Thứ Bảy, 10 tháng 4, 2021

TỔ QUỐC HIÊN NGANG CỘT CỜ LŨNG CÚ

                                                                                            THANH THẢO

    Tôi rất ấn tượng một đoạn văn trong bút ký “Trở lại Mèo Vạc” của nhà văn Nguyên Ngọc viết năm 1991: “…Rất đột ngột, bỗng thấy mình đã đứng trên một đỉnh cao chót vót, đỉnh cao nhất. Và trước mặt, một kỳ quan chưa từng thấy: Không còn ngọn núi đất nào nữa. Chỉ còn toàn đá. Một cao nguyên đá. Mênh mông, trùng điệp, lô nhô, lởm chởm, cuồn cuộn hàng triệu đợt sóng đá dồn dập như những bức trường thành đá vô tận, nhọn hoắt, sắc lẹm, nham nhở, lở lói, khô cằn, khắc nghiệt…Đá, đá, đá bạt ngàn, hút chân trời. Đá vôi đen xỉn. Và tuyệt không còn gì khác.”

  

                 Nhà thơ Thanh Thảo thăm Cột Cờ Lũng Cú

Tôi chỉ muốn nói thêm vào đoạn văn đã rất hay này của anh Nguyên Ngọc: Còn, còn những nương ngô xanh ngắt mọc trùm lên những mặt núi đá khắc khổ. Còn, còn cột cờ Lũng Cú sừng sững hiên ngang trên chót đỉnh ngọn núi Rồng cao 1.700 mét so với mặt nước biển, cột cờ trấn giữ điểm cực Bắc của Tổ quốc chúng ta.

Người ta nói, nếu hình dung đường biên giới Việt-Trung như một chóp nón, thì hai điểm thấp nhất của chóp nón này nằm ở A-pa-chải (Điện Biên), Sa Vĩ (Móng Cái), còn đỉnh chóp nón là Lũng Cú. Và, tâm đỉnh của Lũng Cú chính là ngọn núi Rồng.

Cuối tháng 7/2012, khi tôi lên đây, cao nguyên đá Đồng Văn đã vào mùa mưa. Từ thị trấn Đồng Văn đi Lũng Cú chỉ khoảng 30 km, nhưng do đường quanh quất cua tay áo và buổi sáng xe toàn chạy trong mây hay sa mù, nên chúng tôi phải đi mất hơn giờ đồng hồ mới tới.

Lúc chúng tôi dừng ở chân núi Rồng, trời nắng đẹp. Nhưng chỉ khoảng 5 phút sau, khi chúng tôi bắt đầu leo 389 bậc dẫn lên đỉnh núi nơi dựng cột cờ, trời đột ngột đổ mưa lớn. Mưa nắng thất thường có lẽ là một đặc điểm của vùng chót đỉnh cực Bắc này chăng? Không ai trong đoàn dừng lại hay bỏ cuộc. Chúng tôi đội mưa leo qua 389 bậc dẫn tới đỉnh núi. Tại sao có con số 389 bậc?

Tối hôm trước, chúng tôi đã ngủ lại một đêm với các chiến sĩ Huyện đội Đồng Văn, chuyện trò rất khuya với đại tá Lê Trân-chỉ huy trưởng huyện đội( bây giờ gọi là “Ban chỉ huy quân sự huyện”), anh Lê Trân mới “bật mí” cho biết, chính anh là tác giả của con số 389 bậc đá này.

Tại sao lại 389? Anh Trân cười: “Thông thường, khi tính con số đẹp, người ta hay chọn “9 nút”. Riêng tôi lại nghĩ: nhất chín, nhì bù. Đã đành, số 9 là con số đẹp nhất, nhưng số 10 lại tính thêm được phần “bù” của những người lính bảo vệ biên cương chúng tôi. Khi cầm súng ở địa đầu Tổ quốc này, chúng tôi nghĩ cả đất nước luôn đứng đằng sau mình, luôn “bù” cho mình tất cả những tình cảm thiết tha yêu mến nhất. Cột cờ Lũng Cú tượng trưng cho ý chí và sự kiên định bảo vệ từng tấc đất từng mỏm đá của Tổ quốc, đó cũng là khát vọng của những người lính biên cương chúng tôi. Vì thế, tôi đề nghị với ban xây dựng Cột Cờ nên chọn con số 389 (bậc), một con số “tiến” và nếu cộng lại thì “tròn 10”. Đó là con số cuối cùng, tột đỉnh, như một lời thề”.

Khi đã đọc xong “lời thề” 389 bậc, và leo thêm 140 bậc thang xoắn ốc ngay trong lòng cột cờ, chúng tôi đã lên tới đỉnh Lũng Cú. Gió ào ạt. Mưa quất xối xả. Nhưng trong gió, trong mưa, lá cờ đỏ sao vàng thiêng liêng có diện tích 54m2-tượng trưng cho 54 dân tộc Việt Nam-được cắm trên cán cờ cao 13m vẫn bay phần phật.

Giây phút ấy, cả đoàn chúng tôi như ngập trong một trạng thái đặc biệt: Cứ như cả Tổ quốc đang sừng sững trong gió trong mưa, đang sừng sững trong tâm hồn mình. Lá cờ thiêng vẫn tung bay phần phật, bất chấp thời tiết. Đó thực sự là một biểu tượng cho nước non mình, dù chịu bao khắc nghiệt đắng cay vẫn ngẩng cao đầu không khuất phục.

Có một luồng năng lượng kỳ lạ nào chợt lưu chuyển trong tôi, khiến toàn thân đột nhiên ấm áp, mặc cho gió mưa quất tơi tả bốn bề. Khi rời đỉnh Cột Cờ xuống chân núi, bỗng mưa tạnh. Nắng lên. Trời xanh ngắt.

Lũng Cú-tiếng H’Mông có nghĩa là “Long cư”-nơi cư ngụ của Rồng. Còn theo một truyền thuyết của người địa phương, thì ở thời Tây Sơn, sau khi Hoàng đế Quang Trung đại thắng quân xâm lược phương bắc, Người đã cho đặt một chiếc trống đồng rất lớn tại Lũng Cú, và cứ mỗi canh giờ trống lại được gióng lên ba hồi ầm vang xa đến bên kia biên giới cũng nghe được. Những hồi trống đĩnh đạc khẳng định chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của Tổ quốc chúng ta. Và tên Lũng Cú còn có nghĩa là “Long Cổ”-tức trống của Vua. Một truyền thuyết thật đẹp và rất Việt Nam.

Khởi từ thời Lý Thường Kiệt, sau rất nhiều lần xây dựng lại và trùng tu, cột cờ quốc gia Lũng Cú mà chúng tôi chiêm ngưỡng hôm nay được hoàn thành ở lần nâng cấp sau cùng vào đúng ngày 2/9/2010. Đã nhiều lần, các vị Chủ tịch nước Việt Nam đã lên thăm cột cờ Lũng Cú.

Tôi rất thích bức ảnh chụp Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đứng trên chót đỉnh cột cờ, phía sau có một chiến sĩ vệ binh nghiêm trang bồng súng chào, cùng lời nói lịch sử của vị nguyên thủ quốc gia: “ Phải giữ cho được từng tấc đất mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta!”.

Không ở đâu hơn khi đứng trên đỉnh cột cờ Lũng Cú, chúng tôi thấm thía từng chữ của câu nói này. Vì trước mặt chúng tôi, rất gần là biên giới, còn phía sau chúng tôi là trùng điệp mênh mang cao nguyên đá Đồng Văn.

Năm nay, bà con H’Mông ở Lũng Cú-Đồng Văn được mùa ngô. Những bắp ngô mập mẩy, nặng trĩu tay cầm. Đã có biết bao mồ hôi đổ ra trên tầng tầng đá núi để được những bắp ngô ấy. Cũng như có biết bao xương máu đồng bào và liệt sĩ chúng ta đã đổ ra cho cột cờ quốc gia Lũng Cú đứng hiên ngang một dáng hình Tổ quốc.

Nếu đất nước ta là một con tàu như nhà thơ Xuân Diệu đã hình dung, mũi tàu là Mũi Cà Mau, thì cột cờ Lũng Cú chính là cột cờ ở đằng lái của con tàu. Uy nghiêm và điềm tĩnh phóng tầm mắt cảnh giác bao quát cả miền biên viễn cực Bắc Tổ quốc.  

Ngày Quốc khánh 2/9 năm nay, lại hiển hiện trong tôi cột cờ Lũng Cú, nơi tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi một lần trong đời được đến viếng thăm, một lần được leo lên tới chót đỉnh.

Tôi coi chuyến đi về cột cờ Lũng Cú của mình như một cuộc hành hương, mà khởi đầu là nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên - Hà Giang, và kết thúc là một bữa trưa trong bản nhỏ của người H’Mông, nơi lần đầu tiên tôi được ăn ngon lành ba bát mèng méng kèm dưa nương, trước ánh mắt thân thương của bà con người H’Mông.

Nghe nói, hầu như người dân H’Mông nào ở Lũng Cú cũng đều biết đánh trống đồng. Nhưng không chỉ biết đánh trống đồng, người H’Mông - những con người tự do như gió và bất khuất như đá mà tôi vô cùng kính phục - còn có biệt tài đánh giặc xâm lăng.

Tôi đã gặp và nghe ở bản nhỏ ấy, trong bữa trưa mèng méng ấy câu chuyện về người dân bản này đã 3 lần đánh thắng quân xâm lược Trung Quốc vào năm 1984.  Nhưng có lẽ, đó là câu chuyện dành cho một bài viết khác mà tôi sẽ có dịp trình bạn đọc.

 

 

Thứ Bảy, 3 tháng 4, 2021

VÔ TỰ LÀ CHÂN KINH – MINH TRIẾT THƠ NGUYỄN DU

         NGUYỄN KHẮC MAI

     LƯƠNG TRIỀU CHIÊU MINH THÁI TỬ PHÂN KINH XỨ

 























渡人  





其中奧旨多不明

 

 

Thạch đài do kí "Phân kinh" tự
Đài cơ vu một vũ hoa trung
Bách thảo kinh hàn tận khô tử
Bất kiến di kinh tại hà sở
Vãng sự không truyền Lương thái tử
Thái tử niên thiếu nịch ư văn
Cưỡng tác giải sự đồ phân phân
Phật bản thị không bất trước vật
Hà hữu hồ kinh an dụng phân
Linh văn bất tại ngôn ngữ khoa
Thục vi Kim Cương vi Pháp Hoa
Sắc không cảnh giới mang bất ngộ
Si tâm quy Phật Phật sinh ma
Nhất môn phụ tử (1) đa giao tế
Nhất niệm chi trung ma tự chí
Sơn lăng bất dũng liên hoa đài
Bạch mã triêu độ Trường Giang thủy
Sở lâm họa mộc trì ương ngư
(2)
Kinh quyển thiêu hôi đài diệc dĩ
Không lưu vô ích vạn thiên ngôn
Hậu thế ngu tăng đồ quát nhĩ
Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn
Thuyết pháp độ nhân như Hằng Hà sa số
(3)
Nhân liễu thử tâm nhân tự độ
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu
Minh kính diệc phi đài
Bồ Đề bản vô thụ
(4)
Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
Kì trung áo chỉ đa bất minh
Cập đáo Phân kinh thạch đài hạ
Chung tri vô tự thị chân kinh
(5)


 







  1. Một nhà cha con (cùng không hiểu Pháp). Lương Vũ Đế 梁武帝, năm Phổ thông thứ 8, sai sứ đi thỉnh Bồ Đề Đạt Ma 菩提達摩 về thành đô là Kim Lăng. Đế hỏi: "Trẫm lên ngôi đến nay, xây chùa, chép kinh độ tăng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy có công đức gì không?". Sư Đạt Ma đáp: "Đều không công đức. Tại sao không có công đức? Bởi vì những việc vua làm là hữu lậu chỉ có những quả nhỏ trong vòng Nhân, Thiên, như ảnh tùy hình, tuy có, nhưng không phải thật. Vậy công đức chân thật là gì?. Trí phải được thanh tịnh hoàn toàn. Thể phải được trống không vắng lặng, như vậy mới là công đức, và công đức này không thể lấy việc thế gian (như xây chùa, chép kinh, độ tăng) mà cầu được". Sau câu chuyện đối đáp này, Sư biết tâm vua không khế hợp được với pháp mình, bỏ đi.
  2.  Bạch Mã, Sở lâm: Chuyện Hầu Cảnh trước là tướng Đông Ngụy, sau hàng Lương rồi lại phản Lương, cưỡi ngựa trắng qua sông Trường Giang đánh Lương Vũ đế. Khi Hầu Cảnh hàng Lương, Đông Ngụy đưa tờ hịch cho Lương, có câu: "Sợ nước Sở mất vượn, họa lây đến cây rừng, cửa thành cháy, vạ lây đến cá dưới ao"
  3. Hằng Hà là một con sông ở Ấn Độ, hai bờ toàn cát. Hằng Hà sa số: nhiều như cát sông Hằng, câu này sau trở thành một thành ngữ
  4. Lục tổ Huệ Năng 六祖慧能, trong một bài kệ có câu:Bồ đề bản vô thụ, Minh kính diệc phi đài, Bản lai vô nhất vật, Hà xứ nhạ trần ai? 菩提本無樹, 明鏡亦非臺 本來無一物, 何處惹塵埃 (Bồ đề vốn không cây, Gương sáng chẳng phải đài, Xưa nay không một vật, Bụi bặm bám vào đâu?)
  5. Vô tự kinh: kinh không chép bằng chữ. Ý nói đạo ở tâm chứ không phải ở kinh kệ

Dịch nghĩa:

                     Đây là nơi phân phát kinh của Thái tử Chiêu Minh nhà Lương.

                     Thạch đài còn ghi hai chữ “Phân kinh”.

                     Nền đài chìm mất trong mưa và hoa rừng.

                     Trăm loài cây cỏ chết rét, khô héo cả.

                     Chẳng còn thấy kinh còn sót lại ở chốn nào.

                     Chuyện Lương Thái tử đã qua truyền mơ màng.

*

                     Thái tử thời trẻ đắm đuối với văn chương,

Ham việc giải thích với phân tích.

(Thật ra) linh văn không ti khoa ngôn ngữ.

Đâu là Kim cương đâu Pháp hoa,

Cảnh giới sắc không, mơ màng không tỏ.

Tâm si mê quy Phật, thì phật sinh ma,

Chỉ trong một niệm thì ma đã tới.

*

Lăng trong núi không dng đài hoa sen.                      

Ngụa trắng một sớm vượt sông Trường giang.

Rừng Sở cháy họa cho cây mà cũng vạ lây cho cá trong ao.

Kinh  cháy mà đài cũng sụp đỗ.

Lưu lại vô ích ngàn vạn lời nói,

(Để đám) ngu tăng đời sau tụng điếc cả tai.

*

Ta nghe đức Phật tổ tại Linh sơn,

Thuyết pháp độ người kể như cát sông Hằng.

Người nào hiểu cho cùng chữ tâm ấy thì có thể tự độ.

Linh sơn chỉ có trong tâm của mình.

Gương sáng và đài gương đều không có                

Bồ đề vốn không là cây.

*

Ta đọc Kim cương ngàn lẻ biến,                                   

Những điều chính sâu xa trong đó rất ảo diệu đều không tỏ rõ.

Cho đến khi đứng dưới đài Phân kinh.

Rốt cùng mới biết Không chữ mới là chân kinh.

     Ta có thể chia bài thơ này thanh mấy khổ (đoạn) NHƯ TRÊN để tìm hiểu. Khổ thứ nhất từ câu Đây là nơi phân phát kinh của Thái tử Chiêu minh nhà Lương đến câu Chuyện Lương Thái tử đã qua truyền mơ màng. Nguyễn Du tả lại cảnh đài phân kinh đã  hoang tàn, nền đài chìm lấp dươi mưa, trăm loại cây đều chết lạnh và héo khô. Hình ảnh tàn phế hoang lạnh khiến ta ngậm ngùi. Đài phân kinh đã mai một trong hoang lạnh. Thế thì kinh còn đến nay ở đâu?

     Khổ thứ hai từ câu Thái tử thời trẻ đắm đuối với văn chương đến câu Chỉ trong một niệm thì ma đã tới. Nguyễn Du chê bai cả hai cha con Lương Vũ đế và Chiêu minh. Con thì chết đuối (nịch) trong văn chương, chăm chắm lo phân lo giải. Bản chất Phật là không dính mắc với vật. Đã là không thì làm gì có kinh để mà phân với phát. Đã là linh văn thì không tại nơi khoa ngôn ngữ. Nguyễn Du khẳng định một triết lý nhà Phật: Ngôn ngữ đoạn đạo. Nếu chấp vào ngôn ngữ sẽ làm đứt con đường đến với Đạo. Cả hai Cha con đều mơ màng không chứng ngộ được thế nào là cảnh giới sắc và không, Đem cái tâm ngu muội mà theo Phật thì Phật chỉ là ma. Cả môt nhà, cha cùng con đều lầm lạc. Chỉ cần một niệm sai lầm thì ma đã tự đến. Đây là triết lý về sự sai lầm trong ý thức, khiến cho “ma đưa lối quỷ dẫn đường, lại tim những lối đoạn trường mà đi!” Biết bao sai lầm trong xã hội ta đã khiến cho con người đang phải sống chen với ma quỷ.

     Khổ thứ ba, từ Sơn lăng không dựng đài hoa sen, đến Lũ ngu tăng đời sau tụng điếc tai. Nguyễn Du chê việc làm vô ích của cha con nhà Lương và cả đám tăng ngu ngốc đời sau.

     Khổ thứ tư Ta nghe Phật tổ tại Linh sơn đến Bồ đề bản vô thụ. Nguyễn Du nhấn mạnh chữ Tâm trong kinh Kim cương: Phật tức tâm Tâm tức Phật. Nhân liễu thử tâm nhân tự độ. Tương truyền rằng một hôm trong pháp hội, Phật đến trước đại chúng bèn giơ lên một bàn tay. Chỉ mình Ca Diếp, vị đại đệ tử của Phật, nhìn Phật và mỉm cười. Phật cho là Ca Diếp đã ngộ được ý của mình. Từ đó xuất hiện phép “dĩ Tâm truyền Tâm” của thiền học, rất thâm thúy ảo diệu. Phương thức “Bất lập ngôn ngữ, Giáo ngoại biệt truyền” ra đời. Thiền sư Huệ Năng xuất hiện ở Trung Hoa với bài Kệ nổi tiếng Bồ đề bản vô thụ. Minh kính diệc phi đài. Bản lai vô nhất vật, Hà sự nhạ trần ai. (Bồ đề vốn không cây. Gương sáng cũng chẳng phải đài. Xưa nay vốn không gì là một vât. Làm sao vướng bụi trần), Ngài khẳng định mạnh mẽ rằng, tu thiền không nhất thiết cứ bám vào kinh văn mà mắc dinh. Vấn đề chính yếu là cái Tâm. Làm cho có được cái tâm thanh tịnh, không còn vướng mắc vào cái tiểu ngã của mình. Hòa được vào cái đại ngã tâm linh của chúng sanh và vũ trụ. Làm được như thế thì trong cái sát na đốn ngộ ấy, ta sẽ đạt tới niết bàn. Trở thanh một Bohdhi Sástva (vị Bồ tát) có cái tâm thế của bâc chính đẳng chính giác (Anudala SamiatSambodhi), Nguyễn Du đã đọc ngàn biến kinh Kim cương, mà vẫn không tỏ (minh) cái gì là ảo diệu trong đó. Chỉ đến khi đến cái đài đó, ông bắt gặp một cái trống không và đột nhiên đốn ngộ rằng Vô tự mới là chân kinh.

     Những ai đã đọc Kinh Kim cương bản dịch của Huyền Trang đời Đường, mà chính văn viết bằng chữ Phạn trên lá bối, nay đang lưu trữ ở một thiền viện tại Nhật Bản, sẽ thấy mỗi câu kinh đều nói đến tính Không của cái Tâm, thì mới thấy Nguyễn Du đã truyền đạt được giá trị minh triết Phật giáo ấy một cách rất thẳm sâu.

    Giá trị minh triết của bài thơ vì thế thật không thể nghị bàn “bất khả tư nghì”.

.

 

.