Thứ Năm, 14 tháng 10, 2021

TỔ TIÊN TA GÓP PHẦN LÀM RA CHỮ QUỐC NGỮ

 NGUYỄN HẢI HOÀNH

I.

Cho tới nay mọi người đều nói chữ Quốc ngữ là do các nhà truyền giáo người châu Âu làm ra. Sách báo thời thuộc Pháp viết: Cố đạo Alexandre de Rhodes là cha đẻ chữ Quốc ngữ. Bài viết này nhằm chứng minh các vị giáo sĩ ấy chỉ làm phần cuối trong công trình sáng tạo chữ Quốc ngữ, họ chủ yếu chỉ thực hiện phần việc Latin hóa chữ Nôm — loại chữ biểu âm (phonograph) do tổ tiên ta làm ra từ thế kỷ XII; chữ Nôm là nền tảng họ dựa vào để tạo bộ chữ mới; chữ Quốc ngữ là chữ Nôm được Latin hoá, hiện đại hoá.

      Phát minh chữ viết đã đưa loài người ra khỏi thời tiền sử, tiến sang thời đại văn minh có sử sách ghi chép. Ở thời xưa, phát minh vĩ đại đó cần thai nghén trong nhiều thế kỷ, và chỉ một số ít dân tộc làm được chữ viết. Dân tộc ta ra đời đã lâu mà mãi đến thế kỷ II TCN mới biết tới chữ viết, tức sau khi Triệu Đà chiếm nước ta và đưa chữ Hán vào. Nhưng trong hơn 2000 năm qua, người Việt Nam đã sử dụng tới ba loại chữ viết: chữ Nho, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ. Đây có lẽ là một kỷ lục thế giới. Ba loại chữ này ra đời cách nhau chừng 500 1000 năm theo một trình tự hợp logic, có tính kế thừa, loại trước làm nền tảng cho loại sau, và loại sau tiên tiến hơn loại trước.

     Sau khi tiếp xúc Hán ngữ, tổ tiên ta chỉ tiếp nhận chữ viết mà không tiếp nhận tiếng nói. Muốn vậy họ đã Việt hóa phần ngữ âm của chữ Hán và gọi thứ chữ vuông đọc âm Việt ấy là chữ Nho, coi như chữ của ta, không phải là ngoại ngữ. Nhờ sáng tạo thông minh này, nước ta có chữ để ghi chép, giao dịch đối nội đối ngoại, chép sử, viết văn thơ, giáo dục, tiếp thu văn hóa Hán, phát triển văn hóa Việt. Nhờ có chữ viết, xã hội Việt Nam ra khỏi thời tiền sử lạc hậu, tiến sang thời đại văn minh. Mặt khác do chỉ nói tiếng Việt, không nói tiếng Hán, nên sau 1000 năm Bắc thuộc, dân tộc ta vẫn giữ được nguyên vẹn tiếng mẹ đẻ cùng phong tục tập quán của mình, không bị người Hán đồng hóa. Tiếng ta còn, nước ta còn! Đây là thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử nước ta.

     Nhưng chữ Nho có nhược điểm lớn là không ghi âm được tiếng Việt. Vì thế, ngay từ rất sớm (thế kỷ II, thời Sĩ Nhiếp), tầng lớp tinh hoa nước ta đã có ý định biến đổi thứ ký tự hình vuông ấy thành loại chữ ghi âm được tiếng mẹ đẻ. Nhưng phải sau 1000 năm, đến thế kỷ XII, họ mới hoàn tất quá trình dựa trên nền tảng chữ Hán làm ra chữ Nôm, một loại chữ biểu ý kết hợp biểu âm có tính tiên tiến mà người Hán chưa từng biết. Đây lại là một sáng tạo kiệt xuất về ngôn ngữ học của người Việt Nam. Cho dù chữ Nôm đã làm nên một nền văn học sáng ngời trong lịch sử dân tộc, nhưng tiếc thay, do bị hầu hết các chính quyền phong kiến nước ta khinh rẻ, không thừa nhận, cho nên chữ Nôm không được hoàn thiện, cuối cùng bị loại bỏ sau 8 thế kỷ tồn tại.

     Làm chữ viết cho tiếng mẹ đẻ mà mất cả nghìn năm, từ đây suy ra một nhóm nhỏ giáo sĩ người Âu sao có thể trong vài chục năm (nhiều nhất từ 1615 đến 1649) tự mình làm ra cho tiếng Việt xa lạ với họ một loại chữ viết hoàn thiện tới mức biên soạn ngay được từ điển? Câu hỏi này dẫn đến suy đoán: Chắc hẳn họ đã tận dụng được một thuận lợi lớn sẵn có nào đấy? Bài viết này xin trả lời: Thuận lợi đó là: chữ Nôm có tính biểu âm, thích hợp Latin hóa.

II.

Chữ Quốc ngữ ra đời là ngẫu nhiên lại vừa là tất nhiên lịch sử. Ngẫu nhiên ở chỗ: Năm 1498, Giáo Hoàng dàn xếp cho Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ký hiệp ước Tordesillas chia vùng truyền giáo, theo đó châu Á chia cho Bồ Đào Nha. Năm 1612, Nhật bất ngờ cấm truyền giáo và trục xuất giáo sĩ. Vatican chủ trương truyền giáo tại Việt Nam. Từ năm 1615 trở đi, các giáo sĩ người Bồ Đào Nha, Ý, Pháp, như Francisco de Pina, António Barbosa, Gaspar do Amaral, António de Fontes, Cristoforo Borri, Girolamo Maiorica, Alexandre de Rhodes v.v… lần lượt đến nước ta.

     Số giáo sĩ này thuộc Dòng Tên, đều là những nhà truyền giáo sẵn sàng tử vì đạo, những học giả có bằng tiến sĩ, tới đâu đều nghiêm chỉnh nghiên cứu ngôn ngữ, tuân theo phong tục tập quán bản xứ. Họ đã nhanh chóng dùng tiếng Việt giảng đạo, dùng chữ Nôm viết tài liệu giáo lý. Francisco de Pina năm 1617 đến nước ta, 3 năm sau đã cùng các giáo sĩ soạn bài giảng đạo bằng chữ Nôm. Thời gian 1632-1656 Maiorica đã viết 45 tác phẩm chữ Nôm, trong đó Thư viện Quốc gia Pháp hiện giữ 15 tác phẩm với tổng số 1,2 triệu chữ, gấp 52 lần số chữ Nôm trong Truyện Kiều. Một số nơi còn giữ nhiều tài liệu chữ Nôm của các vị đi đầu làm chữ Quốc ngữ như Amaral, Barbosa. Trong hơn 200 năm trước khi bị chữ Quốc ngữ thay thế (1919), chữ Nôm vẫn được người Công giáo nước ta dùng để biên soạn tài liệu giáo lý. Tóm lại chữ Nôm đã được dùng khá rộng rãi.

     Khi các giáo sĩ-bậc thầy chữ Nôm kể trên định làm loại chữ mới cho tiếng Việt, họ không thể không thấy rõ một sự thực là chữ Nôm đã được người Việt Nam thành công sử dụng lâu tới 500 năm, được gọi là Quốc âm, Quốc ngữ, tức tiếng nói, chữ viết của đất nước; chữ Nôm đúng là loại chữ biểu âm ghi được âm tiếng Việt. Sự thực ấy chứng tỏ tiếng Việt thích hợp dùng chữ biểu âm. Từ khám phá rất quan trọng này các giáo sĩ hiểu rằng nếu dùng chữ cái Latin thay cho các ký tự hình vuông của bộ chữ Nôm, tức Latin hoá chữ Nôm, thì chắc chắn sẽ tạo được loại chữ biểu âm rất tiện dùng cho việc truyền giáo, và chỉ người châu Âu như họ mới có tri thức ngôn ngữ học làm được sứ mệnh vẻ vang đó. Niềm tin ấy đã cổ vũ họ say mê nghiên cứu làm ra loại chữ mới cho tiếng Việt. Đây là một tất yếu lịch sử. Chữ Nôm là hệ thống ký hiệu thị giác cố định ghi lại cả chục nghìn âm tiếng Việt. Do thạo chữ Nôm, lẽ tất nhiên các giáo sĩ đó không thể không sử dụng hệ thống ký hiệu có sẵn ấy vào việc tạo ra chữ viết Latin ghi âm tiếng Việt.

     Trước đó ít lâu, các nhà truyền giáo người Âu ở Trung Quốc (TQ) từng thất bại trong việc Latin hóa chữ Hán nhằm làm ra loại chữ biểu âm cho tiếng Hán, bởi lẽ Hán ngữ bản chất không thích hợp dùng chữ biểu âm, chỉ thích hợp dùng chữ Hán, là loại chữ biểu ý (ideograph). Điều này càng cho thấy chữ Nôm biểu âm là một thuận lợi tiên quyết cực lớn bảo đảm nếu được Latin hóa thì chắc chắn sẽ thành công. Giả thử thời ấy ta chưa có chữ Nôm, chỉ có chữ Nho, thì các giáo sĩ sẽ không thể làm được chữ viết biểu âm cho tiếng Việt, vì chữ Nho vốn là chữ Hán.

     Các ghi chép cho thấy, năm 1617 de Pina đến Đàng Trong, năm 1619 viết xong bản từ vựng tiếng Việt bằng chữ Latin. Năm 1631 Amaral đến Đàng Ngoài, năm sau đã ghi âm rất tốt tiếng Việt, năm 1634 làm xong bộ từ vựng tiếng Việt. Phần việc dùng chữ Latin ghi âm tiếng Việt làm được nhanh như vậy chứng tỏ rõ ràng họ đã dựa trên nền tảng chữ Nôm. Nhưng việc tạo ra một loại chữ hoàn chỉnh thì mất rất nhiều công sức, phải giải quyết nhiều khó khăn về ngôn ngữ học, như xác định tính đơn âm tiết (monosyllabic) cùng 6 thanh điệu của tiếng Việt và sáng tạo ra các ký hiệu thể hiện 6 thanh điệu ấy (các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng). Đến năm 1649 Alexandre de Rhodes mới hoàn tất bản thảo Từ điển Việt-Bồ-La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) và mang về Roma. Năm 1651 ông xuất bản Từ điển này, đánh dấu sự ra đời chữ Quốc ngữ Việt Nam.

     Rốt cuộc Việt Nam trở thành nơi duy nhất sự nghiệp Latin hóa chữ viết vùng Đông Á do các giáo sĩ Dòng Tên tiến hành hồi thế kỷ XVI-XVII gặt hái thành công. Dân tộc ta trở thành chủ nhân của loại chữ viết tiên tiến nhất vùng, thứ chữ được tầng lớp tinh hoa nước ta gọi là linh hồn của đất nước, là công cụ kỳ diệu giải phóng trí tuệ người Việt, và đánh giá Nước Nam ta sau này hay dở cũng là ở chữ Quốc ngữ. Trên thế giới hiếm có chữ viết nào được tôn vinh như vậy. Đúng thế, chỉ sau 100 năm chính thức dùng chữ Quốc ngữ, nền văn minh Việt đã tiến những bước kỳ diệu vượt xa mấy nghìn năm trước.

     Để đánh giá đúng việc Latin hoá chữ Nôm, hãy xem việc người TQ Latin hoá bộ chữ ghi âm của họ. Năm 1918 họ làm bộ Chú âm phù hiệu: dùng 40 chữ cái kiểu ㄅㄆㄇㄈ… ghi được toàn bộ âm Hán ngữ. Về sau vì các chữ cái ấy không có tính quốc tế, nên họ đã động viên cả nước nghiên cứu thay bằng các loại chữ cái thế giới đã dùng như chữ Latin, chữ Slavơ. Tới 8/1955, có 633 người đưa ra 655 phương án. Trên cơ sở đó, và có tham khảo kinh nghiệm làm chữ Quốc ngữ Việt Nam, Uỷ ban Cải cách chữ viết TQ (UBCCCV) đã làm ra Phương án Pinyin Hán ngữ bằng chữ cái Latin, sử dụng từ 2/1958. Chữ Pinyin rất tiện cho việc ghi âm chữ Hán, dùng máy tính hoặc smartphone đánh chữ Hán; ghi địa danh và tên người TQ, làm index trong từ điển... Nhưng phương án này chỉ là công cụ bổ trợ để ghi âm chữ Hán mà không thể hình thành một loại chữ dùng thay chữ Hán. Năm 1986, TQ đã từ bỏ mục tiêu làm chữ biểu âm Latin hóa cho Hán ngữ.

     Thực ra UBCCCV TQ chỉ làm công việc Latin hoá bộ chữ Chú âm phù hiệu, tức dùng 26 chữ cái Latin thay cho 40 chữ cái của bộ chữ đó, kết quả ghi âm được toàn bộ hơn 400 âm tiết tiếng Hán. UBCCCV lớn như một Bộ, có mọi phương tiện hiện đại của thế kỷ XX, lại huy động học giả cả nước, thế mà mất 3 năm (1955-1958) mới làm xong công việc trên. Điều đó cho thấy việc Latin hoá chữ biểu âm đòi hỏi nhiều thời gian và công sức.

     Ở thế kỷ XVII, nhóm giáo sĩ tại Việt Nam đã Latin hóa hơn chục nghìn ký tự chữ Hán (chữ sẵn có và chữ tự tạo) trong bộ chữ Nôm, kết quả ghi âm được nhiều nghìn âm tiết tiếng Việt. Dù chỉ có hơn chục người và làm việc một cách phân tán; thế mà họ làm xong công trình trong có vài chục năm. So sánh với việc UBCCCV TQ đã làm kể trên, có thể thấy các giáo sĩ ở ta đã hoàn thành một lượng công việc lớn hơn nhiều và đạt kết quả cực kỳ xuất sắc. Từ đây suy ra: trong điều kiện khó khăn như vậy, phần việc họ đã làm được chỉ có thể là Latin hoá bộ chữ Nôm mà thôi.

III.

     Tóm lại, có thể coi quá trình tạo chữ Quốc ngữ gồm công đoạn làm chữ Nômcông đoạn Latin hóa chữ Nôm, kết quả hoàn thành hai công đoạn không thể thiếu ấy là làm ra chữ biểu âm Latin hóa cho tiếng Việt. Không có chữ Nôm thì nhóm giáo sĩ kể trên sẽ không thể làm được chữ Quốc ngữ trong điều kiện khó khăn của họ. Nhưng nếu không được Latin hóa, thì cho tới khi bị đào thải, chữ Nôm sẽ không có đóng góp vào việc tạo chữ viết cho dân tộc ta. Nhờ được các giáo sĩ Latin hóa mà chữ Nôm trở thành nhân tố quan trọng trong việc hình thành chữ Quốc ngữ.

     Kết luận

Thế hệ chúng ta dứt khoát phải gánh lấy nghĩa vụ đánh giá đúng công lao mà tổ tiên tài giỏi của ta đã đóng góp vào việc sáng tạo chữ Quốc ngữ — di sản văn hóa vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

1- Quá trình Latinh hóa tiếng Việt trong trào lưu ngữ học truyền giáo
2-
Những nhân vật đầu tiên trong tiến trình chữ Quốc ngữ
3-
Chữ Nôm với đạo Công giáo từ thế kỷ XVII-XX
4-
Một vài tìm tòi về ngôn ngữ
5- Chữ Nôm và văn học chữ Nôm. Tạp chí Hán Nôm số 6 (67) 2004
6-
Những người Bồ Đào Nha tiên phong trong lĩnh vực Việt ngữ học

 

Chủ Nhật, 3 tháng 10, 2021

TRUNG TÂM VĂN HÓA MINH TRIẾT – VIỆN NGHIÊN CỨU VĂN HÓA MINH TRIẾT AI ĐIẾU KÍNH VIẾNG HƯƠNG HỒN GIÁO SƯ VŨ KHIÊU

 

                         Nhân dịp Tết Ất Mùi, sáng 16 tháng 2 năm 2015, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến thăm                                               chúc Tết Giáo sư Vũ Khiêu. Ảnh: Trí Dũng – TTXVN

     Giáo sư Vũ Khiêu sinh ngày 19 tháng 9 năm 1916 tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ông trưởng thành trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, tự nguyện dấn thân vào những hoạt động văn hóa đại chúng Việt Nam thời 1945 - 1975. Sau khi tốt nghiệp tú tài tại Hải Phòng, ông lên Hà Nội làm nghề dạy học và đi theo cách mạng.

 Do đức tính cần mẫn học hỏi, sớm được tiếp xúc với những biến động nhanh chóng của thời cuộc khiến ông từng đảm nhiệm các chức vụ: Tham gia Tổng khởi nghĩa giành chính quyền huyện và các hoạt động tuyên truyền văn hoá Nam Định (1945-1947). Giám đốc các Sở Thông tin Khu 10, Khu 14 Tây Bắc; kiêm phó ban Tuyên huấn khu ủy Việt Bắc, Tây Bắc (1947-1954). Ủy viên ban Tuyên huấn mặt trận quân sự tại các chiến dịch từ Đông Xuân đến Điện Biên Phủ (1950-1954). Giải phóng thủ đô Hà Nội, Vũ Khiêu được cử đi học trường Đảng cao cấp Bắc Kinh (1954 - 1956), về nước giữ chức Phó tổng giám đốc TTXVN. Năm 1959 ông đi học lớp đào tạo ngắn ngày ở Hungary rồi về giảng dạy triết học trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (1957-1959; nay là học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh). Cuối năm 1959 Vũ Khiêu được cử làm thư ký khoa học xã hội của Uỷ ban Khoa học Việt Nam. Năm 1963, Uỷ ban Khoa học Việt Nam tách riêng khoa học xã hội và khoa học kỹ thuật, ông được bổ nhiệm làm Phó chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Khi thành lập Viện Xã hội học ông là viện trưởng đầu tiên. Phó Giám đốc Việt Nam Thông tấn xã (1956-1957) Ủy viên thư ký khoa học khối Khoa học xã hội thuộc ủy ban Khoa học Nhà nước (1960-1963) Trưởng ban Triết học (1959-1961). Phó Viện trưởng Viện Triết học (1964-1975). Trưởng Tiểu ban Khoa học thuộc Trung ương Cục miền Nam kiêm phụ trách Viện Khoa học xã hội miền Nam (1975-1977). Phó chủ nhiện Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, kiêm viện trưởng viện Xã hội học (1977 - 1987).

     Các tác phẩm tiêu biểu: Đẹp (1963), Tuyển thơ văn Cao Bá Quát (1970), Anh hùng và nghệ sỹ (1972), Tuyển thơ văn Ngô Thì Nhậm (1976), Cách mạng và nghệ thuật (1979), Nguyễn Trãi (1980), Góp phần nghiên cứu cách mạng tư tưởng và văn hóa (1987), Người trí thức Việt Nam qua các chặng đường lịch sử (1987), Bàn về văn hiến Việt Nam (Ba tập - 2000), Tìm hiểu ngàn năm văn hiến Thăng Long (2007)...

       Giáo sư Vũ Khiêu được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý như: Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 1 năm 1996), Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (2000), Huân chương Độc lập hạng Nhất, Công dân ưu tú thủ đô nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội (2010). Đầu năm 2017, Giáo sư Vũ Khiêu đã vinh dự đón nhận huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Ngày 19-9-2912 những người bạn thân thiết và ngưỡng mộ đã tổ chức lễ mừng sinh nhật lần thứ 97 của giáo sư Vũ Khiêu. Với phong thái ung dung, tự tại, ông tỏ thái độ trân trọng, vui vẻ nói: «Trước sự tin yêu của Đảng và Nhà nước, trước tình cảm của lãnh đạo Hà Nội vinh danh tôi là Công dân ưu tú số 1 của thủ đô, trước sự cổ vũ của bạn bè hôm nay, tôi lại xin bắt tay thực hiện một kế hoạch 5 năm nữa và hoàn thành vào năm tôi được 103 tuổi.”

                               GS Vũ Khiêu cùng vợ chồng con trai trưởng và vợ chồng cháu đích tôn

     Dường như lời người đã sống hơn một thế kỷ có tiên niệm chính xác:” Sự tính toán đó là của tôi. Còn sống chết là việc của trời. Tôi chỉ biết hứa với bạn yêu quý của tôi là còn sống năm tháng nào thì làm việc hết năm tháng đó.”  Và giáo sư Vũ Khiêu đã ra đi lúc 12 giờ 37 phút ngày 30 - 9 – 20021 tại Hà Nội, hưởng thọ  106 tuổi.

 TRUNG TÂM VĂN HÓA MINH TRIẾT – VIỆN NGHIÊN CỨU VĂN HÓA MINH TRIẾT

CÓ LỜI AI ĐIẾU GIÁO SƯ VŨ KHIÊU

Vũ tiên sinh ơi!

Nhớ cái thuở một trang văn tế

Đồng bào ta tai nạn đau thương!

Người họ Đặng sức vươn tầm trai trẻ.

30 tuổi, cách mạng về, giải phóng dân nô lệ

Thoát vòng vây một cổ hai tròng.

 

Vũ Khiêu xông pha khắp các nẻo gai chông

Truyền nhiệt huyết, kêu gọi đồng lòng:

Đại đoàn kết! Hỡi đồng bào cả nước!

Khi tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”

Cánh tay trong phương Bắc cứ dập dìu…

 

13 nước vẫn còn trong trứng nước

Đã tỏ đâu chỉ dẫn một con đường!

Lửa nhen nhóm rồi, truyền thống của quê hương

Biển Xuân Trường dạt dào cơn sóng vỗ!

 

Chữ nghĩa thánh hiền cha dạy cho từ nhỏ

Tiếng Pháp tiếp giao nhờ gặp gỡ dọc đường

Áng thơ văn chuyên chở yêu thương

Đuổi ngoại xâm trên mặt đường văn hóa.

 

Hơn thế kỷ đương đầu bao gian khó

Dáng “Anh hùng và nghệ sĩ” vẫn còn đây

“Đạo đức mới” dư âm lan tỏa mãi

“Văn hiến nghìn năm đất Thăng Long vang dội... “

 

Hỡi ôi !

Quy luật hóa sinh sinh hóa đã hẹn rồi

Tròn phận sự lặng lẽ Người vào cõi !

Nhưng tránh sao nỗi tiếc thương mong đợi

Mỗi sớm xuân sang vẫn ấm nóng tay Người

Trang báo Tết có lời thơ chúc Tết

Ngành tuyên truyền danh tiếng giáo sư ơi !

Thứ Hai, 20 tháng 9, 2021

TIỂU THUYẾT HOA HỒNG (tiếp theo đoạn 2)

 NHẤT UYÊN PHẠM TRỌNG CHÁNH

 

LE ROMAN DE LA ROSE

GUILLAUME DE LORRIS và JEAN DE MEUN

 

KIỆT TÁC THI CA NƯỚC PHÁP THỜI TRUNG CỔ

Chuyển ngữ thơ lục bát 

 

                                                                                                       Chân dung dịch giả

THI CA KHÚC II

        TÓM LƯỢC:  Gõ cổng, nàng Phù Dung tiếp đón, giới thiệu. Vào gặp Hoan Lạc chủ nhân khu vườn và buổi hội ngộ xã hội quý tộc .  Gặp Dịu Nhãn, Thần Tình Yêu. Tiếp xúc với ca sĩ Hoan Hỉ, và các giai nhân Thanh Nhã, Đẹp Xinh, Giàu Sang, Hào Phóng, Thật Thà, Thanh Xuân.

 

 

Tôi chưa gặp ai hỏi thăm, 501

Thì tôi chưa thể vào trong khu vườn.

Có lẽ tôi chưa biết đường,

Vì vườn chẳng lẽ nào không lối vào.

Chỉ vì chẳng biết ra sao,

Con đường và lối cổng vào bên trong.

Chẳng có người để hỏi thăm,

Vì tôi mãi đứng lặng câm một mình.

Lòng tôi lo lắng phân vân,

Đến khi ý nghĩ đến trong tôi nào.510

Vườn đẹp chẳng có lối vào ?

Không thang trèo, chẳng đường vào bên trong ?

Tôi rão bước tìm nhanh chân,

Vòng quanh tường một lối thông con đường.

Chung quanh bao bọc vách tường.

Khu vườn xây bởi vòng thành hình vuông.

Tôi tìm được lối vào vườn,

Một cổng hẹp nhỏ con đường vào trong.

Ngoài ra chẳng lối khác thông,

Tôi bắt đầu gõ cổng, và dừng xem sao.520

Tôi đập mạnh nhiều lần vào,

Và ngừng xem có ai nào lắng nghe.

Xem có ai nghe đi ra,

Hồi lâu, người mở cổng nhà, cửa con.

Cổng rào trồng bằng cây duyên.

Cô gái quý phái đẹp xinh dịu dàng.

Mái tóc nâu màu thau đồng,

Làn da mượt mịn trắng hồng gà con.

Vầng trán sáng, đôi mi thanh,

Giữa hai đôi mắt cũng không nhỏ nào. 530

Cũng không rộng, không to cao,

Chiếc mũi đầy đặn thẳng vào dung nhan.

Mắt sắc sảo tựa chim ưng.

Quyến rũ, thèm khát, cái nhìn tinh ranh.

Hơi thở êm ái trong thanh,

Làn da mặt trắng, sắc dung hồng hào.

Miệng xinh nho nhỏ môi đào,

Chiếc cẳm duyên dáng xuyến xao đồng tiền. 540

Chiếc cổ cao thanh trắng ngần.

Hơi to và ngấn cổ trông cao dài.

Chẳng tàn nhan, chẳng nốt ruồi,

Như nàng xinh đẹp tuyệt vời Nhã Ca.*

Thành Jésusalem ngày xưa,

Bàn tay êm ái, mượt mà lướt êm.

Da nàng trắng như tuyết băng.

Tuyết vừa mới đậu trên cành buông rơi.

Khi cơn mưa tuyết bên trời,

Thân hình đầy đặn dáng người thanh thanh.

Khó tìm trên khắp cõi trần,

Thân hình xinh đẹp cô nàng nào hơn.  550

Nàng mang vòng vương miện cong,

Sắc màu hoa kết long lanh nạm vàng.

Vương miện kim tuyến sợi vàng.

Chẳng ai có món nữ trang tuyệt vời.

Cả năm chẳng đủ tả lời,

Trên vương miện đóa hồng tươi kết vòng.

Lặng lẽ, dáng điệu cao thanh.

Trên tay nàng vẫn còn cầm chiếc gương.

Tóc thắt bính chiếc nơ xinh,

Hai tà áo chật căng phồng cánh tay. 560

Áo đẹp xinh vừa vặn thay,

Để tránh ánh nắng, che tay mịn màng,

Đôi găng trắng nuột nà sang,

Áo bằng vải đẹp xứ Gand xanh màu.*

Một dây nhỏ kết phía sau.

Điểm tô trang trang nhã thêm vào sắc hương.

Nàng chẳng thể bận tâm hơn,

Một khi thắt bím, môi son má hồng,

Mang y trang với vòng vàng,

Nàng sống trọn vẹn sắc son một ngày. 570

Thời gian sống đẹp vui thay,

Chẳng một lo lắng mảy may trong lòng.

Chẳng gì bận tâm rộn ràng,

Ngoài điều cao quý trên bàn điểm trang.

Khi mở cánh cổng khu vườn,

Nàng xuân nữ đã sẵn sàng đón tôi.

Cám ơn nàng tôi tạ lời,

Và tôi hỏi tính danh người thanh xuân.

Trông tôi, nàng chẳng ngại ngùng,

Chẳng chối từ, ánh mắt nhìn kiêu sa.   580

Chẳng xem thường, thốt lời hoa,

Trả lời nàng nói : « Tôi là Phù Dung,*

Người quen biết vẫn gọi tên,

Tôi người giàu có, uy quyền chốn đây,

Sống đời vui với hằng ngày,

Chẳng có gì để tôi nay bận lòng.

Sống đời vui vẻ thong dong,

Chải chuốt mái tóc má hồng sắc hương.

Tôi là người yêu, bạn tình,

Của chàng Hoan Lạc hiền lành dễ thương.    590

Là chủ nhân của khu vườn,

Từ đất An Lộc Sơn chàng đến đây,*

Đầu tiên mang đến đất này,

Giống hoa trái tốt tươi, cây trong vườn.

Đến khi cây lớn tốt xanh,

Hoan Lạc xây cất chung quanh tường thành.

Bức tường người đã thấy trông,

Chàng đã điêu khắc, vẽ tranh bức tường.

Các hình ảnh kể sự tình,

Những điều chẳng đẹp chẳng lành, khó thương,      600

Và đầy thê thảm đau buồn,

Mà người đã tỏ tường trong cuộc đời.

Chàng thường đến giải trí chơi,

Họp bạn nghỉ mát vui ngồi bóng râm.

Hoan Lạc và các bạn thân,

Sống niềm hạnh phúc bạn cùng cuộc chơi.

Lúc này họ còn đó thôi,

Hoan Lạc còn lắng nghe lời đùa nô,

Chim sơn ca hót líu lo,

Chim sáo sậu với các loài chim con.    610

Nơi đây chơi các trò chung,

Với bạn bè sống trong cùng niềm vui.

Chẳng nơi nào khác hơn thôi,

Chẳng đâu thể có cuộc chơi vẹn toàn.

Những người thanh lịch trong vườn,

Chẳng bao giờ thấy ở trên cõi trần,

Bạn hữu Hoan Lạc kết thân,

Cuộc chơi huyên náo, vui chung bao trò. »

Nghe Phù Dung kể nguyên do:

« Phù Dung nương tử kể cho tỏ tường 620

Riêng tôi chẳng chi ngại ngùng,

Hoan Lạc cao quý, tôi lòng ngưỡng trông.

Mong kết bạn hữu thiết thân,

Cùng nhau gặp gỡ vui trong nơi này.

Khu vườn này, hạnh ngộ đây,

Lòng tôi cũng muốn sum vầy vui chung.

Mong gặp chàng trước chiều buông,

Tôi mong gặp gỡ, kết liên bạn bè.

Thật là cơ hội mới về,

Kết thân người trí, cận kề thanh cao. » 630

Tôi đi vào, chẳng lời nào,

Qua cánh cổng mở, đón chào Phù Dung,

Lòng tôi hớn hở vui mừng,

Bước qua cổng nhỏ vào trong khu vườn.

Tôi thật vui sướng hài lòng,

Lòng tôi tưởng tượng thiên đường trần gian.

Chốn đầy vui thú dịu êm,

Dường như là chốn đ̣ia đàng siêu nhiên.

Vì chẳng có nơi nào hơn,

Thiên đường nào được như bằng nơi đây.      640

Vui vẻ bằng chốn nơi này,

Khu vườn tôi thấy lòng đầy hân hoan,

Tiếng chim ca hót vang vang,

Khắp nơi vang tiếng cung đàn thanh ca.

Hót nơi đây chim sơn ca,

Nơi kia chim giẻ, nọ là đa đa.*

Như một trường học đồng ca,

Bầy hồng tước, với cả nhà bồ câu,*

Chim kim oanh, chim yến âu,

Chim  sơn ca với  chim sâu sáo hè. 650

Kìa chim chiền chiện bay về,

Nơi khác chim lắng im nghe chẳng buồn,

Sau khi mệt nhọc hót luôn,

Chim cưỡng, chim sáo vẫn còn hân hoan.

Nghĩ mình ca hót hay hơn,

Các loài chim khác trong trường ca thanh.

Nơi khác lời chim két xanh,

Các loài chim khác trong lùm bụi cây,

Trong khu vườn làm tổ này,

Thong dong tiếng hát ca hay của mình.660

Thật là một chốn đẹp xinh,

Đủ loài chim chóc tôi từng kể ra.

Tiếng hát líu lo chan hoà,

Như thiên thần cất tiếng ca vang lừng.

Tôi nghe vui thú trong lòng,

Chưa bao giờ chốn người trần nghe vang.

Có tiếng trong sáng dịu dàng,

Nghe ra chẳng phải tiếng đàn chim non.

Tiếng ca thánh thoát véo von,

Âm thanh bay lượn trong vườn cây xanh.670

Như tiếng nhân ngư biển ngàn,

Tiếng ca trong, tiếng mơ màng thần tiên.

Có tiếng trầm nhẹ mong manh,

Chẳng là tiếng hót trong lành nghe vang.

Tiếng cố gắng con chim non,

Còn đang học hót trên cành xuân ca.

Chẳng rời tổ chẳng thấy ra,

Nhưng nghe tiếng hót biết là chim non.

Một màu xanh tươi lá vườn,

Mà lòng thú vị êm đềm thật vui. 680

Đến độ thấy thật  tuyệt vời,

Một niềm xúc cảm ngập nơi tâm hồn.

Một niềm vui thú chưa từng,

Bước vào khung cảnh vô cùng trong thanh.

Và tôi thầm cảm ơn lòng,

Nàng Phù Dung giúp vào trong cõi này.

Cho tôi trạng thái mê say,

Lòng muốn vui vẻ kết bầy bạn thân.

Vì nàng mở cửa tiếp tân,

Cổng vào khóa kín khu vườn thanh xuân.      690

Bao điều sẽ đến tôi làm,

Mà tôi sẽ kể, tôi thăm thế nào.

Vai trò Hoan Lạc ra sao ?

Bạn tình chàng sẽ thế nào cùng tôi ?

Tôi chẳng muốn dài dòng thôi,

Tôi sẽ kể lại chuyện nơi khu vườn.

Thế nào lột tả thật chân,

Thế nào tôi viết nên vần, 

Mà lòng tôi muốn tả trong từng hồi.

Chẳng muốn ai hỏi lại tôi,

Đàn chim đang hót những lời dịu êm.  700

Chim sơn ca hót dẫn đàn,

Khúc tình yêu khúc mơ màng thanh ca.

Bài ca cung điệu thiết tha,

Tiếng cao, tiếng thấp hát hoà vọng vui.

Điệu ca thanh chẳng để cười.

Nhẹ nhàng cung điệu tươi vui trong lòng.

Tiếng ca nhẹ nhàng mùa xuân.

Sau thời gian chú ý lòng nghe chim.

Và tôi đã đến bên thềm,

Gặp chàng Hoan Lạc tôi lòng ước mong. 710

Tôi nghe ngưỡng mộ tấm lòng,

Thái độ chàng những bạn thân thế nào ?

Tôi vào lối phải đường vào,

Khu vườn trồng húng thơm, bao thì là.

Nhanh thấy Hoan Lạc trước nhà,

Tôi đã đến chốn riêng ra mắt người,

Nơi hội ngộ các cuộc chơi,

Cùng chàng bạn hữu bao người thanh tao.

Hoan Lạc tổ chức mời vào,

Tôi đã nhận thấy biết bao anh tài. 720

Tôi đã nhận ra biết rồi.

Dáng người cao đẹp trang đài thanh oai.

Ăn mặc chải chuốt tựa nơi,

Chốn thiên thần cánh tuyệt vời cao xa.

Người trần gian chẳng thế là,

Dáng người thanh nhã mặn mà sắc hương.

Với những người tôi tiếp tân,

Cùng nhau nhảy múa trong vòng hân hoan.

Một phu nhân đã gọi tên,

Mời nàng Hoan Hĩ hát lên cho mình,   730

Nàng vui điệp khúc trữ tình,

Chẳng lời ca đẹp não nùng nào hơn.

Tiếng ca kỳ diệu nghe vang,

Giọng nàng trong sáng dịu dàng tươi thanh.

Nàng chẳng thô thiển dáng xuân,

Thân hình cong uốn nhịp nhàng lời ca.

Dậm chân theo điệu hát đùa,

Vì nàng quen với đồng ca mọi người.

Bạn bè cùng vui vẻ mời.

Quen nghề chuyên hát bài vui yêu cầu,740

Nàng thường tự nguyện khởi đầu,

Khi người ca múa bắt đầu vòng quay.

Những nàng ca múa đẹp thay,

Những vòng hình đẹp đôi tay trang đài.

Dịu dàng trên cỏ xanh tươi,

Chung quanh còn thấy : đây người Tiêu Lang,

Người Du Tử, người Xiếc Chuyền,

Người ca Thi Sử trường thiên điệu vần.

Người hát ca điệu Loraine,*

Vì Loraine múa ca vòng thật hay. 750

Khắp vương quốc đều mê say.

Chán xem nhảy sạp thân cây bảng dài,

Lại xem người múa xiệc thôi,

Bàn tay thiện nghệ trổ tài trò chơi.

Nhịp nhàng đẹp mắt cuộc vui,

Ném cao chiếc trống con rồi bắt nhanh,

Một ngón tay, chẳng hụt chân.

Hoan Lạc với các giai nhân cung vòng.

Chàng nhảy chính giữa bên trong.

Hai nàng xinh xắn kề gần một bên.760

Tóc thắt bính thật đẹp xinh,

Không thể nói hết dáng duyên của nàng.

Khi nhảy múa trong vòng tròn,

Gặp nhau trang trọng dịu dàng tay trao.

Khi cả ba gần gặp nhau,

Vai kề vai sánh tâm giao mái đầu.

Tiến gần môi hướng về mau,

Tưởng rằng họ đã hôn nhau nhẹ nhàng,

Nụ hôn khuôn mặt dịu dàng,

Biết rằng họ chỉ uốn mình bên nhau.    770

Đứng im, biết tả làm sao,

Rất lâu tôi mới đi vào bên trong.

Nhìn người cố gắng sức mình,

Để nhảy thật đẹp châu thân quay vòng.

Tôi đứng mãi mê ngắm nhìn,

Chiêm ngưỡng điệu múa quay vòng đến khi.

Một phu nhân nhảy rất vui,

Nhận ra tôi vốn là người biết quen.

Nàng là Thanh Nhã gọi tên,

Vốn người tài sắc vẹn toàn thanh cao.  780

Trời ghen với số má đào.

Thanh Nhã mừng gọi tôi vào cuộc chơi.

« Làm gì đó, bạn quý ơi ?

Vào đây cùng chúng tôi vui chơi nào.

Nắm vòng tay nhảy múa mau,

Vòng tròn vui lắm quay đều bạn ơi ! »

Không do dự, chẳng chần chờ,

Tôi đưa tay nắm nàng thơ xoay vòng.

Tôi thiếu táo bạo trong lòng,

Nhưng bạn đã biết, nhờ quen biết nàng. 790

Thanh Nhã mời tôi vào vòng,

Nắm tay nàng bước theo nàng cuộc chơi.

Vì tôi rất muốn cùng vui,

Cuốn lôi theo nhịp bước người thanh xuân.

Tôi nhìn quan sát thân hình,

Thái độ, diện mạo, sắc dung bề ngoài.

Điệu múa, cách thức trò vui,

Các người cùng nhảy nơi nơi xoay vòng.

Nếu bạn hỏi đến họ chăng ?

Hoan Lạc tươi đẹp, cao trông, thẳng người.   800

Chẳng ai thấy được trong đời,

Một người thanh nhã đẹp trai vẹn toàn.

Chàng có khuôn mặt trái soan,

Làn da mạnh mẽ, sạm hồng thanh bai.

Chàng thanh lịch, ngăn nắp người.

Mắt chàng xanh xám, làn môi hồng đào.

Mũi chàng thẳng đứng và cao,

Tóc nâu, cong quấn tròn vào, cuốn lên.

Đôi vai chàng rộng hiên ngang,

Thân hình thon nhỏ nơi vùng thắt lưng.810

Trông người như tựa trong tranh,

Cứng cáp đầy vẻ uy nghiêm tốt lành.

Chân tay đều đặn thân hình,

Người chàng sống động, kiên cường, nhẹ nhanh.

Dáng khéo léo bạn thấy chăng ?

Chẳng râu ria, chẳng râu cằm mép môi.

Vài sợi lông gáy cổ dài,

Vì chàng công tử, trai thời thanh xuân.

Chiếc áo lụa thêu chim cầm,

Phủ màu lóng lánh sợi vàng kết đan,    820

Chiếc áo quý giá chàng mang,

Chiếc áo kỳ diệu lạ lùng khéo tay.

Bởi người thiện nghệ cắt may,

Đôi chân mang với đôi giầy mở ra,

Người thợ khéo tay nghề da,

Cột với dây nhỏ thật là đẹp chân.

Người thân yêu bạn thiết thân.

Kết thật khéo léo cho chàng lòng vui.

Bạn tình kết  đóa hoa tươi,

Kết hoa hồng một vòng nơi cổ chàng.  830

Người bạn tình bạn biết không ?

Hoan Hỉ, nàng chẳng ghét ganh bao giờ.*

Vui chơi nàng hát tuyệt vời,

Tưởng chừng đã bảy năm rồi trôi qua,

Tình nàng trao thắm mặn mà,

Hoan Lạc một ngón tay ra trao nàng,

Để nhảy điệu múa vòng tròn,

Và nàng cũng thế xoay vòng cùng quay.

Chàng thanh lịch, nàng xinh thay !

Như hoa hồng nở mê say mịn màng,    840

Tưởng có thể cắt dễ dàng,

Bằng cây kim nhỏ toàn khuôn mặt nàng.

Trán trắng phẳng chẳng vết nhăn,

Đôi lông mi nhỏ và cong như ngài.

Vui vẻ thân thiện mọi người,

Đôi môi xinh xắn, tươi vui khởi đầu,

Đôi má nàng thắm hồng đào.

Tôi biết bạn hỏi ra sao mũi nàng ?

Chẳng ai tạc bằng sáp nung,

Môi nàng bé nhỏ xinh xinh nồng nàn.  850

Sẵn sàng âu yếm hôn chàng,

Tóc nàng vàng óng mơ màng long lanh.

Bạn muốn tôi kể nữa chăng ?

Nàng thật xinh đẹp điểm trang huy hoàng,

Tóc nàng cài một dây vàng.

Vương miện lóng lánh một tràng hoa xinh,

Hai mươi chín hoa trên vòng,

Tôi chưa từng thấy vòng vàng đẹp hơn.

Nàng mặc tơ lụa mịn màng,

Áo choàng ngoài sắc vải vàng hoa trang.860

Phủ thân ngà ngọc mơ màng,

Áo may cùng với bạn nàng thêu đan,

Mà nàng hãnh diện vô vàn.

Khi nàng vừa đến gần chàng kết thân,

Thần Tình Yêu cũng phát ban,

Những tình yêu nhỏ, theo tình ý riêng.

Thần mang quyền lực tâm tình,

Làm cho suy thoái tấm lòng ngạo khinh.

Là Chúa tể kẻ hầu gần,

Là Phu nhân của các nàng cung phi.    870

Những khi Thần thấy kiêu kỳ.

Bởi vì dáng điệu Thần thì chẳng trông.

Như kẻ hầu hạ dưới trần.

Bởi vì vẽ đẹp như thần xứng danh.

Tôi bối rối sợ tả hình,

Vì Thần chẳng mặc áo bằng lụa thêu.

Áo hoa nho nhỏ điểm nhiều,

Thật là tinh tế tình yêu chốc mòng.

Trên chiếc áo vẽ hoa ngàn,

Hình thoi, che chắn chim muông, thú rừng.   880

Sư tử con với báo vằn,

Với hoa muôn sắc  huy hoàng thanh thanh.

Ngàn hoa bừng nở đua chen,

Vẽ vời muôn sắc vị Thần Tình Yêu.

Nét vẽ khéo léo biết bao,

Chẳng hoa nào mọc nở trong mùa hè.

Chẳng hề có hoa kim khuê,

Chẳng hoa tím, chẳng hoa hoè xanh xanh.

Chẳng hoa vàng, trắng, dương xanh,

Chen vào đó lá vây quanh lá hồng. 890

Những lá lớn to xanh rờn,

Đầu chàng lại đội một vòng kim hoa.

Hoa hồng và chim sơn ca,

Con chim bé nhỏ bay qua tóc chàng.

Làm rơi vài chiếc lá vàng.

Kín đầy chiếc áo vẽ chim đủ loài.

Két xanh, chim sáo, chày vôi.

Chim chiền chiện với sẻ ngô đủ loài.

Như Thiên thần tự cõi Trời.

Đến đây ở lại với  người trần gian. 900

Tình yêu mang đến thanh xuân,

Đến đây và ở cạnh bên với chàng.

Dịu Nhãn mọi người gọi tên,

Chàng trai trẻ đứng triền miên ngắm nhìn.

Nhìn vòng nhảy đang chuyển dần,

Và chàng trai trẻ càng nhìn miên man.

Say mê với vòng nhảy tròn.

Thần Tình Yêu đến hai cung nỏ cài,*

Một nỏ bằng gỗ nặng mùi,

Một nỏ đầy nút gồ cài lên trên.  910

Nỏ này đen hơn, nâu lam,

Nỏ khác bằng gỗ dài hơn đẹp hình.

Nỏ hơi bằng phẳng toàn thân,

Chạm khắc trang trí kỳ công nỏ thần.

Bao nhiêu nương tử đẹp xinh,

Bao chàng trai trẻ thông minh hào hùng,

Cùng vui hội ngộ trong vườn,

Dịu Nhãn hai chiếc nỏ cầm trong tay,

Chẳng phải người dưới mang thay,

Vai chàng mang một túi dài đựng tên.  920

Tay phải nắm năm mũi tên,

Đuôi tên lông thật đẹp xinh khéo làm.

Khắc tên giữa mũi dây căng,

Toàn thân tên mạ nhủ vàng xinh xinh.

Cứng cáp bén nhọn mũi tên,

Mũi tên khi bắn đúng đường thủng xuyên.

Không bằng sắt, chẳng thép ròng,

Chẳng vàng dù nhủ kim ong óng vàng.

Bởi vì tên được trang hoàng,

Các ô vuông nhỏ chấm vàng lên trên.  930

Mũi tên tốt nhất và nhanh.

Chiếc tên đẹp nhất trong chùm mũi tên.

Mũi tên Tuyệt Đẹp gọi tên,*

Cánh tên thật tốt gắn lên tên này,

Cánh tên làm nhẹ đường bay,

Cung tên hiệu quả bắn người sát thương.

Tên khác được gọi Giản Đơn,

Lại có một mũi gọi tên Thật Thà,

Cánh tên có giá trị là,

Giá trị thật sự ấy là cao thanh.    940

Cái thứ tư gọi Đồng Hành,

Trên đó gắn một mũi tên nặng chì.

Nó không bắn tên xa đi,

Nó chỉ dùng đến những khi bắn gần,

Sức công phá nặng nề hơn,

Thứ năm tên gọi Đẹp Gần Giống Nhau.

Mũi tên chẳng nhẹ tay nào,

Nhưng công phá, vết thương đào thật to.

Người bị thương ít âu lo,

Vì chịu đựng được khổ đau trên mình. 950

Vết thương có thể chữa lành,

Nhờ đó đau đớn giảm phần đớn đau.

Có thể chịu đựng thế nào,

Năm mũi tên khác, khác nhau chẳng cùng.

Cũng xấu xí như ước mong,

Cán và mũi cũng chung cùng sắt đinh.

Đen  hơn cả quỷ Diêm Vương,

Mũi tên đầu, ấy gọi bằng Ngạo Kiêu.

Cái khác cũng chẳng hơn nhiều,

Ấy cái Hèn Hạ là điều gọi tên.   960

Mũi tên được phủ màu lên,

Được tẩm thuốc độc để thành dối gian.

Cái thứ ba Hổ Thẹn lòng,

Mất Hy Vọng, cái tên đồng thứ tư.

Tư Tưởng Mới chẳng ngại nghi,

Được gọi là cái tên chi cuối cùng.

Năm mũi tên cùng tánh chung,

Giống nhau như bóng với hình cùng nhau.

Cũng cùng một thiện nghệ nào,

Ấy thật ghê gớm ráp vào nỏ cung. 970

Đầy nút và đầy u tròn,

Chẳng biết nói bắn cung tên thế nào ?

Sức năm mũi tên ra sao ?

Chẳng nghi ngờ hậu quả nào trái ngang.

Với các tên khác kể trên,

Tôi chưa nói sức mạnh còn ra đây.

Sự thật sẽ biết có ngày,

Đếm và hiểu được đủ đầy nghĩa sâu.

Tôi sẽ chẳng quên gì đâu.

Những điều lợi ích trong câu chuyện này. 980

Trước khi chấm dứt lời đây,

Và tôi sẽ trở lại nay chuyện tình.

Các người quý phái quay vòng.

Và còn phải kể điều cần nói chung.

Phong cách và dáng điệu cùng,

Thần Tình Yêu đã tốt lành đặt nên.

Thần khó khăn chống một bên,

Các nương tử có tiếng tăm chuyện tình.

Một nương tử tên Đẹp Xinh,*

Một trong mười mũi tên cung ấy là.     990

Nàng có nhiều tính tốt mà,

Chẳng ngâm đẹp, chẳng mặn mà sắc nâu.

Nàng sáng tựa ánh trăng thâu,

Trước nàng, tinh tú xem hầu sáng chi.

Như những ngọn nến li ti,

Thịt da mềm mại, chân tay hồng hào.

Đơn giản như một cô dâu,

Trắng ngần như tựa huệ châu hoa đồng.

Khuôn mặt nàng thật sáng trưng.

Dáng người tuyệt đẹp thân hình mảnh mai.    1000

Nàng chẳng đánh phấn thoa môi,

Chẳng cần chải chuốt, chẳng thời điểm trang.

Chẳng vén khéo, chẳng trang hoàng,

Tóc nàng vàng óng, mịn màng vai thân.

Tóc dài xỏa tận gót chân,

Mũi nàng đầy đặn, miệng xinh, môi hồng.

Dáng dịu hiền cảm thấu tim,

Như thần linh đến giúp mang tâm tình.

Tôi ghi khắc nhớ thân hình,

Chẳng bao giờ thấy người trần đẹp hơn.1010

Trẻ đẹp, tóc vàng, dáng duyên,

Vui vẻ, thích thú, thương yêu, dịu dàng,

Mãnh mai, quý phái, đẹp xinh,

Bên cạnh Xinh Đẹp là nàng Giàu Sang.

Một nương tử bậc cao sang.

Vào hàng phẩm giá và trang trọng đời.

Kẻ dám công kích nàng thời,

Dù người thân thuộc tiếng lời chẳng mang.

Hắn thật kiêu ngạo cả gan,

Vì nàng biểu tượng uy quyền, độ nhân.1020

Từ hôm qua, hôm nay chăng ?

Nàng Giàu Sang đã có chân uy quyền,

Giúp người và gây lỗi lầm,

Từ người thường, kẻ tiếng tăm một lòng.

Trọng vọng kính cẩn Giàu Sang,

Đều muốn phục vụ, mơ màng lập công.

Để mong được nàng đoái lòng.

Mọi người ngưỡng vọng phu nhân, kính thờ.

Dù mọi người đều nghi ngờ,

Nhưng đều phủ phục đợi chờ nơi đây. 1030

Vây quanh tâng bốc, khen hay,

Bao kẻ xảo trá, phơi bày muốn tham.

Những kẻ duy nhất bận tâm,

Chê bai, chỉ trích tài năng hơn người,

Được người quý trọng trên đời,

Rào sau, đón trước, tiếng lời mỉa mai.

Kẻ tâng bốc ca tụng ai,

Tô vôi thế giới trong lời tán dương.

Lời nói đâm phía sau lưng,

Nhát dao đâm tới tận cùng đến xương.1040

Tàn phá danh tiếng người lành,

Bốc tâng đến tận trời xanh người giàu.

Kết án người tốt lành nào,

Đặt điều nói xấu cho đời tránh xa.

Cái vòng thân thiết hắn ta,

Những điều tai họa chẳng là riêng ai.

Lời hắn mang đến họa tai,

Kẻ tâng bốc cứ muốn hoài người xa,

Chẳng ai hơn là hắn ta,

Gần Giàu Sang tốt nhất là hắn thôi.1050

Giàu Sang mặc áo tím thôi,

Chẳng nghĩ mình có những người bốc tâng.

Tưởng rằng họ nói tốt lành,

Mình giàu và đẹp sống trong cuộc đời.

Gấm tím trang trí khắp người,

Chỉ vàng lóng lánh như nơi cung đình.

Các công tước, các quốc vương,

Dây chuyền vàng óng chạm hình thanh tao.

Cổ vòng tròn dún sang giàu.

Một bảng vàng chạm đủ màu sứ men.  1060

Nạm vàng, phải biết, dĩ nhiên,

Phong phú đá quý kết lên bảng vàng.

Óng ánh màu sắc kim cương.

Giàu Sang mang một thắt lưng đồng vàng.

Bút thắt bằng đá quý quyền,

Bảng to lớn đá lại càng quý hơn,

Kỵ được thuốc độc ai mang,

Chẳng ai đầu độc Giàu Sang được nào.

Chẳng nọc độc rắn cắn vào,

Chẳng ai ám hại, cấu cào Giàu Sang.   1070

Viên đá quý giá vô ngần,

Từng là vật bậc tiếng tăm sang giàu,

Tiền bạc hơn cả thành Rome.

Khoá bằng loại đá các màu dụng công,

Chữa được các cơn đau răng,

Tiên đoán được việc chưa từng xãy cho.

Sáng nhìn khi bụng chưa no.

Có thể thấy được vui, lo cả ngày.

Người nhìn thấy được nơi đây,

Những đinh được kết trên dây vải vàng.1080

Đều là vàng thực vàng ròng,

Rất to và nặng độ chừng mỗi đinh.

Nặng như trọng lượng tiền đồng.

Giàu Sang thắt các bính vàng mỗi bên,

Đặt một vòng vàng cài thêm.

Theo tôi, người thấy sẽ còn ngạc nhiên,

Vàng vòng tinh lọc hai lần,

Kể chuyện giá trị, nếu không biết gì,

Tả các loại đá quý này,

Không biết định giá vật đầy cao sang.  1090

Lượng được giá tiền vòng vàng,

Các loại đá quý, điểm trang trên vòng.

Đá quý khảm chấu trên vàng,

Hồng ngọc, lam ngọc và cùng kim cương.

Hai onze bích ngọc biếc xanh,*

Chạm vào phía trước tinh anh mỹ miều.

Viên minh châu ngọc đáng yêu,*

Sắc đá lóng lánh chiếu soi đêm trường.

Ban đêm có thể dẫn đường,

Khi cần đi đến một phương hướng nào.1100

Khoảng chừng nữa dậm xa cao,

Ánh sáng châu ngọc soi vào dung nhan.

Huy hoàng trước mặt Giàu Sang,

Như một ánh sáng hào quang lâu dài.

Chung quanh nàng bước trang đài,

Giàu Sang cầm lấy bàn tay một người,

Một thanh niên thật đẹp trai,

Thanh lịch tuấn tú, bạn đời nàng ta.

Sung sướng dinh thự cửa nhà,

Thật là lộng lẫy nguy nga cơ đồ.1110

Chần giầy, y phục, khôi ngô,

Chủ nhân bầy ngựa cao to đắt tiền.

Tất cả danh dự của chàng,

Nếu ai bảo có trong đàn ngựa thôi,

Chàng có một con ngựa tồi,

Tưởng chừng làm nhục nhơ nơi danh chàng.

Như án trộm cắp. sát nhân.

Chàng vui thú được kề gần sánh đôi,

Sự chăm sóc Giàu Sang thôi,

Vì nàng cung phụng cuộc đời hào hoa.1120

Chỉ nàng đủ sức chi ra,

Nàng chi đến tận đồng ra cuối cùng.

Dù phải mở cả rương hòm.

Đến nàng Hào Phóng kề bên ngồi gần,

Học hành, giáo dục vẹn toàn,

Lấy làm vinh dự chi tiền xuất ngân,

Xuất thân dòng An Lộc Sơn (Alexandre)

Chẳng gì mang đến cho nàng niềm vui,

Khi nàng nói “ Cầm tiền đi !”.

Khác người Hà Tiện khổ chi đồng tiền.1130

Đau khổ khi rút túi tiền,

Hào Phóng rộng rãi trong lòng cho ai,

Thượng Đế nảy nở tiền hoài,

Đến độ nàng mãi cho hoài không thôi,

Của tiền tăng trưởng mãi hoài,

Hào Phóng vui sướng được người vinh danh.

Đủ mọi phương cách kết thân,

Kẻ hiền lẫn với người điên dưới quyền.

Để được nàng ban món tiền,

Chẳng thể, đâu có ghét ganh tìm vào.  1140

Tôi nghĩ khi được nàng trao,

Bạn thân vì bởi việc nào xứng công,

Vì lẽ ấy, lý do rằng,

Nàng được thương mến kẻ sang, người nghèo.

Có điên, hà tiện người cao,

Một người cao trọng lẽ nao lỗi lầm.

Như kẻ Hà Tiện được chăng ?

Dĩ nhiên biển lận thì không thể nào,

Được lãnh địa, đất dồi dào,

Bởi thế Hà Tiện chẳng bao bạn bè.1150

Hắn làm điều hắn muốn nghe.

Ngược lại Hào Phóng bạn bè kết thân,

Bám víu của cải, không cần,

Bởi vì lòng hắn hảo tâm với người.

Vì như thế việc ấy thời,

Như nam châm hút và lôi về mình,

Tất cả vật sắt chung quanh.

Cũng như thế đó hút con tim người.

Vàng và bạc trong cõi đời,

Hào Phóng mặc áo đầm thời mới tinh.1160

Vải tím người Sarrasin,*

Khuôn mặt cân đối đẹp xinh rỡ ràng,

Chiếc cổ rộng mở hở hang,

Bởi vì chuyện cách đó chừng không lâu,

Một phu nhân cần gấp mau,

Nàng làm quà tặng chiếc khuy áo ngoài.

Chẳng vì thế kém xinh tươi,

Chiếc áo nàng mỏng, cổ thời hở da,

Chiếc cổ lồ lộ trông qua,

Sau làn áo mỏng trông ra rỡ ràng,1170

Làn da trắng bóng của nàng,

Hào Phóng ưu điểm tính tình thông minh,*

Nắm tay hiệp sĩ giống dòng,

Vua Arthur ở trong vùng Bretagne.*

Người mang quốc huy lưu truyền,

Ngọn cờ giá trị lẫy lừng thời gian.

Vẫn lưu truyền thống tiếng tăm,

Chuyện người đời kể vẫn còn kể luôn,

Trước vị vua, vị tước công.

Hiệp sĩ đã đến cách chừng không lâu.  1180

Được một người bạn thỉnh cầu,

Một trận thi đấu cùng nhau thao trường.

Chuyện xưa giáo khiên tấn công,

Đội mũ giáp thoát khỏi vòng bao vây.

Đập tan được nhiều khiên mây.

Đuối sức nhiều kẻ tù đày bại vong,

Bởi sức mạnh lòng anh hùng.

Sau hết nương tử có tên Thật Thà,

Không nâu, không sạm làn da,

Mà nước da trắng như là tuyết băng.1190

Mũi người chẳng vùng Orléans

Mắt nàng xanh biếc hình dung tuyệt vời,

Lông mày cong, nụ cười tươi,

Tóc vàng buông đổ trên vai mái đầu.

Nàng khiêm nhường tựa bồ câu,

Trái tim nhân ái cho nhau tốt lòng.

Nàng chẳng dám nói, dám làm,

Cho ai không có điều mình không tin,

Nếu nàng biết một người thân,

Trong niềm thất vọng bao dung của nàng.1200

Nàng nhanh chóng rũ lòng thương,

Và nàng nhạy cảm, con tim dịu dàng.

Nàng trìu mến, thường sợ rằng :

Sa vào hèn hạ lỗi lầm lớn lao.

Nếu nàng không giúp được nào,

Để người khốn khổ, lao đao vì mình.

Nàng mặc áo choàng dài thân,

Các loại vải khác to vân chẳng bằng,

Vùng Arras đẹp hoa vân,*

Chổ nói khéo léo khớp cùng với nhau.1210

Không có một hoa lệch xiêu,

Ở nơi thật đúng chỗ nào phải khâu.

Thật Thà ăn mặc đúng mầu,

Chẳng thấy có chiếc áo choàng đẹp hơn,

Cho một nương tử đẹp xinh,

Phụ nữ quý phái sánh cùng dáng duyên.

Áo nàng ngoài quyện thân mình,

Áo choàng màu sắc trắng tinh rỡ ràng,

Cho người ngay thẳng đàng hoàng,

Một chàng kỵ sĩ cùng nàng đến bên.1220

Mời nàng vào khiêu vũ cùng,

Mà tôi quên chẳng nhớ tên của chàng.

Nắm tay Thật Thà thân thương,

Dáng người quý phái giống dòng hào hoa,

Con Lãnh Chúa Guindesores.

Sau nàng Thanh Nhã mọi người ngợi khen,

Ngưởi người ngưỡng mộ tiếng danh,

Bởi vì nàng chẳng khăng khăng kiêu kỳ,

Chẳng thiếu tình cảm, nhu mì,

Chính nàng đã đến mời tôi vào vòng.  1230

Trước khi tôi đến xưng danh.

Thật Thà chẳng ngớ ngẫn lòng hoài nghi,

Nhưng thông minh, chín chắn lời,

Không quá lời nói, lòng thời bao dung.

Chẳng ai phải dèm pha nàng,

Và nàng cũng chẳng thù hằn với ai.

Làn da nâu nhuộm sáng ngời,

Dung nhan sắc sảo, nụ cười thông minh.

(Tôi chẳng biết người nào hơn.)

Nàng thật xứng đáng vào trong cung đình.1240

Nơi các Hoàng Hậu, Nữ Hoàng.

Cạnh nàng, chàng hiệp sĩ cùng xứng đôi.

Nói năng trao chuốt đẹp lời,

Nghệ thuật làm đẹp lòng người tiếng danh.

Hiệp sĩ cao quý đẹp hùng,

Nổi danh vũ khí kiếm cung toàn tài.

Bạn bè thương yêu mến người,

Nàng Phù Dung đã tỏ lời bên nhau,

Nàng thân mật trò chuyện nào.

Tôi từng đã kể ra sao về nàng.1250

Tư thế quyền uy của nàng,

Vì thế tôi chẳng vội vàng nói thêm,

Vì nàng đối xử tốt lòng,

Đã mở cánh cửa vào vườn cho tôi.

Nhờ nàng tôi đến vườn chơi.

Tiếp theo tôi kể đến người gần bên.

Thanh Xuân tươi sáng dáng duyên,

Trông nàng tuổi trẻ hãy còn thơ ngây.

Tuổi nàng chừng độ mười hai.

Trông nàng xuân sắc môi cười ngây thơ. 1260

Chơi trò sợ mình phải thua,

Nàng không nghĩ đến một mưu mô nào.

Thật tình chơi đùa vui sao,

Biết chăng trẻ chỉ nghĩ vào cuộc chơi.

Bạn bè thân thiết nàng thời,

Ôm hôn nàng những lúc vui tưng bừng.

Những khi nàng thật vui vòng,

Cùng mọi người nhảy trong vòng cuộc chơi.

Nếu dù ai có chê bai,

Thì họ cũng chẳng hổ ngươi chút nào.1270

Người thường thấy họ trao nhau,

Nụ hôn nồng chẳng khác nào chim câu.

Chàng trai trẻ đẹp thanh bai,

Tuổi tác như tính tình người dễ thương.

Như cô bạn gái yêu đương,

Cũng thế khi họ nhảy chung trong vòng.

Các người, các cặp khác cùng,

Họp thành một nhóm cùng chung một đoàn.

Những người thẳng thắng đàng hoàng.

Có giáo dục ở trong cùng giới thôi. 1280

 

(Còn tiếp)

 

CHÚ THÍCH :

544. Nhã Ca : Cantique des Cantiques trong Kinh Thánh Cựu Ước.

564. Gand thành phố nước Bỉ, nổi tiếng nghề dệt.

479. Loraine : vùng nước Pháp giáp giới nước Đức.

582. Phù Dung lẽ ra phải dịch là nàng Phù Phiếm, tôi thay đổi thành Phù Dung cho thuận vần. Oiseuse có nghĩa là nhàn rỗi, lười biếng, trong truyện vai trò nàng là người mở cổng vào vườn, nàng chỉ có một việc làm là ngồi trang điểm.

592. An Lộc Sơn dịch từ  Alexandre.

645-647. Chim giẻ (geais), hồng tước (roitelet), chim sáo (étourneau), chin cu sen ( tourterel)

779.Việc tả các nhân vật trong vòng nhảy liên tục trong 500 câu thơ. Ngoài Hoan Lạc (Déduit)

đến Thanh Nhã - Courtoisie (câu 779-829), Hoan Hỉ - Liesse (831-863) Thần Tình Yêu cùng với Diệu Kiến - Doux Regard.(865-986)  Đẹp Xinh – Beauté (987-1014). Giàu Sang - Richesse (1015-1124) Rộng Rãi- Largesse (1125-1188) Thật Thà - Franchise (1189-1248) và Thanh Xuân – Jeunesse. Những nhân vật  này đối nghịch với các nhân vật trên bức tường :  Thanh Xuân đối nghịch với Già Nua, Rộng Rãi đối nghịch với Hà Tiện, Giàu Sang đối nghịch với Nghèo Nàn, Thật Thà đối với Giả Hình.. Tất cả các đặc tính này là đạo đức của giới quý tộc thanh nhã.

908. Thần Tình Yêu có một vị trí đặc biệt trong tưởng tượng thời Trung Cổ. Nó được chuyển hóa từ Thần Tình Yêu thời Cổ Đại, thần nữ Aphrodite (Vệ Nữ) có cái thắt lưng làm mê hoặc Hélène người đẹp nhất trần gian, bỏ chồng con đi theo Énée trong thần thoại Hy Lạp qua trung gian các thi ca thời cuối Đế Quốc La Mã còn nhìn thấy Thần Nữ trong Prison d ́ Amour của Baudouin de Condé Le Salut d ́ Amour của Philippe de Rémi nhưng không tả dung nhan. Trong Jugement d ́Amour tả Thần Tình Yêu giữa cung điện có cánh, vương miện, áo kết hoa, cầm cung tên. Thời Trung Cổ, Thần Tình Yêu là nam thần.

933 -958. Thần Tình Yêu có mười mũi tên. Năm mũi tên đẹp gọi là : Tuyệt Đẹp, Giản Đơn, Thật Thà, Đồng Hành, Đẹp gần giống nhau. Và năm mũi khác xấu xí gọi là : Ngạo Kiêu, Hèn Hạ, Hổ Thẹn, Mất Hy Vọng và Tư Tưởng mới.

1095. Ích lợi các loại đá được trình bày trong sách Lapidaire của Marbode, Giám Mục Rennes thế kỷXI. Quyền lực nhiều thứ đá chữa bệnh và kỵ chất độc.

1097. Minh Châu (escarboucle lumineuse) là một loại đá chiếu sáng được tưởng tượng trong văn học, Hồng ngọc trên áo Enide, trong lâu đài Roche de Champguin trong chuyện Graal, trên tháp Babylonne trong Floire de Blancheflor, trên lều người sarrazin truyện Aspremont, trên vương miện của Charlemagne trong Renaut de Monteban. trích dẫn bởi Th. Miguet. L ́ Escarboucle médiéval, pierre de lumière. Marche Romane XXIX ¾ 1979.

1161. Người Sarrasin : tên gọi người Bắc Phi Châu.

1172. Việc ca tụng người hào phóng thường có trong các tác giả thời Trung Cổ, thường phụ thuộc vào lòng rộng rãi một ông hoàng, cho không tính toán, không lo lắng tài chánh là một đặc tính của người quý tộc. Ngay cả chuyện các bá tước nhỏ của Molière. Hà tiện tích trử, cứng nhắc tiền bạc, tệ haị hơn nữa là cho vay, lấy lãi cao, là tính xấu người tư sản.

1174.  Bretagne vùng phía Tây nước Pháp. Vua Arthur, vua trong truyện Les Chevaliers de la Table Ronde, trong huyền thoại bretonne.

1209. Arras  thành phố bên cạnh Lille phía Bắc nước Pháp.