Thứ Hai, 30 tháng 3, 2020

ĐẠI DỊCH COVID-19, ĐỌC LẠI LA PESTE CỦA ALBERT CAMUS


                                                                 TRỊNH  Y THƯ


     Nằm nhà rảnh rỗi suốt những ngày đại dịch Coronavirus Disease-2019 (COVID-19) hoành hành khắp nơi trên thế giới, tôi lại kệ sách lấy xuống cuốn tiểu thuyết La Peste của Albert Camus đọc lại, và sau khi đọc tôi bỗng giật mình vì những gì đang xảy ra quanh tôi ngày nay đã được Camus miêu tả thật chính xác cách đây trên 70 năm.

 Trong cuốn tiểu thuyết này, xuất bản năm 1947, với bối cảnh là thị trấn Oran, xứ Algerie – lúc đó còn là thuộc địa Pháp – Camus thuật câu chuyện xoay quanh một trận dịch hạch khủng khiếp, tàn phá tan hoang cả thị trấn, và khi trận dịch chấm dứt thì không một ai trong thị trấn không bị ảnh hưởng, nặng là cái chết, nhẹ tuy may mắn sống sót nhưng cả thể xác lẫn tâm hồn chẳng còn như cũ nữa. Cuốn sách hiển nhiên hàm chứa nhiều tư tưởng Hiện sinh, nhiều ẩn dụ, thậm chí có những câu văn đa nghĩa, và tất cả hình như quy chiếu vào tính cách, định mệnh và thân phận con người trong một thế giới phi lý, biểu hiện bởi thần thoại Sisyphus – kiên trì lăn tảng đá lên đỉnh núi, để tảng đá lăn xuống chân núi, rồi lại bắt đầu ra sức lăn lên.

 Bạn hãy cùng tôi đọc lại cuốn tiểu thuyết quan trọng này của Camus để biết đâu chúng ta tìm ra được những điểm song song giữa cuốn tiểu thuyết hư cấu và những sự kiện thực tại đã và đang xảy ra trong cuộc sống vào những năm đầu của thiên niên kỷ thứ ba này.

 Camus thuật, tại thị trấn Oran, thoạt đầu có hàng nghìn con chuột chết ngoài đường phố, nhưng mọi người chẳng ai lưu tâm và chỉ hốt hoảng sau khi báo chí loan tin. Chính quyền địa phương, do áp lực của công luận, phản ứng bằng cách cho nhân viên hốt xác chuột đem đi đốt, mà không biết là làm như thế chỉ khiến dịch bệnh nhiễm truyền nhanh hơn và tác hại khủng khiếp hơn.

 Tự phủ nhận hình như là một thuộc tính của con người, nhất là những con người nắm trong tay quyền lực. Không một chính quyền nào, xưa cũng như nay, dân chủ hay độc tài, muốn một xã hội hoảng loạn. Bằng mọi cách, nhiều khi bằng mọi giá, họ phải bưng bít sự thật, phủ nhận sự thật, cùng lúc che giấu càng nhiều càng tốt những khiếm khuyết, sai lầm với hy vọng mọi chuyện sẽ êm thắm trôi qua trong bóng tối và lãng quên. Đó là cái gì xảy ra tại Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, tháng 11, 12 năm 2019, khi COVID-19 mới được phát hiện. Có bao nhiêu mạng người chết oan vì quyết định vô luân này của nhà nước Cộng sản Trung Quốc? Và nếu thế giới biết sớm hơn thì có lẽ tình trạng ngày nay, như bên Italy, bên Iran, không đến nỗi nguy khổn trăm bề. Chỉ là một giả định, nhưng là giả định đầy thuyết phục.

 Trong cuốn La Peste, khi bác sĩ Bernard Rieux, nhân vật chính diện trong cuốn sách, đi gặp nhà cầm quyền để trình bày về tình trạng khẩn cấp của cơn dịch thì chẳng ai tin, chẳng ai thèm quan tâm. Bác sĩ Rieux chính là bác sĩ Lý Văn Lượng bằng xương bằng thịt có thật ngoài đời. Sự khác biệt là bác sĩ Rieux sống sót sau trận dịch, còn bác sĩ Lượng thì chết trong oan khiên và đau đớn. Kẻ cầm quyền, mặc dù là thủ phạm gây nên những cái chết như vậy, nhưng để phủ nhận và che lấp tội ác, họ đề cao cái chết như một hành vi hy sinh cho nước nhà, cho chế độ, cần được tuyên dương, và với một mảnh giấy xanh xanh đỏ đỏ ghi tên người chết là anh hùng, liệt sĩ gì đó, lương tâm họ hoàn toàn yên ổn. Họ phủi tay quay lại với công việc dang dở, tiếp tục che mắt người dân.

 Họ chỉ kéo màn để hở một nửa sau khi không thể bưng bít sự thật được nữa.

 Chính quyền Trump của Hoa Kỳ thoạt tiên cũng không muốn xé to chuyện. Chính Tổng thống Trump, trong một bản tweet, còn bảo người dân là mỗi năm nước Mỹ có cả chục nghìn người chết vì cảm cúm thương hàn thì ba con vi khuẩn Corona này có gì phải đáng lo. Rất may, bên cạnh Tổng thống có những cố vấn hiểu biết và kinh nghiệm đầy mình (như bác sĩ Anthony Fauci với âm giọng New Yorker đặc sệt) khuyến nghị, nên chính quyền Trump đã kịp thời (dù khá muộn) có những biện pháp gắt gao nhằm chế ngự cơn đại dịch.

 Hãy nhìn vào xứ Nam Hàn. Tuy bị khá nặng, nhưng chính quyền ở đó đã thẳng thắn nhận lãnh trách nhiệm với toàn dân, sớm dốc toàn lực ra đề kháng, và có thể còn quá sớm để biết kết quả tối hậu sẽ ra sao, nhưng chí ít ở giai đoạn đầu của trận chiến, chỉ sau một thời gian ngắn, người dân Hàn đã thành công chế ngự phần nào con vi khuẩn đáng sợ.

 Nhà cầm quyền phải minh bạch, thẳng thắn nhận trách nhiệm, tạo niềm tin nơi dân chúng, đưa ra những biện pháp tuy gắt gao nhưng hợp lý, thì chẳng có lý do nào cơn đại dịch sẽ không trôi qua, trả lại nếp sống bình ổn cho người dân.

 Camus nói rõ như thế trong tác phẩm của ông, nhưng hơn 70 năm qua hình như chẳng ai thèm lưu tâm.

 Camus thuật tiếp, nhà chức trách của thị trấn Oran đã chần chừ, không nhìn thấy sự khẩn trương của trận dịch đang lan tràn một cách khiếp hãi, lại còn cãi vã nhau ỏm tỏi về những biện pháp thích nghi để đối phó. Một biệt khu được thiết lập trong bệnh viện nhưng chỉ có 80 giường, và trong vòng ba hôm người bệnh chở vào đông nghẹt, không có giường nằm. Số người chết gia tăng khủng khiếp, thế là có lệnh cách ly, ai ở nhà nấy, tuyệt đối không ai được ra khỏi chỗ ở, thậm chí chôn người chết phải có nhân viên hữu trách giám sát.

 Khi số người chết lên quá cao thì có lệnh phong tỏa cả thị trấn. Y như Vũ Hán trong trận dịch COVID-19 này. Mọi cửa ngõ ra vào thị trấn đều bị đóng chặt, tàu hỏa không hoạt động, không thư tín, không điện thoại ngoại trừ những trường hợp khẩn cấp, điện tín là phương tiện liên lạc duy nhất với thế giới bên ngoài.

 Trong tình huống ấy, con người cảm thấy như bị tù hãm, trở nên trầm cảm, thậm chí hoảng loạn, và bắt đầu có những ý nghĩ, hành động bất bình thường. Ông Raymond Rambert xin đi Paris gặp vợ không được, bèn mưu toan tính kế với một băng đầu gấu nhờ bọn này tìm đường trốn thoát ra ngoài. Linh mục Paneloux nhân dịp này thuyết giảng cho con chiên nghe rằng vì ta phạm tội lỗi quá nhiều nên bây giờ bị Chúa phạt. Gã Cottard thì gian xảo hơn, bỏ túi khối tiền nhờ buôn lậu.

 Tôi không ngạc nhiên với những điều Camus viết trong cuốn tiểu thuyết. Toàn những con người điển hình trong bất cứ thời-không-gian nào giữa hoàn cảnh như thế. Hiện tại, trong cơn đại dịch này, chính bản thân tôi cũng gặp phải những con người bất bình thường, những tình huống mà trước đây tôi không bao giờ ngờ có thể xảy ra.

 Hôm qua, tôi lái xe ra chợ mua ít thực phẩm dùng trong những ngày bị nằm nhà do luật tiểu bang, nơi tôi hiện cư ngụ, mới ban hành tuần này: tuyệt đối không được ra khỏi nhà, ngoại trừ đi chợ, ra tiệm thuốc, gặp bác sĩ, vào bệnh viện cấp cứu, và dĩ nhiên nằm bất động trong quan tài cho người khiêng vào nghĩa trang.

 Đường sá trống trơn, khác hẳn ngày thường, các khu nhà hàng, mua sắm không bóng người, không xe đậu, quang cảnh lạ lùng đến độ surreal, như trong một cuốn phim khoa học giả tưởng nói về ngày tận thế. Đến một ngã tư, tôi dừng xe chờ đèn xanh. Bỗng có chiếc xe khác trờ tới đậu sát bên cạnh. Có hai gã đàn ông ngồi trên xe, gã ngồi bên ghế hành khách thò hẳn đầu ra ngoài nói gì đó với tôi. Nghe không rõ, tôi bấm nút quay kính xuống. Ngay lúc đó gã nói như quát vào mặt tôi, “Fuck you, Chinaman! Get back to China!” Đoạn chiếc xe gầm rú, vọt lên mặc dù đèn vẫn đỏ.

 Sự việc xảy ra, tuy bất ngờ, nhưng nằm trong dự liệu của tôi, và tôi chẳng thấy thương tổn chút nào. Cái xấu nhất, tồi tệ nhất, cũng như cái đẹp nhất, cao quý nhất, nơi con người, hiện ra rõ rệt nhất trong những tình huống không bình thường. Và chúng ta đang lâm vào một tình huống không bình thường.

 Camus có lẽ cũng nghĩ như thế nên bên cạnh những con người ích kỷ chỉ biết bo bo thủ lợi, lo nghĩ cho bản thân, còn có những người như bác sĩ Rieux, bác sĩ Castel, ông Jean Tarrou, ông Joseph Grand, những con người tốt lành không quản ngại xả thân cứu giúp những bệnh nhân khốn khổ đang cố nắm lấy tia hy vọng mong manh vào sự sống. Họ là hiện thân những chiến sĩ áo trắng ngày nay trong cơn đại dịch khiếp hãi này, và có không ít người hy sinh mạng sống mình để cứu tha nhân.

 Vào hè, tình hình dịch bệnh tại thị trấn Oran càng lúc càng bi đát. Bạo loạn xảy ra, cướp bóc tràn lan khắp nẻo, có vài kẻ bỏ trốn bị lính canh bắn chết ngoài bờ rào, thiết quân luật ban hành, người chết chôn không kịp, dân chúng ai nấy nép mình cắn răng chịu đựng dưới cơn thịnh nộ tai quái của trận dịch. Càng lúc càng tuyệt vọng, con người trở nên điên cuồng, phí phạm sức mạnh cả tinh thần lẫn thể xác cho những chuyện không đâu. Tuy vậy người sống vẫn thu gom sức mạnh chăm sóc người bệnh, chôn cất người chết.

 Tình hình chỉ bắt đầu có vẻ khả quan, hy vọng le lói nhúm lên vào cuối tháng Mười khi thuốc chữa của bác sĩ Castel có hiệu nghiệm. Ông Rambert quyết định ở lại thị trấn mặc dù đã thương lượng được với bọn lính canh. Mức độ sát hại của trận dịch giảm dần và cuối tháng Giêng thì gần như dứt hẳn. Kẻ mất người còn gặp nhau mừng mừng tủi tủi. Bác sĩ Rieux, ông Grand đều sống sót. Gã Cottard thì lên cơn điên, từ trong nhà xách súng bắn loạn xạ và bị bắt bỏ tù. Cha Paneloux suốt thời gian chống dịch đã hăng hái xông xáo giúp người, lại bất ngờ từ trần vào phút chót. Số phận cũng không may mắn đến với ông Tarrou.

 Phần kết cuốn tiểu thuyết, những người sống sót nắm tay nhau ăn mừng. Riêng bác sĩ Rieux thì vẫn ưu tư bởi ông biết rõ những con vi trùng dịch bệnh đó chẳng tiêu tan đi đâu mà vẫn nằm ẩn nấp đâu đó trong nhà ngoài ngõ, chỉ chờ cơ hội lại bùng lên hoành hành dữ dội có thể còn hơn trước. Chẳng cần tìm hiểu đâu xa, hình ảnh bác sĩ Rieux lúc này chính là thần thoại Sisyphus – kiên trì lăn tảng đá lên đỉnh núi, để tảng đá lăn xuống chân núi, rồi lại bắt đầu ra sức lăn lên. Cứ thế con người sống mãi trong phi lý vô vọng trong lúc hoàng hôn đỏ như máu của lịch sử từ từ phủ xuống.

 Trận dịch COVID-19 không phải là trận dịch đầu tiên của nhân loại, và có lẽ cũng không đến nỗi kinh hoàng như trận dịch năm 1918 với 100 triệu người thiệt mạng, khoa học và y học ngày nay tiến bộ nhiều lắm sau 100 năm, nhưng nó là trận dịch đầu tiên mà gần như toàn thể nhân loại khắp năm châu bốn biển bị ảnh hưởng, bởi thế giới ngày nay thu hẹp lại thành một cái “làng,” một cái làng có lẽ còn “bé” hơn cái thị trấn Oran của Camus. Những gì xảy ra bên trong thị trấn rất có thể sẽ tương tự xảy ra cho cả thế giới hiện tại. Cái khác biệt là, ông Rambert và những kẻ tuyệt vọng khác còn tí hy vọng bỏ trốn ra ngoài đi lánh nạn sau khi bị cách ly, còn tôi với bạn thì làm sao chúng ta bỏ trốn cái hành tinh này đi đâu đây? Và tôi dám đánh cá một ăn mười thua với bạn là, trong tương lai, không gần thì xa, chắc chắn nhân loại sẽ lại bị một trận dịch khác, tương tự hoặc thảm thiết hơn trận này.

 Gọi La Peste là một kiệt tác văn chương, có lẽ chưa đủ. Không thèm để ý đến nó, “là hành vi báng bổ cái human spirit,” như tay viết phê bình nào đó phát biểu trên tờ New York Times. Với tôi, human spirit không hẳn chỉ đơn thuần là tinh thần, khí thế hay sự can trường của con người, nó còn là biểu hiệu cho “lòng khao khát muốn sống và được sống như con người.”

 Tôi không rõ trận dịch COVID-19 này sẽ đi tới đâu, nhưng tôi tin tưởng vào cái tốt lành và sức mạnh sống còn của con người, vào cái human spirit nói bên trên, và tôi vững tâm.



(3/2020, giữa cơn đại dịch COVID-19)


Thứ Hai, 23 tháng 3, 2020

VIRUS CORONA TẶNG CHÚNG TA “TRANG GIẤY TRẮNG CHO MỘT KHỞI ĐẦU MỚI”




"Tôi nghĩ chúng ta nên biết ơn con virus này vì nó có thể giúp chúng ta sống sót với tư cách một loài".

(Chuyên gia dự đoán xu hướng (trend forecaster) nổi tiếng thế giới)
     Lời người dịch: Sinh năm 1950, Li Edelkoort được coi là một trong những chuyên gia dự đoán xu hướng (trend forecaster) có tầm ảnh hưởng nhất thế giới hiện nay. Dưới đây là bản dịch của Đỗ Hữu Chí từ bài phỏng vấn Li Edelkoort trên Dezeen ngày 9/3/2020, được bà thực hiện qua email từ Nam Phi - nơi bà đang tự cách ly vì ảnh hưởng của virus corona (Các phần in đậm là nhấn mạnh của người dịch).

     Marcus Fairs (MF): Theo bà virus corona sẽ tạo ra những ảnh hưởng gì?

      Li Edelkoort (LE): Ảnh hưởng của virus corona sẽ rất đa tầng và phức tạp, từ việc mất lòng tin hay yên lòng trở lại, đến các nhận thức cấp tiến về những tác động lên đời sống của chúng ta, đến nỗi sợ hãi kỳ quặc trước những kịch bản có thể xảy ra, đến việc thực hiện các giải pháp cách ly cá thể trong xã hội và việc cách ly các văn phòng, phân xưởng và khu nghỉ.

     Khó mà tính toán được khi mà các con số cứ nhảy liên tục trong một thời gian quá ngắn, nên sự mất lòng tin sẽ tiếp tục diễn ra. Bây giờ chỉ có Trung Quốc, Hàn Quốc và Ý đang thực hiện các biện pháp mà các quốc gia khác rồi sẽ phải làm theo. Bất kỳ ai đang lên kế hoạch cho các sự kiện công cộng trong vài tháng tới nên bắt đầu ngừng lại và đi tìm các giải pháp mới cho giao tiếp và truyền thông. Đây có thể là tin buồn cho những bạn trẻ đang sắp tốt nghiệp vì họ có thể sẽ phải tung mũ tốt nghiệp của mình lên trần nhà.

     MF: Bà đã nói với tạp chí Quartz rằng: "Tôi nghĩ chúng ta nên biết ơn con virus này vì nó có thể giúp chúng ta sống sót với tư cách một loài". Bà có vẫn giữ quan điểm ấy không và ý của bà là gì khi phát biểu nó?

     LE: Bài trên Quartz được lấy từ một cuộc phỏng vấn ngắn bên lề hội thảo Design Indaba và virus lúc đó không phải là chủ đề chính, nhưng tôi vẫn giữ quan điểm của mình.

     Với tư cách là mục tiêu chính của loài virus này, bởi tuổi tác của tôi và bởi tiền sử bệnh về hô hấp, tôi ý thức được sự nguy hiểm và mối đe dọa ngay trước mắt mà nó đang gây ra cho con người trên khắp thế giới. Và tôi rất lấy làm tiếc cho những gia đình đã có người thân mất đi bởi dịch bệnh mới này. Hy vọng rằng, mạng sống của họ đã không phí hoài khi cả thế giới đang nỗ lực để phục hồi lương tri của con người và tiếp tục tồn tại.

     Đại dịch này sẽ buộc chúng ta phải chậm lại, ngưng các chuyến bay, làm việc tại nhà, chỉ giải trí giữa bạn bè thân và gia đình, học cách tự cảm thấy đủ đầy và tỉnh thức. Bỗng nhiên các show thời trang trông thật kỳ quặc và xa lạ, các quảng cáo du lịch lọt vào máy tính của chúng ta thật xâm phạm và lố bịch, suy nghĩ về những dự án mới thật mờ mịt và lơ lửng: liệu chúng có thực sự quan trọng không? Mỗi ngày mới chúng ta lại nghi ngờ một hệ thống mà chúng ta đã biết từ thuở bé, và chúng ta buộc phải cân nhắc khả năng cáo chung của chúng.

     Trong nhiều năm chúng ta đã hiểu rằng để tồn tại với tư cách một loài và để cho hành tinh này tiếp tục vận hành chúng ta phải liên tục tạo ra các thay đổi khốc liệt trong cách mà chúng ta sống, di chuyển, tiêu thụ và giải trí. Không có cách nào chúng ta có thể sản xuất ra nhiều hàng hóa và lựa chọn theo lối mà chúng ta đã quen thuộc. Lượng thông tin khổng lồ về những thứ hoàn toàn vô nghĩa đã làm tê liệt nền văn hóa của chúng ta. Có một nhận thức đang lớn dần trong các thế hệ trẻ rằng, việc sở hữu và tích trữ quần áo và xe cộ đã thậm chí không còn hấp dẫn nữa.



     Nhưng bằng cách nào đó tâm trí của con người luôn phản kháng và muốn thử xem mọi thứ có tự tan biến đi không, tiếp tục chờ thời trong khi chúng ta tiếp tục việc làm ăn y như cũ (business as usual). Bởi vậy sự dừng lại đột ngột của tất cả những thứ này (tạo ra bởi con virus) sẽ tước đi quyền ra quyết định khỏi tay chúng ta, và sẽ kéo mọi thứ xuống một nhịp độ chậm hơn, và khá đáng sợ lúc ban đầu. Chúng ta đã không còn quen với việc làm mà không vội, chờ đợi câu trả lời, tìm kiếm các giải pháp và sản xuất trong sân sau nhà mình. Khả năng ứng biến và sáng tạo sẽ là những tài sản quý giá nhất.

     Không nhiều người hiểu được điều gì đang xảy ra với thế giới và nền kinh tế của chúng ta hiện nay. Thường thì trong các công ty, có thể lên tới 90 phần trăm lượng hàng hóa là made in China, bằng các nguyên liệu chiết xuất từ dầu hỏa như nhựa hoặc polyester. Chúng ta sẽ sớm thấy các kệ hàng hết sạch giày, điện thoại, quần áo, thậm chí kem đánh răng. Chúng ta sẽ thiếu vật tư y tế và sẽ chứng kiến sự ngừng sản xuất của các thể loại quà lưu niệm xấu xí và các túi quà vô dụng.

     Chúng ta đã biết rằng quy trình thiết kế cho các sản phẩm thu đông đang không diễn ra như thường lệ. Skype và DHL cũng giúp chút đỉnh nhưng chúng ta vẫn sắp có rất nhiều hàng hóa tầm thường, bởi chúng được làm theo các công thức thành công cũ. Ấy là nếu người ta vẫn còn cái khao khát muốn mua một cái khăn len Cashmere hay là một đồ vật gì đó cho nhà họ.

     Lượng xuất khẩu không ngừng sa-ri tổng hợp cho Ấn Độ và đồ gia dụng bằng nhựa cho châu Phi từ Trung Quốc, vốn sau nhiều năm đã làm đình trệ nghiêm trọng nền kinh tế địa phương và tạo ra một lượng lớn người thất nghiệp (và ô nhiễm), cũng sẽ có thể phải dừng lại, mang tới các khả năng mới cho nền sản xuất địa phương. Chúng ta sẽ có trong tay một trang giấy trắng cho một khởi đầu mới bởi vì rất nhiều các công ty và tiền sẽ bị xóa sổ trong quá trình hãm phanh này. Tái định hướng và khởi động lại sẽ cần rất nhiều sự thấu suốt và táo bạo để xây dựng một nền kinh tế mới với những giá trị mới, cùng các giải pháp mới cho sản xuất, giao thông, phân phối và bán lẻ.

     MF: Những tác động nào mà virus đã kịp gây ra cho ngành thiết kế và thời trang?

     LE: Cái giá thực sự của việc đóng cửa ở Ý và Nhật Bản, cũng như Hàn Quốc và Trung Quốc, sẽ dẫn đến một đợt suy thoái toàn cầu ở mức độ chưa từng có. Đây không phải là một cuộc khủng hoảng tài chính, mà là một cuộc khủng hoảng ngừng trệ (a disruption crisis). Người ta dừng việc di chuyển, dừng việc ra ngoài, dừng việc tiêu dùng, dừng đi nghỉ mát, dừng đến các sự kiện văn hóa, thậm chí dừng đến nhà thờ!

     Việc hoãn các sự kiện như Tuần lễ Thiết kế Milan (Salone del Mobile), Triển lãm Kiến trúc Venice (Venice Architecture Biennale), cuộc hành hương về thánh địa Mecca của người Hồi Giáo (Hadj), các cuộc cầu nguyện của giáo hoàng, và có thể cả Thế vận hội Olympic cùng những sự kiện khác nữa, tự chúng đều là các thảm họa kinh tế; bởi sự dồn tụ của chúng sẽ làm đình trệ việc lưu thông tiền. Mọi khu vực kinh tế đều sẽ rung chuyển, đặc biệt là các nhãn hàng xa xỉ, các hãng hàng không, các dịch vụ nghỉ dưỡng, các loại hàng hóa điện tử và thực phẩm nhập khẩu.

     Không may là trong thảm họa này, không có thuốc chữa tức thời. Chúng ta sẽ phải nhặt lên những phần sót lại và tái tạo mọi thứ từ đầu khi chúng ta kiểm soát được con virus. Và đây là chỗ mà tôi thấy có hy vọng: một hệ thống mới tốt hơn, được cài đặt với nhiều sự tôn trọng hơn đối với sức lao động và điều kiện sống của con người. Rốt cuộc, chúng ta sẽ bị buộc phải làm điều mà nhẽ ra chúng ta đã phải làm ngay từ đầu.

     MF: Bà nghĩ điều gì sẽ xảy ra trong vài tháng tới?

     LE: Ngay bây giờ chúng ta đang chứng kiến việc đóng cửa lần lượt của các quốc gia. Khí hậu ấm hơn của bán cầu Nam có vẻ là một lợi thế, nhưng chúng ta vẫn chưa chắc chắn về điều đó. Chúng ta sẽ phải chấp nhận việc sống với ít nhu cầu hơn, ít hàng mới hơn, ít newsletters và pop-ups hơn. Chúng ta sẽ phải bỏ bớt đi các thói quen cũ như thể chúng ta đang cai nghiện vậy. Chẳng hạn như ngưng hẳn việc shopping.

Có vẻ như chúng ta đang bước vào một thời kỳ cách ly tiêu dùng (quarantine of consumption) nơi chúng ta sẽ phải học cách hài lòng với một cái váy giản đơn, tìm lại những sở thích cũ, đọc một cuốn sách ta đã lãng quên hoặc nấu một bữa thịnh soạn để làm cuộc đời đẹp hơn. Virus sẽ gây ảnh hưởng lên văn hóa và mang tính quyết định trong việc xây dựng một thế giới mới hoàn toàn khác biệt.

     WF: Bà nghĩ gì về các ảnh hưởng lâu dài đối với xã hội và môi trường?

     LE: Những hình ảnh gần đây về khí quyển tại Trung Quốc cho thấy hai tháng ngừng sản xuất đã làm sạch bầu trời và cho phép người dân được hít thở trở lại. Điều này có nghĩa là virus đã chứng minh rằng việc chậm lại và đóng cửa có thể tạo ra một môi trường tốt hơn, vốn chắc chắn có thể nhìn thấy ở quy mô lớn. Nếu chúng ta bao gồm cả việc di chuyển bằng đường thủy và đường hàng không, di chuyển dành cho các kỳ nghỉ và các chuyến công tác, sự làm sạch sẽ rất đáng kể.

     Bởi vậy, nếu chúng ta khôn ngoan - vốn, đáng buồn thay, giờ đây chúng ta đã biết là không phải thế - chúng ta sẽ bắt đầu lại từ đầu với các luật lệ mới, cho phép các quốc gia trở lại với những giá trị và kỹ năng riêng của mình, mang đến nền công-nghiệp-tại-nhà (cottage industries) vốn sẽ có thể phát triển và nở rộ thành một thế kỷ của nghệ-thuật-và-thủ-công, nơi mà lao động thủ công được tôn vinh hơn tất cả những điều khác.

     Việc đóng cửa các cơ sở sản xuất trong vòng hai tháng mỗi năm có thể là một phần của kế hoạch này, cũng như các studio sáng tạo tập thể (collective creative studios) có thể tạo ra ý tưởng cho nhiều nhãn hàng cùng một lúc, mang tới một nền kinh tế giảm hẳn tác động xấu lên môi trường.

     Các hoạt động và các ngành công nghiệp địa phương sẽ có đà và các tổ chức lấy con người làm trung tâm sẽ chiếm vị trí chủ đạo, với các hệ thống trao đổi và cởi mở, các khu chợ của nông dân và các sự kiện đường phố, các cuộc thi hát và nhảy múa và óc thẩm mỹ vượt trội của việc tự-làm-lấy (DIY-Do It Yourself). Dự đoán của tôi về Thời kỳ A-ma-tơ (Age of the Amateur) có vẻ như đang tới nhanh hơn tôi tưởng.

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2020

CÓ MỘT VẠN XUÂN KIẾN QUỐC KHÁNG THIÊN THU


                                                                  Nhà nghiên cứu Phạm Minh Quân
     Trong suốt chiều dài giai đoạn Bắc thuộc và chống Bắc thuộc của lịch sử Việt Nam, Lý Bí (503-548) nổi lên như một mốc son chói lọi. Bởi ông là người Việt Nam đầu tiên tự xưng hoàng đế, đặt quốc hiệu nước Vạn Xuân và niên hiệu riêng Thiên Đức. Không chỉ là sự kết tinh đỉnh cao của ý thức tự cường độc lập dân tộc, mà còn là một lời khẳng định đanh thép của nước Nam trong tư thế đối trọng ngang hàng với thế lực phương Bắc. Cuộc khởi nghĩa của ông trở thành bài học và động lực cho những cuộc khởi nghĩa sau này của Mai Thúc Loan, Phùng Hưng. Đồng thời, việc dựng nước Vạn Xuân của Lý Bí chính là tiền đề cho nhà nước tự chủ của nhà Đinh, nhà Lý sau này. Tiếp nối mạch nguồn của hai tiểu thuyết lịch sử Phùng Vương (Nxb Hội nhà văn, 2015, Nxb Văn học tái bản năm 2018) và Ngô Vương (Nxb Văn học, 2019), nhà văn Phùng Văn Khai gần đây đã công bố tiểu thuyết Nam Đế Vạn Xuân (Nxb Văn học, 2020) xoay quanh công cuộc khởi nghĩa và thành lập nên nhà nước Vạn Xuân của Lý Bí.  
     Với Nam Đế Vạn Xuân, nhà văn Phùng Văn Khai vẫn trung thành với thể loại trường thiên tiểu thuyết, theo bố cục chương hồi cùng tuyến nhiều nhân vật, như đã làm với hai tiểu thuyết lịch sử Phùng Vương, Ngô Vương trước đó. Đây là một lối tiếp cận truyền thống và an toàn, bởi như ở Trung Quốc, những tiểu thuyết trường thiên - dã sử như Tam quốc diễn nghĩa hay Phong thần diễn nghĩa, hay như Hoàng Lê nhất thống chí ở Việt Nam đều lôi cuốn độc giả bởi cách kể chuyện đơn tuyến hấp dẫn, kịch tính, dễ đọc dễ nhớ. Chiến lược tiểu thuyết của Phùng Văn Khai khai triển từ một nhân vật trung tâm là Lý Bí (tức Lý Nam Đế), cùng tuyến nhân vật vệ tinh được xây dựng xung quanh Lý Bí như Phạm Tu, Triệu Túc, Tinh Thiều, Triệu Quang Phục, Phùng Thanh Hòa… từ đó vẽ lên bức tranh lịch sử của cả một giai đoạn kéo dài gần 60 năm trong thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc của nước ta. Truyện bắt đầu từ lúc Lý Bí còn thiếu thời, vào chùa tu tập cho tới khi trở thành Giám quân ở Cửu Đức, sau đó tập hợp các tù trưởng, hào trưởng, người tài giỏi các vùng miền theo về dấy quân khởi nghĩa đánh đuổi giặc Lương, năm 544 lập nước Vạn Xuân.

Ngay từ những trang đầu của Nam Đế Vạn Xuân đã thấm nhuần tính tôn giáo trang nghiêm sâu sắc, đồng thời mang màu sắc huyền bí của truyền thuyết, của dân gian. Yếu tố Phật giáo đã được hội tụ và kết tinh ở nhân vật Từ sư phụ, một nhân vật bản lề và đắt giá trong tiểu thuyết Nam Đế Vạn Xuân, người có vai trò rất lớn cũng như ảnh hưởng sâu sắc đến những quyết định sau này của Lý Bí. Từ một chi tiết lưu truyền về việc Lý Bí được một vị thiền sư xin về chùa nuôi dạy, và có lẽ phần nào được tác giả lấy cảm hứng từ nhân vật lịch sử có thật sau này là sư Vạn Hạnh, Phùng Văn Khai đã kiến tạo nên hình tượng nhân vật Từ sư phụ là thầy truyền đạt chữ nghĩa, Phật pháp và lòng yêu nước cho hai học trò là Tinh Thiều và Lý Bí. Bằng cách sử dụng nhân vật này, Phùng Văn Khai đã khéo léo lý giải và chắp nối mối liên hệ giữa các nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết. Phần lớn các nhân vật như Tinh Thiều, Lý Thiện (Lý Thiên Bảo), Lý Bí, Điền Công, Điền Thái, Phùng Thanh Hòa đều có một “gốc” chung, xuất thân được thâu nạp làm đệ tử ở cửa Phật, học thông kinh Phật, binh pháp võ nghệ và văn bút thi thư. Và ở họ đều có chung một tư tưởng khuyến thiện trừ tà, thương xót và căm phẫn trước cảnh dân chúng bị đàn áp bóc lột bởi thế lực cai trị ngoại xâm.

Cổ trấn Luy Lâu, địa danh gắn liền với Sĩ Nhiếp, trung tâm kinh tế thương mại và văn hóa - tôn giáo lớn của Việt Nam xưa, chính là nơi châm ngòi và bùng nổ sự kiện bước ngoặt của tiểu thuyết, dẫn đến cuộc khởi nghĩa của Lý Bí. Vùng đất cổ xưa là nơi hai nhân vật lịch sử có công lao không nhỏ đến sự phát triển văn hóa và tín ngưỡng Việt Nam từng đặt chân đến. Đầu tiên, Luy Lâu là nơi chứng kiến Sĩ Nhiếp mở trường lớp dạy chữ và văn hoá Hán, truyền dạy thi thư và lễ nhạc vào thế kỷ II. Sau này, đến thế kỷ thứ VI, Tỳ Ni Đa Lưu Chi sang truyền bá Phật giáo vào nước ta đã cư trú tại chùa Pháp Vân. Bởi những lý cớ đó, Luy Lâu còn là nơi trung tâm hỗn dung giữa Nho giáo và Phật giáo. Dường như qua hai chi tiết Tiêu Tư giả làm thương lái đến Luy Lâu dâng hương cửa thánh rồi gây chuyện giết người, và sau đó bốn hồi ra lệnh thảm sát bảy mươi ba hương trưởng tại lễ dâng hương lễ Phật cũng tại Luy Lâu, Phùng Văn Khai muốn tạo ra một ẩn dụ hàm ý sự xung đột tôn giáo giữa Hán Nho và Phật giáo, hay cũng chính là biểu trưng cho sự xung đột Bắc - Nam, không chỉ đơn thuần là xung đột lãnh thổ mà còn là xung đột về tư tưởng ý thức hệ.

Điều hấp dẫn ở một tiểu thuyết lịch sử đối với bạn đọc, nằm ở khả năng của tác giả trong việc kết hợp hài hòa giữa các yếu tố chính sử, dã sử, đồng thời giữ một biên độ hư cấu hợp lý để không đánh mất tính trung thực lịch sử. Chọn một đề tài lịch sử thuộc giai đoạn Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, Phùng Văn Khai ưu tiên các dẫn liệu chính sử để làm xương sống cho Nam Đế Vạn Xuân. Bên cạnh đó, nhà văn sử dụng huyền tích một cách vừa phải không thừa thãi, chủ yếu nhằm tạo ra sự dị biệt đặc thù cho nhân vật lịch sử, điển hình như tình tiết hổ vàng rơi lệ ở hồi một. Cùng với đó là những chi tiết mang yếu tố truyền thống dân gian vùng Bắc Bộ để tăng tính thuần Việt cho tiểu thuyết, đơn cử là những màn giao đấu trên các sới Vật. Nhà văn thậm chí để ý cả đến những chi tiết nhỏ như phong tục cha đưa mẹ đón, tang cha chống gậy tre đi sau quan tài, tang mẹ chống gậy vông đi lùi phía trước trong tang ma truyền thống Việt (“Đi trước chiếc xe gỗ ậm ạch chở quan tài, ba cậu nhỏ cao thấp khác nhau toàn thân quấn vải trắng trên đầu đội mũ rơm chống chiếc gậy tre non thập thững bước lùi…” tr 22). Việc mở rộng ra các chủ đề văn hóa, cụ thể là văn hóa thuần Việt, như văn hóa chính trị, văn hóa tâm linh, văn hóa dân gian, văn hóa làng xã, sẽ đi đến một sự biểu đạt của nghệ thuật nhìn từ văn hóa, khiến nhà văn không đơn thuần chỉ còn là một tiểu thuyết gia, mà trở thành một nhà văn có nghệ thuật vị văn hóa.

Các nhân vật lịch sử thông qua ngòi bút nhà văn trở thành hình tượng văn học với cá tính phẩm chất riêng. Ở Nam Đế Vạn Xuân, Phùng Văn Khai đã thể hiện sự tiến bộ nhuần nhuyễn trong bút pháp của mình, qua lối kể chuyện hấp dẫn cùng mạch truyện uyển chuyển, với nhiều tình tiết đan xen nhưng vẫn trên một trật tự tuyến tính, không bị đứt gẫy. Nghệ thuật đối sánh được tác giả nhuần nhuyễn sử dụng nhằm tô điểm và phản chiếu sự đối lập giữa hai nhân vật, vừa là đối thủ vừa là đối trọng. Một bên là Tiêu Tư, thứ sử Giao Châu đầy cơ mưu gian hùng, đại diện cho thế lực phương Bắc xâm lược bành trướng. Bên kia là Lý Bí, được xây dựng hình tượng văn võ song toàn, khí độ hơn người, có khả năng đồng thanh liên tài, đại diện cho nước Nam bất khuất tự chủ. Tiêu Tư càng hiếu sát hiểm ác bao nhiêu, thì Lý Bí lại càng đức độ chính nghĩa chói ngời bấy nhiêu. Nhờ vậy, độc giả cảm nhận chiến thắng của Lý Bí trước Tiêu Tư càng trở nên thỏa đáng và mãn nguyện.

Theo tác giả, Nam Đế Vạn Xuân là cuốn mở đầu của Bộ tiểu thuyết lịch sử về thời tiền Lý dự kiến bốn cuốn: Nam Đế Vạn Xuân; Triệu Vương Phục quốc; Đào Lang Vương; Bá thuật vong quốc. Nhà văn Phùng Văn Khai mười mấy năm nay rất mê đi đình đền chùa miếu. Viết Phùng Vương, ông đi ngót trăm đình đền của bảy tỉnh có điểm thờ Bố Cái Đại vương Phùng Hưng. May mắn thay, ông toàn đi với các nhà nghiên cứu lịch sử cỡ Tiến sĩ Đinh Công Vỹ, nhà nghiên cứu Tạ Đức, Trương Sĩ Hùng, nhà văn Hoàng Quốc Hải, Đặng Văn Sinh, Phó giáo sư Đỗ Lai Thúy, Nguyễn Hữu Sơn, Giáo sư Trần Ngọc Vương,… thành thử những gì cần ngọn ngành bia bảng cả một đội ngũ đầu ngành khơi khơi trao đổi bàn luận ông Khai cứ thế ghi vào trong trí óc nên thuận tiện về tư liệu lắm. Chưa kể là, hễ chỗ nào tồn nghi, ông lập tức mời bạn bè bất chấp nắng mưa lên đường khảo cứu. Khi viết Nam Đế Vạn Xuân, có một vị tướng công an rất giỏi lịch sử đã về hưu nhất quyết bảo rằng quê cụ Lý Bí phải là ở Thái Bình. Phùng Văn Khai phản biện bằng cách lên đường đi tìm chùa Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên theo kết luận của Hội thảo Khoa học về Vương triều tiền Lý và quê hương Lý Bí. Nơi đồi gò hoang hóa tiêu điều, ngôi chùa cũng nhỏ nằm nép dưới những tầng cây cổ thủ tưởng như chính quyền đã bỏ quên chẳng có sư trụ trì chỉ loáng thoáng một bà vãi và hai người đàn ông phiêu bạt từ miền Trung quét dọn trông coi.

Phùng Văn Khai không nghịch đảo lịch sử hay lật ngược quan niệm, không tìm cách tạo dư luận cho tiểu thuyết của mình bằng việc đề ra một vấn đề gai góc gây tranh cãi. Ví dụ như ở Nam Đế Vạn Xuân, nhà văn đã có thể lựa chọn đào sâu một vấn đề còn nhiều tồn nghi là nguồn gốc quê hương của Lý Bí để tập trung. Nhưng suy cho cùng, tiểu thuyết lịch sử của Phùng Văn Khai vẫn trung thành thể hiện tinh thần của tác giả, mang tư tưởng yêu nước, ý thức độc lập tự cường sâu sắc và khẳng định chủ quyền dân tộc, cũng như quan niệm tiểu thuyết nên là khúc ca bi tráng của quần hùng chiến bại. Với bút lực trường văn của mình, Phùng Văn Khai không giấu giếm dự định hoàn kết 50 năm còn lại của nhà nước Vạn Xuân qua một trường thiên tiểu thuyết tiếp nối.






Thứ Ba, 3 tháng 3, 2020

VĂN CAO - CUỘC ĐỜI VÀ TÁC PHẨM


 


Văn Cao là tác giả của bài Tiến quân ca bất hủ, Quốc ca nước CHXHCN Việt Nam. Cả cuộc đời ông vừa là một nhạc sĩ, vừa là nhà thơ, đồng thời cũng là một họa sĩ tài hoa, cỏ nhiều cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của đất nước.
Văn Cao tên thật là Nguyễn Văn Cao, sinh ngày ỉ5-11-1923 trong một gia đình công nhân nghèo tạì thành phố Hải Phòng. Ông mất ngày 10- 7-1995 tại bệnh viện Hữu Nghị, Hà Nội. Quê gốc của ông là thôn Hào Kiệt, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Ông bước vào con đường văn nghệ khá sớm, khi mới ở tuổi thiếu niên. Ông là người thuộc thế hệ thanh niên ưu tú, giàu lòng yêu nước, được hấp thụ những tinh hoa của văn hóa Đông Tây. Ông trớ thành nỗi tiếng và liên tục nổi tiếng trong một thời gian khá dài từ những ca khúc lãng mạn và những bài thơ trữ tình thời tiền khởi nghĩa : Bài hát đầu tiên bài Buồn tàn thu (cuối thu 1939 tại Hải Phòng), bài thơ đầu tiên - bài Một đêm đàn lạnh trên sông Huế (cuối thu 1940 tại Huế) và bức tranh đầu tiên - Cuộc khiêu vũ của những người tự tử (năm 1942, tại Hà Nội) và một loạt ca khúc nồi tiếng khác lần ỉượt ra đời : Thiên thai 194ỉ, Bến xuân (1942). Suối mơ, Đống Đa, Thăng Long hành khúc (1943), và những hành khúc yêu nước viết cho Hướng đạo sinh. Năm Ỉ944 ông đã có tranh trưng bày ở triển lãm Duy Nhất tại Hà Nội.
Năm 1944, là năm chuyển biến trong cuộc đời của Văn Cao. Ông được giác ngộ và đì theo cách mạng, tham gia hoạt động bỉ mật, ông phụ trách ấn loảt, in sách bảo truyền đơn. Cuối năm 1944 ông được giao viết về một hành khúc cho đội quân cách mạng của Việt Minh và bài Tiến quân ca đã ra đời trong một căn gác xép, số nhà 45 phố Nguyễn Thượng Hiền, Hà Nội. Bài hát vừa hào hùng, vừa thôi thúc hừng hực khí thế sôi sục của những ngày khởi nghĩa tháng Tám lịch sử. Ngày 16-8- 1945, đại hội quốc dân họp ở Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang; quyết định chọn Tiến quân ca làm Quốc ca nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đầu năm 1946, quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận bản Tiến quân ca là bản quốc ca Việt Nam. Năm 1993, quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam một lần nữa khẳng định vị trí bất di bất dịch của quốc ca Việt Nam.
Những ngày đầu năm 1945, Văn Cao đã tham gia đội trừ gian bí mật của Việt Minh và đã gây ra ấn tượng về một Văn Cao “nhỏ thóị bẳn sủng haỉ tay như một, thoắt ẩn, thoắt hiện mọi nơi”. Ông đã viết bài thơ Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc về nạn đỏi năm 1945.
Cách mạng tháng Tám thành công, ông đã viết hàng loạt những ca khúc hùng mạnh như : Chiến sĩ Việt Nam,Bắc Sơn, Thăng Long hành khúcy Không quân Việt Nam, Hải quân Việt Nam,... và làm thêm lời cho Bến xuân và đổi tên là Đàn chim Việt gửi những người lỉnh Nam tiến. Đặc biệt ông đã thực hiện xong tình ca Trương Chi với cảm hứng về chế độ mới.
Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, Văn Cao tiếp tục lao vào các cuộc đấu tranh gian khổ và ác liệt. Ông đã tham gia Hội Văn hóa cứu quốc, là ủy viên Ban chấp hành. Bước chân ông đi từ đồng bằng khu 3, qua những đồi cọ trung du, lên tới khắp nẻo đường của núi rừng Tây Bắc và Việt Bắc, vượt suối, trèo đèo những tháng ngày của cuộc kháng chiến chống thực dấn Pháp là thời kỳ nở rộ huy hoàng của sự nghiệp âm nhạc của Văn Cao: Bắc Sơn, Làng tôi, Ngày mùa, Công nhân Việt Nam, Toàn quốc thi đua, Tiến về Hà Nội, Ca ngợi Hồ Chủ Tịch, Tiểu đoàn Lũng Vài… và sừng sững trong lịch sử âm nhạc Việt Nam một Trường ca Sông Lô (1948). Năm 1947, ông được cử phụ trách một bộ phận điều tra đặc biệt của công an Liên khu 10 ở Lào Cai và làm báo Độc lập. Tháng 3-Ỉ948, Ông được kết nạp vào Đảng CSVN. Sau đó ông về lại Liên khu 3, công tác phong trào văn nghệ, trình bày báo Thủ đô. Năm 1949 Văn Cao thôi làm bảo Văn nghệ chuyển sang phụ trách Đoàn  nhạc sĩ Việt Nam, Trưởng ban Âm nhạc vụ Văn hóa nghệ thuật Bộ Giáo dục.
Hòa bình lập lạỉ 1955-1958, ông là cản bộ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật, Hộỉ viên các hội: Nhạc sỹ, Mỹ thuật, Nhà văn. Ông là ủy viên Ban Chấp hành Hội nhạc sỹ Việt Nam khóa I. Phó Tồng thư kỷ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật. Ông đã viết và ấn hành trường ca Những người trên cửa biển nỗi tiếng 1956. Từ 1959 Ông về Hội Nhạc làm thơ và viết các tác phẩm khí nhạc cho piano như Sông Tuyến, Biển đêm, Hàng dừa xa. Nhiều nhạc phim và đặc biệt là giao hưởng thính phòng như Anh bộ đội cụ Hồ. Sau giải phóng miền Nam, ông viết bài hát Mùa xuân đầu tiên (1976). Năm ỉ983, ông tái cử ủy viên Ban chấp hành Hội nhạc sĩ khỏa IIL Năm 1986, tại thành phố Hải Phòng, đêm nhạc Văn Cao đầu tiên được tồ chức. Hai năm sau (1988), 60 đêm nhạc Văn Cao đã được tổ chức. Tập nhạc Thiên Thai và tập thơ đã được ấn hành. Năm 1994 hoàn thành Tuyển tập thơ Văn Cao do Nhà xuất bản Văn học ấn hành.
Nói đến Văn Cao, người ta không thể không nói đến hội họa, ông đã có những bức tranh minh họa, những bìa sách và nhiều bức sơn dầu nồi tỉếng. Ông đã nuôi nhiều dự định cho hội họa, một trong 3 cái tài “thiên phú” của ông: nhạc, thơ và họa
Ông đã được tặng nhiều giải thưởng cao quỷ:
-  Huân chương Kháng chiến hạng Nhất ví đã có công soạn Tiến quân ca, quốc ca nưởc CHXHCNVN.
-  Huân chương Độc lập hạng Ba, năm 1988.
-  Huân chương Độc lập hạng Nhất, năm 1993
- Đặc biệt ngày 10-9-1996, Chủ tịch nước đã kỹ
Quyết định tặng giải thưởng Hồ Chỉ Mình đợt I cho 77 cụm công trình, cụm tác phẩm đặc biệt xuất sắc về Khoa học Kỹ thuật, Văn học và nghệ thuậi, trong đó cỏ cụm tác phấm của Vãn Cao.
     Trên đây là những dòng tư liệu cơ bản về người nghệ sĩ lớn trong văn nghệ Việt Nam hiện đại. Nhân dịp những ngày đầu xuân Canh Tý (2020), nhà xuất bản Hồng Đức vừa phát hành sách Nhạc sĩ Văn Cao của nhà văn, nhà báo Diệu Ân, TMT xin trân trọng giới thiệu và trích dẫn một bài viết của tác giả về mối quan hệ ân tình lý trí giữa nhạc sĩ Phạm Tuyên và Văn Cao. Với lối viết chân mộc, giản dị bằng ngôn ngữ báo chí,12 bài viết ngắn gọn dưới dạng ghi lại hồi ức của những người đồng thời, Diệu Ân đã làm nổi bật hình ảnh đẹp đẽ của Văn Cao với những đóng góp quan trọng của ông trong đời sống văn hóa Việt Nam đương đại.

Tôi biết nhạc sĩ Phạm Tuyên rất quý nhạc sĩ Văn Cao, nên tôi có nhã ý đến thăm anh, để hỏi một vài kỷ niệm về bài Quốc ca. Anh Tuyên tiếp tôi cởi mở. Tôi bày tỏ muốn tìm hiểu về bài Quốc ca của Văn Cao, anh Tuyên ủng hộ ngay.
-   Anh có kỷ niệm gì với nhạc sĩ Văn Cao?
-   Tôi ủng hộ nhà báo, đây là góc độ tìm hiểu không bị ảnh hưởng gì hết.
Kỷ niệm với anh Văn Cao tôi có nhiều, thái độ của mình đối với những ngưòi sáng tác gọi là đồng nghiệp, khi xẩ hội chưa đánh giá được đúng mức tôi vẫn rất trân trọng các anh ấy. Anh Văn Cao là bậc đàn anh tôi rất kính ‘trọng, có thợi kỳ anh Văn Cao bị ảnh hưởng của cái gọi là “Nhân văn giai phẩm”, lúc đó có một số ngưòi ngại tiếp xúc với anh. Nhiều lần tôi đến thăm anh, chị Thúy Băng phàn nàn “nhà tôi dạo này ít khách cũng buồn”
Tôi nói: “Chuyện nào ra chuyện đó, anh là tác giả Quốc ca là lớn lắm, em rất quý anh chị, em đã hát rất nhiều bài của anh”. Tôi có một kỷ niệm sâu sắc với anh Văn Cao. Tôi đến thăm Văn Cao và tâm sự: “Sắp tới tôi có được tuyển chọn một tuyển tập nhạc, anh vẽ cho tôi một phác thảo thì tốt, để tôi đưa vào sách” Anh Văn Cao rất vui, chị Thúy Băng vui vẻ:
-  Để tôi ra mua ít rượu để hai anh em ngồi uống với nhau.
-  Anh Văn Cao đã vẽ cho tôi, đây bức ký họa đây.
-  Bố em cũng được ông Văn Cao vẽ tặng một bức ký họa, bố em quý lắm.
-  Bức ký họa ấy tôi đã đưa in vào tuyển tập của tôi, sở dĩ tôi nói như vậy cũng giống như trường họp của Trịnh Công Sơn, lúc mới giải phóng miền Nam, Trịnh Công Sơn ở Huế. Khi đó các văn nghệ sĩ, thậm chí các nhà báo còn ngại tiếp xúc với Trịnh Công Sơn vì họ cho rằng anh là người ở phía bên kia là người phe Cộng hòa nên không ai dám đến thăm. Khi tôi vào Huế người đầu tiên tôi đến thăm là Trịnh Công Sơn, vì tôi đã hát rất nhiều bài của Trịnh Công Sơn. Cho nên lúc tôi về, Trịnh Công Sơn khoe: “Anh Phạm Tuyên vừa đến thăm tôi, qua nói chuyện thấy anh ấy đúng là một kẻ sĩ Bắc Hà”. Ý tôi muốn nói anh Văn Cao và Trịnh Công Sơn dù trong hoàn cảnh nào mình cũng xuất phát từ tỉnh cảm chân thành và có sự đánh giá riêng của mình.
-  Khi anh làm trưởng ban ca nhạc Đài tiếng nói Việt Nam, anh có tham gia chương trình sáng tác Quốc ca mới không?
-  Tôi không tham gia.
-  Anh là tác giả lớn như vậy sao không tham gia?
-  Bài Quốc ca do Bác Hồ đã chọn và dân đã chọn làm sao thay đổi được.
-  Anh còn nhớ gì về cuộc thi đó không?
-  Ổng Lưu Hữu Phước vận động thay bài Quốc ca, có mấy ông làm thơ ở địa phương gửi cho tôi mấy bài thơ nhờ tôi: “Nhờ anh phổ nhạc cho tôi bàì Quốc ca”
Tôi trả lời: “Tôi không làm được đâu, Quốc ca dân chọn mới được, tôi làm sao phổ thơ của anh thành Quốc ca được!” Sau này người ta chọn hơn 10 bài yêu cầu Đài tiếng nói Việt Nam thu thanh để cho dân góp ý kiến. Mấy bà ở bên quốc hội gặp tôi nói: “Anh xem anh chọn bài nào?” Tôi trả lời dứt khoát: “Tôi chả chọn bài nào” Sau này hội đồng thẩm định vẫn quyết định chọn bài Quốc ca của tác giả Văn Cao, một tác phẩm đã đi vào lòng dân là được trường tồn, dân chọn là nhất. Tôi liên hệ bài hát của tôi, khi đó ông Cù Huy Cận nói với tôi: “Ông vận động cuộc thi sáng tác một bài hát thay cho bài kết đoàn đi vì bài hát này dịch từ lời của nước bạn”. Lúc đó tôi ở đài, tôi cũng phải làm theo ý của ông Cù Huy Cận, thứ trường bộ Văn hóa - Thông tin. Tôi cũng tổ chức cuộc thi viết về nội dung Kết đoàn, có cho ghi âm phát sóng đàng hoàng nhưng không chọn được bài nào. Khi bài hát Như có Bác trong ngày đại thắng vừa phát lên đài, ông Cù Huy Cận gọi điện cho tôi ngay: “Thôi không phải thi nữa Tuyên ơi, có bài này thay cho bài Kết đoàn rồi”. Đúng vậy, sau này trong hầu hết các cuộc họp tổng kết đều kết thúc bằng bài hát Như cỏ Bác trong ngày đại thắng. Cô nói đúng, đâu phải cứ vận động hô hào mà ra bài hát.                                                      
- Anh có cảm nhận gì về bài Quốc ca? 
Cảm nhận của tôi đó là thuộc về cảm xúc riêng tư của người nghệ sĩ, tôi không muốn phân tích. 
- Anh còn nhớ lần đàu tiên anh hát bài Quốc ca ở đâu không?                            
- Có lẽ khi tôi học Đại học Luật ở Thái Nguyên, nhưng tôi còn nhớ khi ở nhà trường Thiếu sinh quân, chính tôi là người hướng dẫn cho các em hát Quốc ca.
            Vâng xin cảm ơn anh!

                                                                                                                DIỆU ÂN