoại Việt Nam của GS Nguyễn Đổng Chi ra mắt năm 1956 thực chất là chương mở đầu của một bộ lịch sử văn học Việt Nam ở tầm vĩ mô. Bộ Việt Nam văn học toàn thư ở hai tập đầu của Hoàng Trọng Miên([87]), bị dư luận học giới miền Nam đương thời chỉ trích gay gắt([88]), vì nó gần như là một phiên bản của Lược khảo về thần thoại Việt Nam, chỉ khác là có thêm ảnh minh họa.



Tài liệu tham khảo

(1) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa Việt Nam cộng hòa tái bản, Sài Gòn, 1970.

(2) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi - Hoài Thanh - Vũ Ngọc Phan, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, 5 quyển, NXB Văn sử địa và NXB Sử học, H, 1957-1960.

(3) Phạm Quỳnh, Thượng Chi văn tập, Q. I, Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn, 1962.

(4) Phan Kế Bính, Việt Hán văn khảo, Trung Bắc tân văn, H, 1930.

(5) Bùi Kỷ,Quốc văn cụ thể, Trung Bắc tân văn, H, 1932.

(6) Dương Quảng Hàm, Quốc văn trích diễm, Nhà in Nghiêm hàm, H, 1925.

(7) Nguyễn Đổng Chi, Hát Dặm Nghệ Tĩnh NXB Tân Việt, H, 1944.

(8) Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Lịch sử văn học Việt Nam, Tập I, NXB Khoa học xã hội, H,1980.

(9) Hoàng Trọng Miên,Việt Nam văn học toàn thư, Tủ sách Cảo thơm, Quốc hoa xuất bản, Sài Gòn, 1959.

T.S.H.

([1])Cần nói thêm, sau đó một năm, Nguyễn Đổng Chi lại có công trình Đào Duy Từ, nhận giải thưởng của Học hội Alexandre de Rhodes, 1943, nhưng chưa kịp in thì cuộc Cách mạng tháng Tám nổ ra, và theo con trai tác giả, GS Nguyễn Huệ Chi, bản thảo đến nay đã thất lạc.
([2])Phạm Quỳnh, Thượng Chi văn tập, Tập I, Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn, 1962.

([3])Phan Kế Bính, Việt Hán văn khảo, Trung Bắc tân văn, H, 1930.
([4]) Bùi Kỷ,Quốc văn cụ thể, Tân Việt Nam thư xã, Trung Bắc tân văn, H, 1932.

([5]) Dương Quảng Hàm, Quốc văn trích diễm, Nhà in Nghiêm hàm, H, 1925.

([6]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Hàn Thuyên xuất bản cục, H. 1942. Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa Việt Nam Cộng hòa tái bản, Sài Gòn, 1970; tr. 20-21. Dưới đây, các đoạn trích dẫn đều dựa theo bản tái bản năm 1970.



([7]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa tái bản, Sđd; tr. 97-98.

([8]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 100.

([9]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 105.

([10]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 109-110.

([11]) Nguyễn Đổng Chi, Hát Dặm Nghệ-Tĩnh NXB Tân Việt, H, 1944. In lại, bổ sung chỉnh lý, đổi tên thành Hát giặm Nghệ-Tĩnh Tập I, và đầu sách tuyên bố: bỏ bản in lần thứ nhất, NXB Sử học, H, 1962.

([12]) Nguyễn Đổng Chi, Hát Dặm Nghệ-Tĩnh, Tập I, Sdd; tr. 9-11.

([13]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 129.

([14]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 133.

([15]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 141.

([16]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 141.

([17]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 141.

(1) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 259.

(2) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 281.

(3) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 289.



([21]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 291- 292.

([22]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 291.

([23]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 292-293.

([24]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 295.

([25]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr.302.

([26]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr.304.Câu trích trên, tác giả ghi rõ dẫn lời Phan Huy Chú.

([27]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr.312.Câu trích trên, tác giả ghi rõ dẫn lời Phan Huy Chú.

([28]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 314. Câu trích trên, tác giả mượn lời Phạm Quỳnh.

([29]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 320.

([30]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 320.

([31]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 323. Câu trích trên, tác giả ghi rõ dẫn lời Phan Huy Chú.

([32]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 328.

([33]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 328.

([34]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr.333. Câu trích trên, tác giả nói rõ dẫn lời Lê Quý Đôn.

([35]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 337.

([36]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 342.

([37]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 342 .

([38]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 343.

([39]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 357.

([40]) Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Q. I, Sđd; tr. 362.

([41]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi - Vũ Ngọc Phan, “Lời nói đầu”, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. I, NXB Văn sử địa, H, 1957; tr. 7.

([42]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi - Vũ Ngọc Phan, “Lời nói đầu”, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. I, NXB Văn sử địa, H, 1957; tr. 7.

([43]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi - Vũ Ngọc Phan, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. I, Sđd; tr. 7-15.

([44]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi - Vũ Ngọc Phan, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. I, Sđd; tr. 76.

([45])Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. II, NXB Văn sử địa, H, 1958; tr. 29.

([46]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. II, NXB Văn sử địa, H, 1958; tr. 29.

([47]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. II, NXB Văn sử địa, H, 1958; tr. 29.

([48]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. II, NXB Văn sử địa, H, 1958; tr. 29.

([49]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. II, NXB Văn sử địa, H, 1958; tr. 30.

([50]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. II, NXB Văn sử địa, H, 1958; tr. 30.

([51]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. II, Sđd; tr.30.

([52]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. II, Sđd; tr. 30-31.

([53]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. II, Sđd; tr. 33.

([54]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. II, Sđd; tr. 31.

([55]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. II, Sđd; tr. 31.

([56]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. II, Sđd; tr. 32.

([57]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. II, Sđd; tr. 32.

([58]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. II, Sđd; tr. 32.

([59]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. II, Sđd; tr. 32.

([60]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. III, NXB Văn sử địa, H, 1959; tr. 165.

([61])Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi - Vũ Ngọc Phan, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. III, Sđd; tr. 175.



([62]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi - Vũ Ngọc Phan, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. III, Sđd; tr. 176-177.

([63])Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. III, Sđd; tr. 177.

([64]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. III, Sđd; tr. 177.

([65]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. III, Sđd; tr. 205-211.

([66]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. III, Sđd; tr. 257-259.

([67])Văn Tân - Hoài Thanh - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. IV, NXB Văn sử địa, H, 1959; tr. 13.

([68])Văn Tân - Hoài Thanh - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. IV, NXB Văn sử địa, H, 1959; tr. 76.

([69]) Văn Tân - Hoài Thanh - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. IV, NXB Văn sử địa, H, 1959; tr. 77.

([70]) Văn Tân - Hoài Thanh - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. IV, NXB Văn sử địa, H, 1959; tr. 76.

([71]) Văn Tân - Hoài Thanh - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. IV, NXB Văn sử địa, H, 1959; tr. 79.

([72])Văn Tân - Hoài Thanh - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. IV, NXB Văn sử địa, H, 1959; tr. 171.

([73]) Văn Tân - Hoài Thanh - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. IV, NXB Văn sử địa, H, 1959; tr. 172.

([74]) Văn Tân - Hoài Thanh - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. IV, Sđd; tr. 201-202.

([75]) Văn Tân - Hoài Thanh - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. IV, Sđd; tr. 202.

([76]) Văn Tân - Hoài Thanh - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. IV, Sđd; tr.202.

([77]) Văn Tân - Hoài Thanh - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. IV, Sđd; tr. 204.

([78])Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Vũ Ngọc Phan - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. V, NXB Sử học, H, 1960; tr. 121.

([79]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Vũ Ngọc Phan - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. V, NXB Sử học, H, 1960; tr. 121-122.

([80])Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Vũ Ngọc Phan - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. V, Sđd; tr. 122.

([81]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Vũ Ngọc Phan - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. V, Sđd; tr. 123.

([82]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Vũ Ngọc Phan - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. V, Sđd; tr. 123.

([83]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Vũ Ngọc Phan - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. V, Sđd; tr. 148.

 ([84])Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Vũ Ngọc Phan - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. V, Sđd; tr.141-142.

([85]) Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Vũ Ngọc Phan - Nguyễn Đổng Chi, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q. V, Sđd; tr. 167.

([86]) Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Lịch sử văn học Việt Nam, Tập I, NXB Khoa học xã hội, H,1980.

([87]) Hoàng Trọng Miên,Việt Nam văn học toàn thư, Tủ sách Cảo thơm, Quốc hoa xuất bản, Sài Gòn, 1959.

([88]) Đường Bá Bổn, Điểm sách “Văn học Việt Nam toàn thư”, Q. I, Thần thoại, Nguyệt san Văn hóa Á Châu, số 18, tháng 9-1959.