Thứ Tư, 10 tháng 11, 2021

NHỮNG HIỂU BIẾT MỚI VỀ THỜI ĐẠI CÁC VUA HÙNG

                                                                                                       ĐÀO TRẦN QUANG CÁT

                Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam  cùng tướng Đào Trần Nguyên Cát 

                      với một số cán bộ, chiến sĩ QĐNDVN viếng thăm đền Hùng

          Thời kỳ thực dân Pháp đô hộ các nước Đông Dương, người Pháp dã lập ra một cơ sở nghiên cứu gọi là Học viện Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội, nay thuộc viện Bảo tàng quốc gia Việt Nam. Tại đây lưu trữ rất nhiều hiện vật khảo cổ học và tài liệu nghiên cứu lịch sử Việt Nam. Sau khi có hiệp nghị Giơnevơ về Đông Dương (ngày 20 tháng 7 năm 1954), nước ta tạm bị chia cắt làm hai miền. Thực dân Pháp và ngụy quyền tay sai đã phân chia một số tài liệu và hiện vật ở đây chuyển vào Sài Gòn và đưa sang Pháp. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, số tài liệu được nhập vào kho bảo quản thư viện KHXH tại thành phố Hồ Chí Minh.

          Năm 1985, trong thời gian công tác ở Cămpuchia, tôi có dịp về thành phố Hồ Chí Minh làm việc. Thấy tôi ham thích nghiên cứu lịch sử, một người quen tặng tôi một bản dịch sách Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyền do dịch giả Hà Ngọc Xuyên biên dịch. Bộ Giáo dục chính quyền miền Nam Việt Nam xuất bản năm 1968. Tôi đọc xong muốn tìm nguyên bản chữ Hán để đối chiếu nhưng không sao tìm được dịch giả để hỏi. Cho đến năm 2008, sau khi nghỉ hưu, tôi mới có thời gian vào lại thành phố Hồ Chí Minh sưu tầm tài liệu nghiên cứu, tôi thu thập được một số sách lịch sử liên quan đến thời Hùng Vương trong đó có tập sách rất có giá trị là Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyền nguyên bản chữ Hán đã từng lưu giữ tại Học viện Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội trước đây (số A227) nay lưu tại thư viện Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh và một số tập bản đồ lịch sử Trung Quốc. Đọc Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyền đối chiếu với bản đồ lịch sử Trung Quốc và các sách sử của Trung Quốc, các di chỉ lịch sử ở Việt Nam có thể thấy rõ những biến đổi của lịch sử Việt Nam từ nguồn cội trở về sau.

          Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyền là tập sách cụ thể hóa chương Hồng Bàng kỷ của Đại Việt sử ký toàn thư, quốc sử của Việt Nam. Để tránh những từ ngữ thuộc chuyên ngành địa lý khó hiểu, tôi đến Viện Hán Nôm liên hệ nhờ giúp đỡ, được tiến sĩ Hán Nôm Vương Thị Hường giúp hiệu đính lại cho dễ hiểu hơn. Kết hợp với các tài liệu lịch sử đã có, sách này giúp ta làm sáng tỏ nhiều điều rất đáng trân trọng về thời đại các vua Hùng. Với mong muốn để nhiều người cùng hiểu rõ lịch sử nước nhà, như lời Bác Hồ đã dạy: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” tôi xin trân trọng giới thiệu lại nội dung bản dịch kèm nguyên văn và những điều thu hoạch được để độc giả cùng thưởng lãm.

          积玉               

 HÙNG VƯƠNG SỰ TÍCH NGỌC PHẢ CỔ TRUYỀN

Xưa, cháu ba đời của Viêm Đế là Đế Minh. Đế Minh sinh Đế Nghi. Đế Minh tuần du phương nam đến núi Ngũ Lĩnh (nay ở địa giới quận Giao Chỉ, động Bạch Hổ, tỉnh Vân Nam Trung Quốc) gặp nàng Vụ Tiên và lấy làm vợ. Hai người sinh ra Kinh Dương Vương.

Kinh Dương Vương là người có tài trí thông tuệ hơn Đế Nghi, vì thế Đế Nghi muốn nhường ngôi cho em cai quản muôn dân, nhưng Kinh Dương Vương lại từ chối. Do đó vua cha mới để Đế Nghi nối ngôi cai trị phương Bắc. Còn Kinh Dương Vương làm vua cai trị phương Nam, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ. (1)

Kinh Dương Vương kính vâng lệnh cha, phụng mệnh trời cai trị phương Nam, đi về  miền núi Nam Miên, tìm nơi có hình thế tốt đẹp để lập đô ấp. Đường vòng qua Châu Hoan (nay là các xã Thiên Lộc Tả, Thiên Lộc Hữu ở huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang xứ Nghệ An)(2). Xem xét thấy nơi này có cuộc đất rất quý: núi non hiểm trở, dãy núi xòe rộng cao đến ngàn thước tên là Hùng Bảo Thứu Lĩnh Sơn gồm 99 ngọn núi tụ hội(3), nằm kề bên cửa biển Hội Thống(4). Núi cao chót vót, dòng nước mềm mại, uốn lượn bên dưới, thế đất như rồng cuộn hồ nằm, bốn bề chầu về. Thế là nhà vua chọn làm nơi đóng đô, mệnh cho thiên hạ bốn phương về đây triều cống. 

    Một hôm nhân khí xuân mát mẻ, cảnh sắc tươi thắm, nhà vua đi tuần du ngoài biển, ngắm xem phong cảnh, (vua bình sinh thích cảnh sơn thủy), không ngờ thuyền thuận buồm tiến thẳng tới hồ Động Đình (thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay). Vua dừng thuyền ngắm cảnh bỗng thấy một người con gái rẽ nước từ dưới hồ đi lên. Trông nàng thắt đáy lưng ong, nhan sắc tuyệt trần, thật là cuộc gặp gỡ kì lạ xưa nay chưa từng có. Vua sai người chèo thuyền tới gần và cất tiếng hỏi:

-                      -  Đẹp thay, Tiên nữ ở chốn nào vậy?

Người con gái thưa rằng: - Thiếp tên là Thần Long, con gái vua Động Đình, lâu nay ở chốn cung vàng điện ngọc chờ đợi một đấng anh hùng. Hôm nay trời xui khiến tạo ra cuộc gặp gỡ này, vậy thiếp xin theo ngài.

          Nhà vua vui vẻ mời vào thuyền cùng về kinh đô, lập làm vợ.

          Lại một lần sau, nhà vua đi tuần du ngắm núi sông thì thấy vùng Nghĩa Lĩnh là một cuộc đất có khí mạch từ trên núi Côn Lôn đổ xuống, đến cửa ải thì tỏa rộng giống như long ngai vươn xa, vượt qua núi Tụ Long rồi đến châu Thu Vật xứ Tuyên Quang lại đột ngột vươn cao muôn trượng, đi tiếp qua phủ Lâm Thao núi Hạ Hòa qua huyện Thanh Ba, Tây Lan, Phù Khang đến sông Bạch Hạc, chùa Long Hoa thôn Việt Trì thì dừng lại.      

Mạch bên trái từ núi Lôi Hà, núi sông chảy theo đến núi Đông Lan qua đạo Dương Đương huyện Tam Dương lại đột ngột vươn cao lên dãy Tam Đảo. Cung tiên bên trái là tay ngai Thanh Long đi qua Kinh Bắc, Hải Dương, Đông Triều qua núi Yên Tử rồi đổ ra 8 xã cửa biển Đồ Sơn, hình thành tay ngai chầu lại.

          Mạch bên phải từ các sông Hán, Nhị Hà, Sông Lô, sông Thao, núi cao sông  lượn ngay dưới chân chạy đến tận Tuyên Quang, Hưng Hóa, mười châu đến Bất Bạt lại vươn lên núi Tản Viên. Cung tiên bên phải là tay ngai Bạch Hổ đi qua Sơn Nam, Ái Châu đổ ra cửa biển Thần Phù đến núi Chích Trợ, qua cửa Trà Lý hình thành ngai phải chầu về.

          Lấy sông Bạch Hạc làm nội minh đường, sông Đại Giang huyện Nam Xương làm trung minh đường, núi Tượng Sơn biển Nam Hải làm ngoại minh đường cùng nghìn núi triều phục, muôn sông chầu về núi tổ Nghĩa Lĩnh.

          Hình thế nước non vùng núi Nghĩa Lĩnh hơn hẳn thành Hoan Châu cũ nên vua lệnh cho xây dựng chính điện ở núi Nghĩa Lĩnh thường xuyên ra ngự ở đấy.  

Bên ngoài lập đô thành Phong Châu nay là thôn Việt Trì, xã Bạch Hạc huyện Bạch Hạc. Thế là việc đóng đô lúc đầu ở núi Thứu Lĩnh (5), sau là núi Nghĩa Lĩnh, nay lấy núi Nghĩa Lĩnh lập đô ấp của họ Việt Thường vậy.

Vua tuần thú trở về thì bà Thần Long đã có thai, có điềm lành hiển hiện ra hào quang đỏ rực, lúc sinh ra Long Quân trong nhà dưới trướng hết thảy phảng phất hương thơm. Long Quân tư chất thông minh không phải người thường, có khí chất của bậc Đế Vương, vua lập làm Hoàng Thái tử. 

 Thời ấy có người con gái vua… (Đế Lai) tên là Âu Cơ về ở quê mẹ trong động Lăng Sương ra châu Trường Sa (6) chơi. Long Quân thấy nàng có sắc đẹp bèn lấy lập làm Hoàng phi.

 

          Kinh Dương Vương trị vì được 205 năm, thọ 216 tuổi thì mất. Con là Lạc Long Quân lên ngôi, đổi hiệu là Hùng Hiền Vương. 

Bấy giờ bà Âu Cơ có thai đã 3 năm 30 ngày, bỗng trên núi Nghĩa Lĩnh có điềm mây lành 5 sắc rực rỡ, rồi bà sinh ra một bọc trăm trứng, nở thành 100 người con trai, tất cả đều có tư chất hơn người, anh hùng cái thế. Đến khi các con trưởng thành, vua chia đất nước thành 15 bộ, giao cho các con cai quản.

1- Sơn Tây

2-    Sơn Nam

3-    Hải Dương

     4. Kinh Bắc

     5-  Ái Châu

6.    Hoan Châu

7.    Bố Chính

 8.    Ô Châu 

9.    Ai Lao

10.  Hưng Hóa

11.  Tuyên Quang

12.  Cao Bình

13.  Lạng Sơn

14.  Quảng Tây

15.  Quảng Đông

Trước hết vua Long Quân bảo với bà Âu Cơ rằng: Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, chủng loại khác nhau, nhân thế cùng chia biệt. Chia 50 con theo cha về biển làm Thủy Thần, 50 con theo mẹ về núi làm Sơn Thần. Đặt các Vương trấn giao cho các con trấn thủ ở khắp các vùng biển, núi. Lại đặt tướng văn gọi là Lạc hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng, con trai vua gọi là Quan

Lang, con gái vua gọi là Mị Nương. Quan Hữu Ty (quan đứng đầu các ty) gọi là Bố Chính.

Thời bấy giờ, trên thì lo dìu dắt cho chính đính lòng người, dưới thì dốc lòng theo giáo hóa nhà vua, các chính lệnh ban ra đều thích hợp nên vua rũ áo chắp tay, vui vẻ ở chốn cung điện lầu son. Dân thì đào giếng cày ruộng, vui vẻ ở chốn thôn dã, không một người dân nào là không toại ý, không một giống vật nào là không yên vui. Sự thành công về việc trị dân định quốc, hơn cả các vua thời trước, tục thuần hóa của đời Thái cổ cũng không sánh kịp vậy. Vua hưởng nước lâu dài, cha truyền con nối, đời đời làm vua, lễ nghi văn hóa nhất thống sơn hà là ông thủy tổ của Bách Việt vậy. Vua Hùng Hiền Vương - Lạc Long Quân - ở ngôi 400 năm, đời đời về biển, sinh hóa bất diệt.

Con là Hùng Quốc Vương nối theo nghiệp lớn, lên ngôi vua chăm về đức hóa khuyến khích cày ruộng trồng dâu khiến dân chúng không còn lo thiếu thốn, kho dự trữ của nước luôn dư thừa, bốn bể bình yên, dân không gian dối, phong tục chất phác đời Hồng Bàng lại được trông thấy, công trình bồi đắp phép tắc trị bình được vẻ sáng hơn thuở trước, đời bấy giờ đều khen là bậc vua hiền vậy.

Vua tưởng nhớ lại việc vua cha đã vạch ra ngày trước bèn vạch đất rẽ cỏ phân chia ranh giới, lập thành các bộ Sơn Tinh, Thủy Tinh gồm trăm vua, cải thành trăm họ, chia ra các đầu non góc biển mà mỗi người hùng cứ một phương. Năm mươi con trấn giữ đầu non gọi là Phiên thần Phụ đạo; năm mươi con trấn giữ góc biển gọi là Thủy thượng Thần linh để bảo hộ cho dân sinh, chăm lo cho tôn miếu xã tắc. Vua hưởng nước được 221 năm.

Sau đến Thái tử Hùng Hoa Vương nối theo chính thống của vua cha. Muốn làm vẻ vang công đức đời trước, vua lấy giáo hóa để khuyến khích phong cách kẻ sĩ, đem nhân nghĩa mà đào luyện mĩ tục cho dân, tu sửa miếu điện phong sắc cho bách thần. Dưới ánh trời quang đức sáng, không đất nào là không nảy nở nhân tài. Trong bầu gió xuân đầm ấm không chốn nào là không vui vẻ, cảnh tượng thái bình thịnh trị không khác gì đời trước. Vua ở ngôi 300 năm, lập Thái tử Hùng Hy Vương lên giữ giường mối nước nhà.

Vua Hùng Hy Vương lên ngôi, nhân sẵn có bề thế đường hoàng đến nay là 4 đời, bèn hăng hái hết lòng cho ngày thêm hưng vượng thanh bình. Bề trong thì sửa sang văn đức để thu phục lòng người, bên ngoài thì chấn hưng võ bị để gương oai khiến xã tắc bình yên, biên cương bền vững. Từ đấy trên rừng dưới bể đâu cũng xưng thần; nơi hang cùng ngõ hẻm hết thảy đều thấm đẫm ơn đức. Công trị bình lớn lao không thẹn với các vua đời trước, thực là ông vua hiền vậy. Vua trị vì được 200 năm!, dựng Thái tử Hùng Huy Vương lên trông coi việc nước.

Vua Hùng Huy Vương lên ngôi, lấy qui chế trước làm gương, trị nước nuôi dân, trị bình thiên hạ cũng đều có chí. Nhưng ở thời thịnh trị đã lâu, cũng như ngòi rạch lâu ngày bị đầy lấp dần, cuộc sống lúc đó chỉ ham cảnh yên vui mà không có cần cù lo toan việc nước.

Khi ấy có một cô đồng, tinh thông địa lý, hiểu biết thiên văn, hay dùng phép mầu nhiệm mà báo với vua nhiều điều, vua khen là người tiên, cho vào chầu trong nội cung, thường khi có việc thì hỏi. Ít lâu sau có đình thần tâu rằng: “cô đồng hoang đường, trước đây chỉ là một người đàn bà ngu si, có biết gì công việc của trời đất thế mà sau khi được vào chầu vua lại nói những chuyện thần linh, chúng tôi thiết tưởng người đó chỉ lấy những sự vu vơ mà mê hoặc Bệ hạ đấy thôi”.

Vua nhận là phải, bắt cô đồng nhốt vào trong cung, sai lập đàn, giả làm một con voi trắng không có răng, con voi đen 3 chân, con ngựa đỏ 5 chân để làm lễ cầu trời.

Vua bảo quần thần rằng: “Trẫm dùng kế này thử xem cô đồng có biết thật giả hay không”.

Thế nhưng trời dẫu cao mà tai nghe thấu dưới thấp, soi xét đến đàn lễ vật giả dối lại có thái độ khinh nhờn của vua như thế bèn gieo rắc tai vạ để cảnh tỉnh vua không có đức. Vua biết là đạo trời báo ứng trước mắt bèn sai gọi cô đồng đến bảo rằng: “Ngươi đã biết cơ trời, nay trong nước có điềm chẳng lành, ngươi có thể lên trời, hỏi nguyên do tự đâu về báo cho trẫm biết chăng?”

Cô đồng xin đi. Nửa đêm lúc canh ba, người cô lơ mơ như giấc mộng, thẳng đến cửa đức Ngọc Hoàng quỳ tâu rằng:

 “Tôi vâng mệnh đức vua tôi, đến đây xin tâu với Thiên đình, nay dưới trần có tai họa, từ đâu mà ra như thế?

Đức Ngọc Hoàng phán rằng: “Ngươi gấp về báo với vua nhà ngươi rằng lưới trời lồng lộng tuy thưa mà khó lọt, trần thế tầm thường cầu nguyện gì thì được nấy, vua nhà ngươi kiêu căng làm càn, lễ bái giả dối vì thế đạo trời báo cho tai vạ đấy, không những tai vạ mà 3 năm sau còn có giặc dã”.

Ngọc Hoàng phán xong cô đồng tỉnh lại đem chuyện báo với vua. Nhà vua sợ hãi vô cùng, cố giữ cô đồng ở trong cung để xem việc đó có ứng nghiệm không. Vua lại sai các quan lập đàn ở giữa đô ấp, lấy voi ngựa, vàng bạc cùng các đồ vật trong cung ra làm lễ vật và đích thân cúng tế, khấn rằng: “Kẻ ngu muội này phạm nhiều lầm lỗi, khiến thiếu lễ với Thiên đình, việc hình phạt đã bày ra trước mắt thật rõ rệt. Vậy cúi xin Thượng Đế chuyển điều tai họa thành ra tốt lành, thì kẻ hèn mọn này được ngửa trông ơn đức cao rộng của trời”.

Khấn xong chợt thấy gió mây cuồn cuộn, trời đất mịt mù, trên đàn hương tỏa mùi thơm lạ lùng và khói bay lên thành áng mây lành rực rỡ sắc màu. Vua bàng hoàng sợ hãi lạy tạ, xa giá về cung, lại sai cô đồng lên trời tâu Ngọc Hoàng xin phù hộ cho nước. Cô đồng về nói: Ngọc Hoàng phán rằng: Nhà vua biết hối lỗi, trời dã soi xét rồi. Tuy nhiên sau này có giặc đến, trời lại sinh người tài giúp cho, Quốc Vương đừng lo. Vua lúc ấy mới thật tin.

 Ba năm sau, chợt thấy thư ngoài biên cấp báo: giặc Ân là Thạch Linh Thần tướng dấy binh từ phương Bắc đến xâm chiếm, giáo mác đầy trời, tinh kỳ rợp đất đúng như lời cô đồng đã nói.

Vua lập tức chay tịnh thắp hương, lập đàn cầu đảo, hội họp các quần thần. Ba ngày sau gió mưa to lớn sấm sét ầm ầm, chợt thấy một cụ già, mình cao hơn chín trượng, râu tóc bạc phơ, ngồi chỗ ngã ba đường, cười nói múa may, những người trông thấy đều cho là bậc kì nhân vào tâu với vua. Vua thân ra đón rước vào trước đàn và hỏi rằng: “Nay có quân giặc đến xâm lược, sự thắng thua thế nào xin cụ dạy bảo cho”. Cụ già thong thả gieo một quẻ rồi nói với vua rằng: “Nếu cầu được người giúp thì giặc này không đánh cũng tan”. Nói xong cụ bay lên không trung đi mất, lúc đó mới biết đấy là vua Lạc Long Quân đến chỉ giáo cho như vậy, vua bèn sai sứ giả đi cầu người hiền tài. 

Nguyên làng Phù Đổng có một nhà giàu, sinh được một người con trai đã hơn ba tuổi đặt tên là Thiết Xung Thần Vương, ăn uống nhiều, người to béo mà không biết nói biết khóc. Bà mẹ nghe thấy sứ giả đến làng nói đùa rằng: “Con ta chỉ biết ăn, không biết đánh giặc để lấy phẩm tước của triều đình đền ơn bú mớm cho mẹ”. Nghe lời mẹ nói, cậu bé bỗng thốt lên bảo mẹ rằng: “Mẹ mời sứ giả đến đây cho con”.

Sứ giả đến. Thần Vương bảo sứ giả rằng: “Kíp về tâu vua cho xin một con ngựa sắt cao 10 thước, một cái búa sắt dài 10 thước thì không lo gì giặc giã nữa”. Sứ giả về tâu hết với vua. Vua mừng lắm sai lấy 50 cân sắt đúc thành ngựa và rìu sắt mang cho Thần Vương.

Thần Vương nhảy lên ngựa thét to lên rằng: Ta là Thần Tướng nhà trời. Ngựa chạy như bay, phút chốc thẳng đến chân núi Vũ Ninh đất Yên Việt, đánh nhau với Thạch Linh Thần tướng ở bên núi, bắt sống được Thạch Linh Thần tướng đem chém đầu còn dư đảng chưa kịp bắt nốt thì cây rìu rơi mất, Thần Vương bèn nhổ những bụi tre bên đường làm khí giới đánh tan quân giặc rồi kéo thẳng đến núi Sóc Sơn ở xã Vệ Linh, huyện Kim Hoa, trút áo giáp để lại, cưỡi ngựa bay lên mây đi thẳng. Nay còn vết chân ngựa ở trên núi này.

Vua Hùng Huy Vương nghĩ đến công lao của Thiết Xung Thần Vương đánh giặc giúp nước mà chưa từng trông thấy mặt, không biết lấy gì báo đền bèn lập đền thờ ở ngay làng ấy (nay là xã Phù Đổng, huyện Tiên Du và thôn Đối Mã, xã Vệ Linh, huyện Kim Hoa). Vua lại cấp 100 khoảnh ruộng để dùng cho việc thờ tự. Sau đó vua lập điện Cửu Trùng Tiêu ở núi Nghĩa Lĩnh gọi là điện Kính Thiên Linh, thời thường đến đó cầu nguyện yên bình.

Từ đấy nhà Ân trải 27 đời vua, trong hơn 640 năm không dám đem quân xâm lược đến nữa. Vua hưởng nước được 81 năm thì mất. Hoàng tử Hùng Chiêu Vương lên nối nghiệp lớn

Vua Hùng Chiêu Vương lên ngôi, mở đầu chăm lo sửa nền chính trị, nhân sẵn có thanh thế lớn để lại, vua cho treo cung cởi giáp không dùng đến binh, chỉ nghĩ việc yên dân, tu sửa văn hóa chính trị mà thôi. Lại soi gương các vết xe đổ thuở trước như làm lễ nhảm nhí khiến cho thiên tai tác hại, giặc giã xâm lấn, nay sang đời thứ 6 sao cho khắp nơi đều được bình yên. Vì vậy vua vâng theo đạo trời, kính thờ quỉ thần, phàm các núi sông nơi nào có đền thờ thiêng ứng, ban chiếu cho các quan văn võ sửa sang, tô vẽ thánh tượng các đền miếu để phụng thờ. Vua lại ngự điện Kính Thiên, xây dựng thêm lầu vàng gác ngọc, sơn vẽ cung tường, trang hoàng lại miếu điện nhất nhất đều tỏ ra oai vệ trang nghiêm, các đồ thờ đều vẽ hình rồng mây, đêm ngày đèn hương không ngớt, Mỗi tháng vào ngày sóc vọng, vua ra điện ngự thị triều bái. Bên tả lại có một cái điện do vị Thượng thánh Đại bảo đời trước tu luyện thần tâm, khéo dùng linh đan đắc pháp mà thành tiên, hóa sinh bất tuyệt, giữa ban ngày có thể bay lên trời, chuyện đó phát tích ngay ở điện này nên mới được các thần tiên xuống trần mà phù giúp non sông. Nhưng cái khí thiêng chung đúc, như là mặt trời mặt trăng cùng các ngôi sao, bốn vị Đại Thiên Vương, tám bộ kim cương, hai mươi tám vì tinh tú, các Bách thần hội cùng Sơn Tinh, Thủy Tinh ở chốn núi non sông biển, cùng là trăm giống thú đều chầu về một nơi là chùa Thừa Long tự ở hạt Từ Sơn (nay là Thiên Quang thiền tự) nên vua lại ra ngự ở chùa ấy, truyền tả hữu các quan sửa sang tường vách, bốn bên tô vẽ để chùa chiền tăng sắc, cùng trồng cỏ hoa trăm giống cho phong cảnh thêm đẹp đẽ.

Rồi lại truyền hịch khắp các châu huyện đâu có tăng ni đạo sĩ đều đến đấy để hội đồng tuyển thí. Quan Lục ty phát mũ áo cho để hội giảng kinh sách mà khai thác nguồn gốc của đạo, tiến cúng hương hoa, bốn mùa ngào ngạt. Vua sai quần thần dùng lễ chay tiến cúng, ngày mồng một và ngày rằm hai bên văn võ đứng chầu nghiêm trang. Vua dâng tờ sớ có câu: “Chín tầng trời tuy xa thẳm, khói hương dễ thấu đến mây lành. Một dạ tỏ tinh thành, cảm cách cũng thông cùng trời đất. Cầu thì tất ứng, nguyện được thỏa lòng”.

Bỗng thấy một cụ già, hào quang rực rỡ, cưỡi gió che mây mà đến, vua quì lạy đón rước vào chùa. Cụ già nói: Ta là thần bên Tây Vực, lâu nay tiêu dao con thuyền Bát nhã trên bể giác ngộ, chẳng nhiễm lòng trần mà đi vào con đường niết bàn tiêu sái, nay nghe chuông trống hồi vang, kệ kinh tiếng tụng mà ta hiển ứng về đây.

Vua mừng thầm nghĩ rằng: Người thanh tịnh trời đất cũng cảm thông. Bỗng thấy ông cụ già sờ vào tay áo lấy ra cho vua một cái móng rồng và một vật báu. Chớp mắt đã thấy mây ánh năm sắc, sáng rực đầu non, cụ già lên trời đã bay đi mất, vua mới biết đức Phật ngự, bèn vọng bái theo.

Lập tức ngày hôm ấy, vua sai các quan phải thành kính trai giới, lập đàn ở chùa, kính thỉnh bách thần, hội ở trên núi Linh Sơn mà khấn rằng: “Hôm nay may được cụ già cho vật lạ, không biết sự quý giá của vật báu ấy thế nào, bách thần anh linh nếu có biết xin chỉ bảo cho”. Khấn xong, thấy trên trời đỏ rực, một đám mây lành bay đến. Bốn vị Đại Thiên Vương hiện ra trên đàn, người cao 7 thước, đầu đội mũ sáng rực, râu tóc bạc phơ, vua rước vào điện và sửa lại mũ áo chỉnh tề rồi hành lễ. Bốn vị đó liền bảo vua rằng: “bảo vật cụ già ban cho trước đây là báu vật của trời, một để làm chuôi kiếm, một để khắc quả ấn nên chế tạo ngay để làm vật báu của đất nước”. Nói xong bốn thần cưỡi mây bay đi.

Vua ra đầu núi bái vọng, nhân tạc Thánh tượng để trong chùa thờ phụng, rồi ngự giá về cung, lấy vật báu của trời khắc thành chiếc ấn, lấy móng rồng làm thành chuôi kiếm. Từ đấy xã tắc vững bền, triều đình yên ổn, vua nghiệm thấy lẽ trời rất huyền diệu nên lòng sùng kính ngày càng coi trọng.

Một hôm nhân khí trời mát mẻ, muôn cảnh tràn tiết xuân, đầy thành hoa hồng hoa tía đua nở, dưới khí xuân bao phủ quần thần cùng nhau tâu lên rằng: “Nghe nói trên núi Tam Đảo thường có quần tiên tụ hội”. Vua vốn tôn trọng việc quỷ thần, bèn ngự giá đi xem phong cảnh. Xe rồng tới chỗ. Mừng thấy núi non gấm vóc như lâu đài trùng điệp ngàn tầm, khe suối trong xanh, lạch nước chảy ngọn muôn phương, phong cảnh đua sắc, hoa cỏ khỏe tươi, chốn đầu non nhỏ có một ngôi chùa cổ là Tây Thiên tự. Vua sai lập đàn tràng, sắm sửa lễ chay, quần thần đứng chầu, vua đến làm lễ bái yết và mở một trường học ở chùa, sớm tối cầu đảo, bảy ngày bảy đêm, khách bốn phương tới xem đông như chảy hội, chim trên rừng ngừng bay đến nghe kinh, cá dưới khe cũng lặng nghe tiếng kệ, thật là vẹn toàn công đức. Vua lại đứng lên phiến đá phẳng phiu mà ngắm cảnh thì chợt thấy đình miếu nguy nga, khói sương lấp lánh, bốn vách rồng mây tưởng như lâu đài Tây Trúc trên đất Phật, một bầu non nước ngỡ chốn Tiên cảnh Bồng Lai. Vua vào chùa Phù Nghi quay về hướng lập đàn mà mật đảo với trời. Cả triều đình đứng trang nghiêm, vua vào lễ khấn rằng: “Xin trời cho thần tiên xuống để cơ duyên gặp gỡ đính ước ba sinh, ấy là nguyện ước của trẫm vậy”. Khấn rồi lạy tạ.

Trong ba ngày không thấy tông tích thần tiên đâu cả, lòng dạ bồi hồi không biết sự thể ra sao, bèn ngự ra đầu núi trông về tiên đài thành tâm mật đảo. Đêm nằm mộng thấy thần linh cho bài thơ rằng:

Tây Thiên trên có người tiên,

Lòng riêng chưa thấy ước nguyền cùng ai.

Nơi Đông lộ gặp anh tài,

Thành ra cũng ở chốn này, này chăng!

Vua được bốn câu thơ thần cho, xe rồng trở về đến chân núi, thấy một người con gái phong tư xinh đẹp, cốt cách thanh nhã, đang đứng bên miếu xem vua ngự. Vua  thấy nàng có sắc đẹp rước đưa về cung hỏi rằng: “nàng ở đâu vậy?”

Người con gái thưa rằng: “Thiếp là người tiên, trời cho giáng sinh xuống Đông Lộ vào làm con ông trưởng giả, đã mấy năm nay ở chốn nhà tranh tụng kinh đọc sử, giữ ngọc gìn vàng để đợi một người anh hùng. Nay nghe tiếng bệ hạ giá Tây Thiên, thiết lập đàn chay chí cầu tiên tử, thiếp không ngại xa xôi đi đến đây xem, may mà duyên trời định trước, gặp gỡ nhà vua thiếp xin được chầu gần dưới trướng, thì thật không phụ duyên ba sinh vậy”. Vua nghe nói mới hiểu trời đem người thần tiên đến cho mình, sai quần thần sắm đủ lễ vật đưa xe nàng về nhà ông trưởng giả làm lễ cưới đón nàng về kinh đô làm Hoàng phi chính thất.

Chưa đầy một năm, Hoàng phi Ngọc Tiêu có thai sinh được một con trai tư chất thông minh, tài năng lỗi lạc. Khi đến tuổi đội mũ, vua cho lập làm Hoàng Thái tử, nối ngôi trị nước, đặt hiệu là Hùng Vĩ Vương.

Sau vua cùng Hoàng phi học phép tiên, hưởng nước 200 năm nhưng tuổi thọ lại sánh với Bành Tổ, Kiều Tông, sinh hóa bất diệt.

Vua Hùng Vĩ Vương lên ngôi, noi gương báu đời trước, bắt đầu thi hành chính trị có nhiều điểm khả quan. Vua từng đem ấn kiếm ra bảo với triều thần rằng: Ta có chiếc linh bảo này lo gì thiên hạ không bình trị. Từ đấy oai thần càng lớn, thanh thế càng to, những kẻ gian ác đều sợ mất mật, trong nước thái bình, ngoài biên vô sự, thiên hạ đều khen là vua hiền, hưởng nước được 100 năm thì mất. Các vua tiếp theo nối đời trị nước là:

Vua Định Vương ở ngôi 80 năm;

Vua Uy Vương ở ngôi 90 năm;

Vua Trịnh Vương ở ngôi 107 năm;

Vua Vũ Vương ở ngôi 96 năm;

Vua Việt Vương ở ngôi 105 năm;

Vua Anh Vương ở ngôi 99 năm;

Vua Triều Vương ở ngôi 94 năm;

Vua Tạo Vương ở ngôi 92 năm;

Trải 16 đời đều được gọi là trị bình cả.

Đến đời thứ 17 là Hùng Nghị Vương lên ngôi trị nước, thừa hưởng một thiên hạ đã lâu đời bình trị. Vua đam mê rượu ngon gái đẹp, vui thích rong chơi, không sửa sang võ bị. Thục Vương nghe thấy trong nước thường không chăm lo võ bị nên có ý muốn xâm chiếm cơ đồ, nhưng lại sợ nước Nam có kiếm thần nên còn do dự chưa quyết. Thời bấy giờ, chúa Phụ đạo bộ Ai Lao có tài lược lớn, cũng thuộc tông phái vua Hùng. Thục Vương nghe thấy bèn đem quân đánh bộ Ai Lao để cướp chúa Phụ đạo. Ai Lao không chống cự nổi sai người đi cầu cứu Hùng Nghị Vương. Vua đem 10 vạn tinh binh đến thẳng dưới thành Ai Lao cứu giúp. Thục Vương thấy thế đưa thư cho Nghị Vương nói rằng: Thục Vương sang phía tây là chỉ muốn cướp bộ tướng để truyền ngôi báu cho đấy thôi chứ có dám lấy sức cánh tay con bọ ngựa mà địch với số xe mười vạn đâu. Nghị Vương xem thư xong rồi rút quân về. Thục Vương truyền đem bộ chủ về nước Thục, gả con gái và truyền ngôi cho rồi sai sứ đến tạ ơn Nghị Vương mà nguyện rằng: “Nam triều làm anh, Bắc triều làm em, lập định ước giảng hòa, hai nước cùng giao hảo”. Nghị Vương thuận cho. Từ đấy Tây, Nam đều rút quân về. Nghị Vương ở ngôi được 160 năm, lập Thải tử Hùng Duệ Vương lên nối ngôi.

Duệ Vương tư chất thông minh hiền trí, tài năng anh hùng, nhân được hưởng cơ đồ thịnh trị 17 đời của tổ tông để lại nên trong thì sửa sang võ bị, ngoài thì phòng ngự biên cương, dốc lòng vào việc trị bình để yên trong nước, noi gương đời trước trị dân, sùng kính đạo trời, tôn thờ thần thánh nên trời ban điềm lành, phù hộ cho nước. Vì thế vua càng sùng tín, kính trọng thần nhân, truyền lệnh khắp thiên hạ, tu sửa đền miếu, tô điện vẽ cung sao cho oai vệ nghiêm trang, ngày ngày dâng hương hoa, thành kính phụng sự. Các quan châu huyện một tháng hai lần đến chầu đền miều sở tại, mật đảo Bách thần cho vận nước được dài lâu. Vua thân chinh đến núi Nghĩa Lĩnh xem xét các điện thờ tổ tông, các miếu thờ danh tướng khai quốc các triều đại, tất cả đều sửa sang tu bổ, thật là:

Mấy tầng vây bọc, chọc trời muôn trượng lâu đài.

Bốn vách điểm tô, khắp đất một bầu phong nguyệt.

Vua sai lập đàn kính lễ, đôi bên văn võ áo mũ chỉnh tề đứng chầu.

Sau xa giá đi Tam Đảo, Tản Viên xem hình thể, núi xinh cảnh đẹp, xây dựng đền miếu cầu đảo cầu tự.

Bấy giờ cõi trời gần hết, vận hạn nước Hùng đã tàn, vua nằm mộng thấy điềm sinh con gái, sau sinh được hai người con gái đều có đức hạnh thảo hiền, phong tư yểu điệu, dù cho người đẹp nước Tề là Tề Khương hay Tống Nữ, người đẹp nước Tống cũng chỉ là tầm thường, hai nàng phải sánh với các bậc tiên. Một người là Mị châu Tiên Dung công chúa, một người là Mỵ châu Ngọc Hoa công chúa, vua cha yêu hai con gái vô cùng. 

Mỵ châu Tiên Dung gả cho Chử Đồng Tử (người xã Đa Hòa, huyện Đông An, phủ Khoái Châu, xứ Sơn Nam). Còn công chúa Ngọc Hoa, vua đợi tìm được bậc anh hùng hào kiệt mới định. Vua cho xây dựng hai ngôi lầu ở núi Việt Trì trước cửa treo biển “đãi hiền lầu” để công chúa thứ hai ra ở đấy. Vua phát hịch đi khắp bốn phương, đâu có văn nhân tài tử thì hội về kinh thành để vua thi tài kén rể. Vì thế hào kiệt bốn phương vui mừng nô nức về hội họp ở kinh đô.

Vua ngự ra chấm thi, nào là thi tài văn: nghìn kinh vạn quyển thấu cùng học thuyết Khổng Tử, Mạnh Tử; nào là thi tài võ: bốn khoa ba truyền lầu suốt thao lược của Tôn Vũ, Ngô Khởi. Các vị hiền tài trong thiên hạ đều đua nhau dự thi. Nhưng người đạt cái này lại hỏng cái khác, vẫn chưa ai đạt được toàn tài như yêu cầu.

Duy có Sơn Tinh ở núi Tản Viên và Thủy Tinh ở hồ Động Đình trước học cùng thầy và cũng là bạn chưa kịp đến dự thi. Hai ngày sau họ mới đến kinh thành, vào tâu với vua rằng: “Lũ chúng tôi tài hèn sức mọn được lạm sinh ra trên đất của vua, nghe thấy Thánh thượng mở khoa thi kén rể nên bọn chúng tôi đến tham dự nhưng lại bị đến muộn, nếu được cho vào ứng thí thì thật may mắn cho chúng tôi không bị bỏ sót ra ngoài cái lệnh chiêu hiền vậy”.

Vua rất mừng, xa giá về tận sông Bạch Hạc ngự thí. Khi Sơn Tinh đến đầu sông thì thấy Thủy Tinh quay về đáy nước, rồi bỗng thấy lòng sông mây cuộn mưa tuôn, mặt nước cát bay gió thổi, ù ù đáy biển sóng ran, sèn sẹt trên mây sét đánh, thuồng luồng cá giải, trùng trùng theo muôn dặm nước dâng lên, côn ngạc kình ngao đầy rẫy dưới muôn triệu làn sóng vỗ. Một bầu trời đất muôn dặm ba đào, trong khí u hiển như thế ai không run lòng bạt vía. Còn Sơn Tinh thì tay thư phù, tay cầm trượng, niệm thần chú, chỉ sông sông cạn, chỉ núi núi tan, biến hóa mầu nhiệm huyền bí, không ai lường được.

Vua thấy hai người đều có phép thần tiên cả chưa biết gả công chúa cho ai. Xa giá về cung, vua gọi cả hai người vào và bảo rằng: “Trẫm chỉ có một viên ngọc Lam điền(7) mà hai người đều là anh hùng cả, chả lẽ kẻ mừng người tủi, kẻ vui người buồn, vậy hễ ai đưa lễ đến trước thì ta gả cho”. Nghe xong Sơn Tinh, Thủy Tinh cùng hẹn với nhau rằng: Chúng ta cùng về sắm sửa lễ vật xem ai đến trước.

Thủy Tinh về Động Đình đi tìm vật lạ còn Sơn Tinh về thẳng dưới lầu, lấy cây gậy tre chỉ thẳng lên trời mà xin lễ cưới. Chợt có con voi trắng chín ngà và các hạt châu lạ, ngọc quí từ trên trời rơi xuống. Sơn Tinh thu lấy, nửa đêm giờ Tý đã đem lễ vật vào nộp trước sân rồng.

Vua gọi công chúa ra gả cho Sơn Tinh. Sơn Tinh rước công chúa về động Tản Viên.

          Đến giờ Mão(8 vua thấy Thủy Tinh đem lễ vật đến,

vua phán rằng: Sơn Tinh đã đến rước công chúa đi rồi.

Thủy Tinh hối hận bèn quay về Thủy Cung.

Vua Duệ Vương trị nước được 115 năm, nhường ngôi cho Sơn Tinh núi Tản Viên. Tản Viên không chịu nhận. Vua bảo: Vận nước nhà Hùng đã hết, ngươi nên thay vào. Tản Viên còn do dự chưa quyết.

Thục Vương là chúa Phụ đạo Ai Lao cũng là tông phái vua Hùng, nghe tin vua định nhường ngôi cho con rể là Tản Viên bèn đem quân về phía Nam đánh Duệ Vương để cướp nước. Vua Duệ Vương có quân tinh nhuệ nên Thục Vương thua chạy. Duệ Vương bảo Thục Vương rằng: “Ta có sức thần, Thục Vương há không sợ hay sao? Từ đó Duệ Vương bỏ bê võ bị không luyện tập, đam mê sắc đẹp, ham thích rượu ngon để mua vui.

Quân Thục đến nơi, Duệ Vương vẫn say chưa tỉnh, một số quân sĩ trở giáo hàng Thục.   

Vì thế Duệ Vương phải đắp thành ở đất Việt Thường(9) rộng hàng ngàn trượng xoáy tròn như con ốc  đặt tên là Loa thành. Khi đắp thành, đắp lên lại lở xuống. Chợt thấy rùa Kim Quy (rùa vàng) ở sông phía đông nổi lên xưng là Giang sứ. Vua đem Kim Quy bỏ vào chậu vàng hỏi duyên cớ vì đâu mà thành lở.

          Vua đem Kim Quy theo mình đến một gian quán ở núi Thất Diệu, giả làm người ở trọ, Đến đêm quả nhiên nghe thấy Quỷ gọi mở cửa. Kim Quy thét lên, quỷ không

vào được, Đến lúc gà gáy thì quỷ tẩu tán. Kim Quy xin vua cho đuổi theo. Đến núi Thất Diệu thì tinh khí đi đâu gần hết. Vua sai đào núi được các nhạc khí thời xưa và 

 hài cốt, liền đem đổ xuống sông. Từ đấy yêu khí tiêu tan, việc đắp thành không đầy nửa tháng đã xong.

   Kim Quy xin về, trước khi về trút một cái móng đưa cho vua và bảo: “Quốc gia an, nguy tuy tự số trời nhưng người cũng phải phòng bị, nếu có giặc đến dùng cái móng thiêng này làm máy nỏ bắn giặc thì không lo gì cả”.

Vua sai bề tôi là Cao Lỗ chế cái nỏ thần lấy móng Kim Quy làm máy, gọi tên là Linh Quang Kim trảo thần nỏ. 

          Vua Hùng Duệ Vương đã có nỏ thần, bèn thu thập dân binh, viết thư đưa cho Tản Viên rằng: “Nay quân Thục chiếm thành của ta, ngươi nên đem theo binh mã tiếp viện cho ta”. Tản Viên bèn đem binh mã tới Loa thành cùng Duệ Vương bày trận để phô trương thanh thế..

Ít ngày sau, Đức Thánh Tản Viên nói với Duệ Vương rằng: “Cơ đồ nhà Hùng hưởng nước đã lâu, chắc là lòng trời cho có từng ấy thôi, nên mới giúp cho Thục Vương vào chiếm. Vả lại Thục vốn là Quân chủ Ai lao cũng là dòng dõi vua cha đời trước. Thế nước chẳng ở yên mãi, số người là do tiền định, sao vua cứ luyến tiếc cõi Nam này mà trái ý trời, đối địch với nhau để hại sinh linh. Huống hồ Bệ hạ với thần đã có phép tiên, sao bằng: tiêu dao tiên cảnh chốn Bồng Lai, thà bỏ cõi phàm trần tục, gác phượng lầu rồng, bạc vàng ngôi báu xem tựa chiếc lông, Ngọc Nữ Tiên Đồng thỏa nhìn con mắt, tưởng như thế mới là đại cao vậy”.

Vua nghe theo, đưa thư cho Thục Vương rồi nhường nước cho Thục Vương. Thục Vương sai sứ đến tạ ân, nhân tiện vua cho Thục Vương cái nỏ thần rồi về núi Nghĩa Lĩnh cùng hẹn ước với Đức Thánh Tản Viên, hóa sinh mãi mãi.

Thục An Dương Vương được nước, cảm cái đức nhường của Duệ Vương như trời đất bèn ra núi Nghĩa Lĩnh xây dựng đền đài để lấy chỗ quốc gia phụng sự. Lại dựng hai trụ đá ở trong núi, rồi ngửa mặt lên trời khấn rằng: “Nguyện trời cao lồng lộng, soi xét gần xa để cho miếu vua Duệ Vương này được trường tồn mãi mãi. Nếu các vua sau này nối ngôi trị nước mà trái lời nguyện thì phải chịu hình phạt đao búa, để khỏi phụ tấm lòng kính thờ người trước”.

Khấn xong lạy tạ, lên xa giá về Phong Đô, cho gọi những người thuộc chi phái Duệ Vương, ban cấp cho ngành trưởng là dân Tạo Lệ ở làng Trung Nghĩa 500 mẫu ruộng ở xã Nghĩa Cương và ngành thứ Tạo lệ 200 mẫu ruộng ở xã Vy Cương. Lại cấp thuế ruộng các xứ, trên từ Tuyên Quang, Hưng Hóa, dưới đến Việt Trì, dân các xã phải đến nộp số thuế để làm hương hỏa phụng sự 18 đời vua Hùng từ Thánh tổ Cao Hoàng Đế và các vua  nối ngôi trở xuống, cùng vận nước hưởng phúc lành, muôn năm không dứt.

Vua An Vương trị vì được 60 năm. Thời bấy giờ nhà Tần đem những kẻ lưu vong, những kẻ vô dụng và những người buôn bán ở các đạo tụ tập cho làm quân lính, lại sai Hiệu úy là Đồ Thư đem lính ấy xuống thuyền làm quân sĩ dưới thuyền, đến đào kênh vận chuyển lương thực đi sâu vào đất Lĩnh Nam, cướp đất Lục Lương mà đặt ra Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận. Lại cho Nhâm Hiêu làm Nam Hải úy, cho Triệu Đà làm Long Châu lệnh. 

Nay trong biển ở miếu khai vật tế nhân có câu đối rằng:

Hội Nghĩa Lĩnh khai cương, cảnh nhĩ sổ lý thanh sơn lưu cao trạch nhi thành đô hội.

Tưởng Việt thành thâu túc, thùy sử nhất hoằng bích thủy tiễn vãn nghịch dĩ khải hồng đồ.

Dịch:

Nghĩ đến Nghĩa Lĩnh mở cõi bờ, đất này mấy dặm non xanh, đội ơn trạch mà thành ra đô hội,

Tưởng việc Việt thành chuyển thóc lúa, cải tạo một vùng nước biếc, thu nghịch dân để dựng cơ đồ. Sau Nhâm Hiêu, Triệu Đà thừa cơ gây hấn đến xâm lược, đem quân đến Tiên Du, Bắc Giang cùng với An Vương đánh nhau. Vua An Vương lấy nỏ thần bắn. Triệu Đà thua chạy. Triệu Đà biết Thục Vương có nỏ thần không thể địch được, sai con là Trọng Thủy vào chầu vua và xin được cầu hôn. Vua đem công chúa Mỵ Nương gả cho. Trọng Thủy dụ dỗ Mỵ Nương rồi ngầm đổi máy nỏ thần về bảo Triệu Đà đem quân đánh. An Vương không biết máy nỏ thần đã mất, cứ ngồi đánh cờ cười mà bảo rằng: “Đà không sợ nỏ thần của ta hay sao?”. Quân Triệu Đà kéo đến gần, An Vương đem nỏ bắn thì máy nỏ đã gãy, thế rồi thua chạy. Thế là cơ đồ nhà Hùng đến đây thì mất vậy..

Từ Triệu Vũ Vương đến Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn trở lại đây, các triều đại đều chuẩn y các miếu điện cùng các trưởng thứ dân Tạo Lệ làng Trung Nghĩa, phàm các việc binh, lương, thuế, sưu, dịch nhất nhất theo lệ cũ, phụng sự Tổ Quốc bền lâu, để tiếng thơm lại muôn đời, thực là vẻ vang thay.

Trên đây tính từ Kinh Dương Vương đến Duệ Vương cộng là 2.663 năm. Tính trở lên cơ đồ nhà Hùng 18 đời (thập bát diệp nghĩa là 18 ngành vua), ấn ngọc truyền ngôi báu, 180 vuanhất bách bát thập đại Đế Vương 王)thay nhau trị vì thống nhất Sơn hà, văn hóa trị nước, xây dựng 122 đền miếu.

 Niên kỉ 18 đời trị nước, vua thánh truyền lại cho con thánh cháu thần, các triều đại làm vua cộng hưởng nước được 2.665 năm; tuổi thọ cộng được 8.678 tuổi, sinh được 986 chi, hoàng tử công chúa, nòi giống sinh ra cháu chắt cộng cả thảy 14.370 người, sinh sống khắp chốn rừng núi, miền biển nước Nam. Muôn đời trường tồn, nối nhau không bao giờ dứt

Ngày tốt tháng mạnh xuân (tháng Giêng) năm Hùng Vương thứ 32.

  _________________________

(1)  Tên hai ngôi sao ứng với vùng đất Kinh Dương.

(2) Tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay.

(3)  Núi Hồng Lĩnh ngày nay   

          (4) Của Hội ở Nghệ An ngày nay 

(5)   Tức Hùng Bảo Thứu Lĩnh sơn 

          (6)   Thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay.

(7)   Tức công chúa Ngọc Hoa

  (8)   Từ 5 đến 7 giờ ngày nay

  (9)   Cần khảo cứu thêm, Việt Thường là tên Trung Quốc gọi nước Văn Lang.

                              Người dịch: Hà Ngọc Xuyên

                           Hiệu đính: Tiến sĩ viện Hán nôm

                                        Vương Thị Hường

 

Thứ Ba, 9 tháng 11, 2021

THÊM MỘT CUỐN SÁCH HAY VỀ VĂN HÓA ẨM THỰC HÀ NỘI CỦA VŨ TUYẾT NHUNG

    Không phải ngẫu nhiên mà TMT gọi tác phẩm ký sự Hà thành hương vị cũ của Vũ Tuyết Nhung là “thêm một cuốn sách”. Kể từ khi Hà Nội trở thành thủ đô của nước Việt Nam độc lập (1945) thì cũng đã có hàng chục cuốn sách sưu tập, chuyên khảo về văn hóa ẩm thực. Chẳng hạn như: Miếng ngon Hà Nội (1952) của Vũ Bằng, Thú ăn chơi của người Hà Nội (2003) của Băng Sơn, Văn hóa ẩm thực Thăng Long-Hà Nội (1990) do Trương Sỹ Hùng-Bùi Việt Mỹ tuyển soạn, Quà Hà Nội (2000) của Nguyễn Thị Bảy, Tuyển tập tác phẩm văn hoá ẩm thực Hà Nội (2010) do  Phạm Quang Long và Bùi Việt Thắng biên soạn.

    Sưu tập thì bao gồm cả tác phẩm dịch thuật, tuyển chọn trải dài theo tiến trình lịch sử văn hóa từ cổ đến kim. Tác phẩm ký báo chí, nhiều khi là thành tố cấu thành tác phẩm nghiên cứu thì mới có ba tác giả nổi danh là Nguyễn Tuân, Vũ Bằng và Băng Sơn.

   Lần này, giới văn nghệ Hà Nội được đón đọc Hà thành hương vị cũ của Vũ Tuyết Nhung do Nxb. Hà Nội là một thành tựu mới, không chỉ là một tập hợp những bài báo. Tập trung vào chủ đề ẩm thực, Vũ Tuyết Nhung đã thể hiện hết mình với những quan sát tinh tế từ thực tiễn sáng tạo, chế biến những sản phẩm nông nghiệp, thực phẩm có nguồn gốc ngư nghiệp, lâm nghiệp. Nghề làm báo tạo cho chị sự tiếp xúc trực tiếp cùng với đức tính thận trọng, cần mẫn tỉ mỉ khiến cho những trang viết về văn hóa ẩm thực Hà Nội có sự cảm hóa, tạo ra sức mạnh lan tỏa tình yêu Hà Nội – nơi tích tụ, chứa đựng tinh hoa ngàn năm văn hiến của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Sau đây là cảm nhận của các nhà văn, nhà nghiên cứu và đồng nghiệp của chi.                                           

                                                   ẨM THỰC HÀ NỘI CỦA NHUNG

 Lâu nay viết về ẩm thực thành dường như độc quyền chỉ của các cây bút nam nhân. Xa xa thì Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Bằng. Gần gần thì Thanh Hào, Băng Sơn dăm ba cây bút trẻ khác đang nổi.

 Cánh đàn ông viết về ẩm thực tuy mỗi người mỗi vẻ, nhưng họ giống nhau một điểm: Trong cách của người thưởng thức, người hưởng thụ, người được đem cho, do đó cũng người tán thưởng. Nhà thơ Xuân Diệu chẳng đã từng viết: “Em tài nấu nướng/Anh tài ngợi khen” đấy thôi!

 Lần này, khác hẳn với những đã có, một cây bút nữ xuất hiện, viết về ẩm thực thành theo cái cách của người nữ, người nữ Nội, phố cổ, gái phố cổ. Đó chính Thị Tuyết Nhung, tác giả của tập sách này.

 Nhung người Nội, sinh ra, lớn lên, ăn cùng Nội, thuộc về Nội, Nội thuộc về chị, như một nhất thể.

 Cả tuổi thơ cho tới lúc trưởng thành, Nhung sống trong một gia đình Nội rất trọng nếp nhà. Một người cha nghiêm ngắn, một người bà, người dì, người mẹ tảo tần, trọng lễ nghĩa, trọng nữ công gia chánh, tinh tế trong nếp sinh hoạt hàng ngày cũng như những dịp lễ hội, tết nhất, chùa chiền; kể cả người chị trưởng cũng sớm kỹ nếp nhà, nhất mực noi theo. Gia đình chính bầu khí hậu, sinh quyển văn hóa đầu tiên ý nghĩa quan trọng nhất hình thành nên tâm tính của những đứa trẻ. Sau này, lớn lên làm gì, đi đâu, trong hoàn cảnh nào, cái nếp nhà âm thầm mãnh liệt ấy khiến người ta giữ được thế, vẻ đẹp, cốt cách làm người; như trong trường hợp của Nhung, một người Nội.

Sau này, Nhung đi làm báo, ăn cả đời công chức với Đài Phát thanh - Truyền hình Nội. Trong nhiều năm, Nhung đắm đuối với các chương trình chuyên về văn hóa Nội, về vẻ đẹp phố phường, con người, đặc sản Nội xưa nay. Vốn sẵn gắn am hiểu về Nội, lại thêm cái thú thích khám phá, tìm hiểu, phát hiện tính nhà nghề, Nhung đã dựng/viết bao nhiêu tác phẩm bằng hình, bằng chữ về Nội. Nơi đó, hiện lên những góc phố với cả lịch sử hàng trăm, hàng ngàn năm. Nơi đó ngời lên những gương mặt Nội lưu giữ hồn phố cổ. Nơi đó thơm tho những thức ăn thức uống Nội, cỗ bàn Nội, chợ búa Nội được các mẹ các chị gìn giữ bao đời…

 Nói riêng về ẩm thực Nội, các văn nhân trước đây đã viết khá nhiều. Nhung đọc hết. Họ viết theo cách của họ. Nhung viết theo cách của Nhung. Bởi trước khi người thưởng thức thì Nhung người biết tự tay làm ra, mua sắm, nấu nướng, bày biện hàng ngày. khác biệt hơn, bởi Nhung người phụ nữ Nội.

Các trang viết ẩm thực của Nhung về bản cũng đi từ lai lịch, cách chọn nguyên liệu, cách chế biến, cách bày biện, cách thưởng thức, mời mọc. Vậy thôi. Nhưng Nhung, các thứ ẩm thực ấy gắn liền với những ức của tuổi thơ Nhung, của gia đình Nhung, bạn Nhung một thuở, nhất những tháng năm gian khó. Nhung đem cả cái nhớ rưng rưng về một thời đã qua vào trang viết. Nhung khoe cả cái nếm náp sung sướng của người làm lụng ra mỗi món ăn món uống. Nhung không giấu giếm nỗi tự hào về những sản vật của Nội bốn mùa. Nhung không quên những phận người vất vả sớm khuya làm ra những thức ẩm thực tinh mỹ tình nghĩa.

 Văn của Nhung viết về ẩm thực Nội không khi nào sa vào bình tán trà tửu hậu cho sướng miệng theo cách viết của cánh nam nhân. Cứ thật lòng, từ tốn, tỷ mẩn, hít tự nhiên, như thể không cần phải một gắng sức nào, các trang văn của Nhung dậy vị thơm hương.

Đọc các trang viết về ẩm thực Nội của Thị Tuyết Nhung, tôi được hiểu thêm về Nội. nhất yêu thêm Nội, ân cần với Nội từ những điều tưởng như rất nhỏ.

 Tôi bạn đồng môn thời đại học của Nhung, thật hạnh phúc khi được bạn mình tin cậy trao gửi viết những dòng này. Tôi cứ mường tượng ra cái cảnh ai đó trong một đêm đông đã chui vào chăn ấm, đang thả lòng vào những trang viết “Hà thành hương xưa vị cũ”, rồi bất thần không chịu được vùng dậy lao xuống phố đi tìm món ăn món uống Nội nào đó của Nhung… Chẳng phải đó một hạnh phúc thật dễ thương sao!

 PGS.TS. NGÔ VĂN GIÁ


 KÝ ỨC TỪ CĂN BẾP PHỐ CỔ

Ký ức là phần quan trọng đối với con người, được lưu giữ trong tâm tưởng, rồi bằng hình ảnh, văn tự, và từ thế kỷ 19, là ghi nhận bằng âm thanh nữa. Nó có vẻ là một thứ quá khứ để lại, nhưng trong cái đầu con người hình như nó vẫn đang sống động, không phải chỉ là một di niệm. Người thầy của tôi có nói: Ký ức là hiện tại của quá khứ. Ai nhiều ký ức là người có cuộc sống phong phú từng trải, rồi sau đó, một vài người có thể biến nó thành văn chương, nghệ thuật, chí ít cũng là một tài liệu nghiên cứu. Cuốn Hà thành - Hương xưa vị cũ, của Vũ Thị Tuyết Nhung là tập hợp những bài tạp bút và du khảo về ký ức đời sống Hà Nội trong vòng sáu mươi năm qua, như chính tuổi của tác giả, và hầu hết là những trang viết về ẩm thực đất Kinh kỳ.

Trước Vũ Thị Tuyết Nhung, từng có các nhà văn như Thạch Lam, Vũ Bằng và nhà văn hóa Toan Ánh cũng viết trên đề tài như vậy. Toan Ánh là người làm nghiên cứu, ông không cốt diễn đạt văn chương, mà đưa ra những gì tai nghe mắt thấy. Thạch Lam và Vũ Bằng thì diễn đạt đời sống dưới cảm nhận tinh tế, chứ không cốt mô tả món gì, vị gì. Họ là những văn sỹ thưởng ngoạn, qua ẩm thực mà suy tưởng về con người. Vũ Thị Tuyết Nhung là nhà báo thuần túy. Nhung cũng không định trở thành nhà văn, nhưng vượt lên trên việc viết báo và viết, đạo diễn cho các chương trình truyền hình về văn hóa Hà Nội, cuốn sách là đời sống cá nhân của tác giả, ghi chép lại cuộc đời của gia đình Hà Nội xưa với làng nghề, phố nghề, quà Hà Nội, nhất là các món ăn quà sáng. Trước tiên là biết sao kể vậy, chi tiết, khảo cứu cả những người mua, người bán, người chế biến, và những phụ trợ cho một món ăn. Đọc thì thấy người viết miêu tả chân thật, không cầu kỳ về văn chương, nhưng kỹ lưỡng đến mức có thể, và luôn gắn với kỷ niệm trực quan của mình.

Mỗi người một ký ức, một kỷ niệm, để viết được như Nhung thì không phải là các văn sỹ đi ra đường, sà vào hàng ăn bún chả, bún ốc rồi ngâm ngợi về nó, mà là cô gái gia giáo Hà Nội xưa đi chợ mua đồ, về nhà chế biến, người ăn – phán xét là ông bà, cha mẹ và anh em, sau đó phần thưởng là rửa một chậu bát đĩa to tướng. Có lẽ chỉ cần đọc tản văn Lan man về chuyển dọn mâm, rửa bát ngày xưa, đủ thấy người viết thực sự trong cuộc thế nào – người Hà Nội xưa rửa bát bằng chính nước vo gạo, sau đó mới tráng nước nóng và phơi bát. Ta khoan nói về vệ sinh khoa học, mà có lẽ đây là một tập tục của cái thời chưa biết xà phòng hay nước rửa bát. Cái thú vị là  giờ đây, các nhà khoa học môi trường xác định nước gạo là một chất tẩy rửa tự nhiên rất hữu hiệu. Cứ thế, cứ thế, Vũ Thị Tuyết Nhung lần mò từ tâm trí mình các món chè xanh, trà mạn, bánh đúc, bánh gio, canh cua, nước chấm, bún ốc, canh cá rô đồng, cốm chiêm, dưa cà, chả nhái… rồi ẩm thực được sử dụng, thưởng ngoạn cho từng lớp người thị dân - ông bà già, gái đẻ ăn kiêng, người ăn chay, người ăn mặn, người ăn đêm... và các dịp cỗ bàn, lễ tết – Tết Đoan ngọ, Tết Nguyên đán, Tết hóa vàng, Tết thượng nguyên... Các món ẩm thực cũng trở nên lâm ly nên mới sinh ra tản văn Cái duyên cơm nguội. Một tâm trí được hình thành từ thế hệ ông bà, tích lũy trong đời sống hàng ngày, mà các cô gái thuộc gia đình thị dân gia giáo buộc phải học nữ công gia chánh.

Tôi học cùng lớp cấp ba với Nhung tại trường PTTH Lý Thường Kiệt, lại ngồi cạnh nhau cùng một bàn. Nhưng rồi chiến tranh, thân phận, cái tuổi mười lăm, mười sáu, chưa kịp biết đã lãng quên, chỉ nhớ đó là cô gái sáng láng, sớm chững chạc và mạnh mẽ. Tuổi trung niên gặp lại một lần, và lần này nữa ở tuổi già qua cuốn ký ức con người và ẩm thực này. Một thời gian dài trong thời bao cấp, việc ăn uống rất sơ sài, sao cho khỏi đói, nghĩ gì đến văn hóa ẩm thực. Nhưng Hà Nội đã thực sự nhiều thế kỷ biến ẩm thực thành văn hóa. Trong đó, con người thưởng ngoạn hương vị trời đất và bàn tay khéo léo của đầu bếp, cái lưỡi tinh tế của thị dân, đã đồng hóa tất cả các món ăn cổ của người nông dân Việt Nam, thành bản quyền sở hữu riêng của dân Tràng An.

    Hà thành - Hương xưa vị cũ không chỉ là những tản văn về kỷ niệm của một người Hà Nội, mà còn là một cuốn sách có thể tra cứu về những tập tục sinh hoạt và ẩm thực đã có nhiều biến đổi theo thời gian, và phần lớn đã chìm trong quá khứ.                                              

     Họa sĩ- nhà nghiên cứu văn hóa PHAN CẨM THƯỢNG

HÀ NỘI TRÊN MÂM CƠM HÀ NỘI

     Trên giá sách nhà tôi ngày bé, rất nhiều năm rồi, có một cuốn sách cũ giấy đen xì, bìa ngoài bị rách, chữ nhỏ, mà chẳng hiểu sao tôi rất thích đem xuống đọc, dù đó chẳng phải sách văn chương, và tôi xa lạ với hầu hết những thứ viết trong ấy.  Sách dạy nấu cỗ, tên cuốn sách giản dị như vậy, của bà Nguyễn Xiển, tức bà giáo nữ công Trường Nữ học Trưng Vương Nguyễn Thúy An. Bà chính là phu nhân của Ngài Nguyễn Xiển, nguyên tổng thư ký Đảng Xã Hội Việt Nam. Hà Nội những năm ấy còn đang trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bom đạn có thể trút xuống bất kỳ, những cuộc sơ tán đầy vất vả và đương nhiên  thực phẩm hiếm hoi. Cuốn sách có lẽ làm tôi thích vì nó gây tò mò. Vừa đọc vừa hỏi mẹ nấu vây, thì vây là gì? Chưng yến, thì yến là gì? Tẩy bóng, chân tẩy, rồi tần, rồi om, rồi hấp cách thủy…, những từ ngữ rất lạ không học ở trường. Cũng may mẹ tôi có thể dạy cho tôi những điều cần hỏi và cũng làm cho tôi biết, vào những năm tháng ấy, cá mè ranh, đậu phụ cứng nhắc, thịt bèo nhèo…đại loại những thứ mua bằng tem phiếu, đều có thể chế biến được thành thứ gì đó ngon hơn thông thường, nếu biết quan tâm đến việc nấu nó thế nào và biết cách sử dụng gia vị ra sao. Tức là cái kiến thức tưởng như “tuyệt đối hoang đường” trong cuốn sách dạy nấu cỗ cũng có thể cho tôi một chút xíu ứng dụng, nếu tôi biết những kỹ năng cơ bản rằng gia vị gì thì đi với thực phẩm nào…Cho tôi mường tượng được thế nào là một món ăn ngon, và cố gắng để một món ăn tầm thường có thể trở thành ngon.

       Một cuốn sách dạy nấu ăn tưởng như hoàn toàn xa xỉ và chẳng để làm gì ấy hóa ra quan trọng với tôi. Cùng với những chỉ bảo của mẹ, cùng thời gian nữa, nó làm dần hình thành những gì tạm gọi là văn hóa nấu nướng. Tôi thành kẻ chuyên đọc sách về nấu ăn, và suốt nhiều năm, nói thật là chẳng có mấy cuốn sách trong hàng trăm cuốn đã đọc đem lại cho tôi cảm giác tò mò và hứng khởi về việc nấu nướng như cuốn sách đã từng đọc thời nhỏ, cho đến khi cầm trên tay Hà thành hương xưa vị cũ của nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, cho dù, về mặt nội dung và ý định xuất bản, hai cuốn sách này khác nhau ghê gớm.

     Thứ nhất, nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung không dạy nấu ăn, không hướng dẫn hay quy ra định lượng cụ thể những thứ cần thiết để nấu một món ăn nào cả.

    Thứ hai, không phải chỉ toàn các món cỗ bàn trong các gia đình, Hà thành hương xưa vị cũ đúng như tên của nó, là một cuốn khảo cứu, một cuốn biên niên sử các món ăn quanh Hà Nội, từ sang trọng đến dân dã, từ truyền thống nguyên bản đến cải cách (tạm gọi thế) bởi sự hòa nhập gần đây của đủ mọi vùng miền.

   Chỉ có một thứ chung ở hai cuốn sách, đó là Chất Hà Nội đậm đặc mà rất hiếm khi gặp ở những cuốn sách khác về nấu ăn trên thị trường lâu nay.

Nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung là con gái Hà Nội theo mọi nghĩa của từ này. Gốc gác, tính cách, văn hóa ứng xử, cộng thêm kiến thức rộng rãi về lĩnh vực mà chắc chắn chị quan tâm nhất: Ẩm thực. Cũng dễ hiểu vì chị từng là trưởng Ban Văn hóa- Xã hội thuộc Đài PT-TH Hà Nội, phụ trách những chuyên mục quan trọng mà Đài truyền hình Hà Nội từng làm về Thủ đô, như Hà Nội ngàn năm văn hiến, Hà Nội phố, Hà thành đặc sản…rất nhiều năm trời đi tất cả mọi ngóc ngách Thủ Đô tìm ra những địa chỉ tinh hoa nhất, danh tiếng nhất, để vẽ nên bằng lời ( và hình) bản đồ ẩm thực đất kinh kỳ. Nhưng thế vẫn là chưa đủ. Có một nửa cuốn sách là về các địa chỉ như thế, bún Tứ Kỳ, bánh gio Đắc Sở, bánh nhót Triều Khúc, Dưa cà Đình Gừng, Hồng xiêm Xuân Đỉnh…, nếu không có những bài báo của chị, chắc chắn những cái tên ấy mai một và quên lãng ngay cả với người Hà Nội. Đó là cả một tập hợp các bài khảo cứu văn hóa công phu hết sức đáng trân trọng. Lịch sử Hà Nội phần nào hiện lên từ những món ăn gắn với phong tục, với lễ hội từng làng, từng vùng. Từ bát nước chấm đến món canh chua. Tôi chắc càng về sau, ý nghĩa của những khảo cứu ấy càng lớn và không ai làm được, như nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung. Chị mang vào sách của mình những năm tháng Hà Nội biến thiên, thay đổi, có cái buồn của một người cô gái Hà Nội gốc mang nhiều hoài niệm, nhưng cũng có nhiều sự hiểu biết và chấp nhận khác biệt. Chẳng hạn chị viết Tuy sống ở đất đế đô ngàn năm, nhưng người Hà Nội gốc dân quê thế hệ nào cũng rất đông, đem theo rất nhiều đặc sản và thói quen nấu nướng, ăn uống lâu đời của người dân các vùng miền. Đặc biệt là các loại mắm... “ ( bát nước chấm trong mâm cơm truyền thống Hà Nội). Nhìn một món ăn, thậm chí một bát nước chấm, để thấy sự thay đổi của lịch sử và văn hóa. Có những trang sách thú vị bởi nó không chỉ bàn đến chuyện ăn uống, nó khiến người ta cảm thấy sự ăn uống ấy thú vị hơn khi có thêm gia vị là những câu chuyện mang yếu tố lịch sử. Trên một mâm cơm, nếu đọc nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, có thể thấy cả một Hà Nội xưa cũ và hiện tại đan xen đồng hiện.

Nếu chỉ có thế, Hà Thành hương xưa vị cũ đã là một tập sách rất quý rồi. Nhưng phần quan trọng nhất của tập sách theo tôi lại không phải ở những bài khảo cứu như vậy. Tất nhiên không gác vị trí của một nhà báo kỳ cựu kể chuyện hết sức duyên dáng sang một bên, nhưng Vũ Thị Tuyết Nhung hiện diện trong cuốn sách còn là một Vũ Thị Tuyết Nhung khác nữa, đặc biệt hơn thế- một phụ nữ sành ăn, đam mê nấu ăn và trút yêu thương của mình vào từng món ăn. Điều này cũng khiến tác giả trở nên độc đáo hơn những cây bút đã từng viết về ẩm thực. Chị không chỉ là người thưởng lãm, mà còn là người tự tay đi chợ, nấu nướng, chế biến, gia giảm…Những món ăn rất ít người biết được phục dựng trên từng hàng chữ. Người đọc biết cách làm món ăn ấy đã đành, nhưng quan trọng hơn, cảm nhận được món ăn, quan trọng hơn nữa, có kiến thức về món ăn ấy. Có thể kể ra nhiều lắm: Vịt dấm ghém, cháo cá ám, cuốn tôm…Khác với những gì người ta biết về ẩm thực Hà Nội qua các địa chỉ quán ngon tìm đâu cũng ra, những món nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung viết là những món ăn được nấu trong gia đình, với nỗi nhớ mẹ, nhớ chị em, nhớ một thời xa xưa đầy ắp kỷ niệm. Lịch sử của một gia đình, một dòng họ có thể nhìn thấy trên từng món ăn, không cần là sơn hào hải vị nhưng được làm ra với sự cầu kỳ, kỹ lưỡng, ấm cúng và tràn ngập tình cảm. Có hai phần của cuốn sách đã đành, một cho Hà Nội, một cho những kỷ niệm gia đình. Một phần để nể trọng và một phần để yêu quý.

Tôi cũng sẽ đặt trên giá sách cuốn Hà Thành hương xưa vị cũ của nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung để sau này lứa cháu tôi, những đứa trẻ sinh ra vào quãng những năm 20, 30 của thế kỷ 21, có được niềm vui như tôi khi chẳng biết gì về một Hà Nội cũ xưa mà cũng thấy tò mò, hấp dẫn.

Nhà báo PHẠM THANH HÀ