Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2019

BẢO TÀNG LĂNG MỘ VUA NAM VIỆT TRIỆU VĂN ĐẾ TẠI QUẢNG CHÂU

(Những quan điểm trái chiều giữa các học giả Đức và Trung Hoa)

Ts. NGUYỄN TIẾN HỮU,

Nguyên giáo sư ĐH München và ĐH Passau, CHLB Đức

Lời TMT: Cách đây hai năm, chúng tôi đã có dịp bước đầu tập hợp một số tư liệu khảo cổ, thư tịch, văn bia, thần tích… để làm sáng tỏ chân dung Triệu Đà – vị hoàng đế vương quốc Nam Việt của cộng đồng người Bách Việt. Nhà Triệu – mấy vấn đề lịch sử (2017) đã được bạn đọc háo hức đón nhận. Các nhà nghiên cứu xem như đây là một bước đột phá mới trong nghiên cứu lịch sử văn hóa Bách Việt, trong đó có những người dường như gắn bó quên mình với những ý tưởng khoa học mới, như Nguyễn Vũ Tuấn Anh và Hà Văn Thùy. Ấy là chưa điểm đến khá nhiều nhà nghiên cứu lịch sử khác trên thế giới. Trung tâm văn hóa Minh Triết đã và đang tạo điều kiện thuận lợi nhất; từ tọa đàm, hội thảo đến in sách để từng bước khẳng định một chân lý khoa học lịch sử. Lần này, chúng tôi trân trọng giới thiệu một bài viết khá công phu của tiến sĩ Nguyễn Tiến Hữu. Hy vọng là sẽ được đón nhận, cộng tác nhiều hơn nữa của các nhà khoa học.

DẪN NHẬP

     Nhân kỷ niệm 10 năm kết nghĩa giữa hai thành phố Fankfurt (Đức) và Quảng Châu (Trung Quốc), lãnh đạo hai thành phố đã tổ chức một cuộc triển lãm rất công phu và tốn kém tại Fankfurt nước Đức (từ 15.12.1998 đến 22.01.1999) và tại tp. München (từ tháng 1 đến tháng 3.1999). Tên cuộc triển lãm là: Bảo vật vua Triệu Mộ - Lăng mộ vua Nam Việt. Nguyên văn Đức ngữ là Schätze für König zhao Mo - Das Grab von Nan Yue.

      Thành phố Fankfurt đã xuất bản một cuốn sách nghiên cứu rất khoa học, dày 367 trang (khổ lớn 23 x 29 cm) có hàng ngàn hình ảnh, đồ họa với tính khoa học nghiêm túc, để giới thiệu cuộc triển lãm. Sách có giá khá đắt (50 Euro thời 1999) đúng tầm cỡ cuộc triển lãm “vĩ đại” lần đầu tiên ra mắt tại Châu Âu (theo lời giới thiệu đầu sách) (1). Hiện nay tôi đang sở hữu cuốn sách này. Các bảo vật được triển lãm gồm hàng ngàn cổ vật là đồ tùy táng trong ngôi mộ: trống đồng, thạp đồng, gương đồng, đồ gốm, ngọc bích… toàn là cổ vật sản xuất thời đại Đông Sơn do dân Lạc Việt thời Hùng Vương chế tác. Các chuyên gia khảo cổ học và cổ sử người Đức đã khẳng định như thế trong các bài chuyên khảo, nhưng các các nhà nghiên cứu và các quan chức Trung Hoa (Phó giám đốc bảo tàng, chủ tịch Hội kết nghĩa hai tp. Fankfurt và Quảng Đông…) thì giới thiệu bảo vật của bảo tàng một cách mập mờ chủ yếu đề cao Tây Hán mà phớt lờ Nam Việt vốn có địa vị độc lập, tự chủ dưới thời nhà Triệu.

Với tên gọi bảo tàng bằng chữ Hán là Tây Hán Việt Vương mộ bác vật quán, người Trung Quốc muốn nhấn mạnh đến Tây Hán hơn là Nam Việt và phớt lờ địa vị chủ ngôi mộ là một hoàng đế Nam Việt có con dấu Văn Đế hành tỉ (Wen Di xong xi) được chôn theo nằm trên ngực mình. Đáng lẽ ra phải đặt tên là “Lăng mộ bác vật quán thời Tây Hán” mới đúng tinh thần của chủ mộ. Cái tên này được các học giả Đức dịch đảo ngược lại thành “Bảo vật vua Triệu Mộ - Lăng mộ vua Nam Việt”. Họ bỏ chữ “Tây Hán” và nhấn mạnh chữ Nam Việt.

Nhà nghiên cứu Trương Thái Du cũng chung một quan điểm khi ông đề cập đến cái tên gọi của bảo tàng bằng chữ Hán “Tây Hán Việt Vương mộ bác vật quán” . Ông viết: “Thấy chữ này như một chiếc cũi vô hình trói buộc nhận thức, định dạng di tích mộ Nam Việt Văn vương trong vòng cương tỏa của nền văn hóa Hán tộc, mặc dù ý chí độc lập và tự cường gần 100 năm của các triều đại Nam Việt vương là không thể phản bác. Bằng chứng là từ thời Triệu Đà, Nam Việt đã chịu xưng vương trước nhà Hán nhưng Triệu Hồ vẫn sử dụng “Văn Đế hành tỉ”, chữ Đế xem như một biểu tượng bất khuất” (2).

Trong bài này tôi chỉ bàn về các bài giới thiệu cuộc triển lãm của các học giả Đức và các quan chức người Trung Hoa đại diện cho chính quyền hai thành phố kết nghĩa. Phần này rất quan trọng đối với độc giả xem triển lãm vì nó có tính cách hướng dẫn và định hướng cho cuộc triển lãm.

NGƯỜI TRUNG QUỐC MUỐN ĐÁNH TRÁO

QUA MẮT CÁC CHUYÊN GIA NGƯỜI ĐỨC

Gần đây học giả Trung Quốc Quan Mẫn (Guan Min) trong bài nghiên cứu “Tứ đại phát minh của Trung Quốc: liều thuốc độc của phép thắng lợi tinh thần” (3). Nói về thói quen Trung Quốc hay “nhận bừa” những phát minh của nhân loại làm của riêng mình như đúc đồng, luyện kim, kỹ nghệ ngọc thạch, kỹ nghệ thủy tinh, thuốc nổ, kim chi nam, thuật in ấn, làm giấy,… Quan Mẫn phê phán nghiêm khắc“người Trung Quốc vốn kiêu căng, cho rằng Trung Quốc là nơi phát minh sớm nhất” còn các dân tộc khác như Bách Việt là loại man di.

Nay nhân dịp giới khảo cổ học phát hiện ra Lăng mộ của Triệu Văn Đế tại Quảng Châu vào năm 1980 và đã xây dựng một bảo tàng đồ sộ mang tên “Lăng mộ Triệu Văn Đế” (gần Phiên Ngung Quảng Châu, kinh đô Nam Việt xưa). Triệu Văn Đế cũng có tên là Triệu Muội, Triệu Mộ hay Triệu Văn Vương, là cháu nội của Triệu Đà làm vua Nam Việt từ năm 124 đến năm 112 TCN.

Lợi dụng cuộc triển lãm quy mô này, người Trung Quốc vốn có sẵn mưu đồ đại Hán (chiếm đất, chiếm văn hóa các dân tộc ngoại bang), khuếch trương, khoe khoang nền văn hóa Hán tộc và phớt lờ nền văn hóa bản địa của phương Nam đã một thời là một vương triều đứng ngang hàng với hoàng đế Tây Hán trị vì gần 100 năm qua năm triều đại của nhà Triệu (207 - 111 TCN), với một nền văn minh xán lạn phát triển rất cao, có ảnh hưởng lớn đến văn hóa Hán tộc sau này. Đó là nền văn hóa Đông Sơn thời Hùng vương.

NAM VIỆT DƯỚI THỜI NHÀ TRIỆU

Khi Triệu Đà sang đánh An Dương Vương thì bên Trung Quốc nhà Tần đã suy, nhà Hán sắp lên trị vì. Đang lúc Trung Quốc có đại loạn, chính trị rối rắm thì Triệu Đà cai trị Nam Việt như một nước hoàn toàn độc lập, tự chủ, tuy bề ngoài còn triều cống vua Hán cho có lễ nhưng trên thực tế thì Triệu Đà và các vua sau đã cai trị Nam Việt như ông vua một nước độc lập, thậm chí tự xưng là Đế ngang hàng với hoàng đế phương Bắc. Sau này Triệu Văn Đế cũng dùng con dấu “Văn Đế hành tỉ” (wen di xing xi), mà tiến sĩ Uta Lauer, Đh. Fankfurt (Đức), chuyên gia khảo cổ học đã dịch sang Đức ngữ là “Siegel des Kaisers” “con dấu của Hoàng Đế”(Kaiser có nghĩa là Hoàng đế) (4).

     Vấn đề độc lập tự chủ của Nam Việt dưới thời nhà Triệu được các học giả người Đức nhấn mạnh và mô tả rất khoa học kèm theo nhiều hình ảnh và dịch đúng nghĩa, đang lúc các quan chức Trung Quốc phớt lờ những điểm này mà chỉ nói đến Tây Hán mà hoàng đế có quyền thực sự kể cả trên đất Nam Hải tận biên cương phía Nam xa xôi. Đó là bài giới thiệu cuộc triển lãm của ông Lin Shusen, thị trưởng thành phố Quảng Châu với câu như sau “Năm 1983 ngôi mộ vua Nam Việt vương được khai quật và được xem như kho tàng quý giá của văn hóa thời Tây Hán trong vùng Lĩnh Nam… cuộc triển lãm trưng bày hàng ngàn hiện vật tùy táng sẽ giúp hiểu biết lịch sử xã hội thành phố Quảng Châu hơn 2000 năm trước…”(5).


                                                 Nước Nam Việt khoảng năm 203 trCB     
   



 

                                                                    Thạp đồng thời Nam Việt                                      



                                                                     Thi hài Văn Đế trong lăng      




                                                                      Ấn Văn Đế hành tỷ

Bài giới thiệu này chỉ 15 hàng ngắn gọn, đang lúc các bài của các học giả Đức toàn là những nhà khảo cổ danh tiếng thì rất dài như bài giới thiệu của tiến sĩ Margarete Prüch, người chủ biên cuốn sách này, dài tới 5 trang sách cỡ lớn; hoặc bài của tiến sĩ Hermann Josef Röllicke với đề tài “Nam Việt theo sử gia Tư Mã Thiên (145 - 85 TCN)”

dài 12 trang với 21 chú thích khoa học, tham khảo; bài của tiến sĩ Lucas Nickel “Lăng mộ bằng đá của vua Nam Việt” dài 15 trang với 47 chú thích khoa học. Trong bài nghiên cứu của tiến sĩ Nickel, tác giả luôn dùng những lời lẽ tôn kính đối với vương triều nhà Triệu và chứng minh Nam Việt là một vương quốc hùng mạnh, độc lập với Hán triều phương Bắc. Tác giả nói “Chủ nhân của ngôi mộ là Triệu Văn Đế, vị hoàng đế thế hệ thứ hai sau Triệu Đà là vị hoàng đế khai quốc Nam Việt, một vương quốc cường thịnh ở thế kỷ thứ II TCN (6)”. Tiến sĩ L. Nickel mô tả lăng mộ Triệu Văn Vương “như một triều đình thu nhỏ của thiên hạ ý thức được quyền lực đế vương của mình, không thua kém những hoàng đế phương Bắc. Ngoài các đồ mai táng quý giá ra còn có cả thân nhân gia quyến của cả một triều đình cùng kẻ hầu hạ (15 người) cũng được chôn theo:
                                                                                             

                                                                 

 Mũi tên đồng                              Họa tiết thuyền người chim trên Thạp                                                
hoàng hậu, phi tần, quan hầu hạ, ngựa xe…” (7). Ts. Nickel đặc biệt mô tả“các thùng đựng đồ mai táng nhỏ được đóng con dấu hoàng đế (Di yin) trên đất nung. Đây là con dấu chỉ riêng hoàng đế dùng, không ai có quyền dùng nó. Điều này đặt ra câu hỏi liệu lăng mộ này đã được Triệu Mộ cho xây khi ông còn sống và tự tay đóng dấu này lên các thùng đựng đồ mai táng, các nhân vật sẽ được tuẫn táng sau khi ông mất. Toàn bộ quy mô hoành tráng với 11.465 báu vật và 15 nhân mạng tùy táng với xe ngựa, châu ngọc quý giá, các con dấu cá nhân và của cả hoàng hậu là ý định của Triệu Mộ cho hậu thế có một khái niệm về một vương quốc Nam Việt hùng mạnh, tự cường khác với những gì sử sách của Hán tộc phương Bắc có thể viết không đúng về Nam Việt” (8). Tiến sĩ Nickel viết tiếp: “Sử gia Hán triều xem Triệu Mộ là một ông vua thuộc quốc (tiếng Đức: Lehenskönig) dưới quyền hoàng đế nhà Hán, nhưng toàn cảnh lăng mộ lại tỏ ra người chủ mộ tự đặt mình ngang hàng với Hán đế, không chỉ các con dấu to nhỏ đủ cỡ với dòng chữ Văn Đế hành tỉ (Wen Di xing xi) mà còn cả trên các chuông đồng nhạc cụ. Ông không bao giờ tự nhận mình là vua (Đức ngữ là König) mà đàng hoàng là một hoàng đế (Đức ngữ là Kaiser) (9)”. Ngay ông nội của chủ mộ là Triệu Đà cũng tự xưng là Triệu Vũ Đế (Wudi), thì chủ mộ cũng tự xưng là Triệu Văn Đế (Wendi). Tiến sĩ Nickel nói tiếp “Việc này tỏ ra là một hành động ngang ngược quá sức (Đức ngữ là ungeheuer provoquant) chẳng có một chút mảy may phục tùng Hán đế… Ngay cái tên nhạc phủ (yue fu) với các nhạc cụ cung đình như chuông, đàn đá… cũng tỏ ra chủ mộ có riêng một triều đình uy nghi của một vị hoàng đế. Một ngôi mộ với chuông, khánh của một nhạc phủ như thế không thể có ở các ngôi mộ của một nước chư hầu nào mà người đứng đầu chỉ là vua (vương hầu, tiếng Đức: Lehenskönig). Ngôi lăng mộ của Triệu Văn Đế rõ ràng là một dấu hiệu chính trị đối ngoại và ngoại giao chứng tỏ mình đường đường là một hoàng đế Nam Việt mà Hán triều phương Bắc phải công nhận. Tại triều đình Triệu Văn Đế, ông phớt lờ các luật lệ nghiêm ngặt của Hán triều cấm mai táng theo lối nhà Hán, chỉ dành riêng cho bậc thiên tử nhà Hán trung ương. Lăng mộ Triệu Văn Đế đã nâng cao vị chủ mộ lên một bậc: mộ kiểu hoàng đế của một người tự xưng là hoàng đế khi còn sống” (10).

Các tác giả người Đức trong cuốn sách này đều có chung một quan điểm như tiến sĩ  Nickel trong bài viết về Triệu Văn Đế. Đó là các học giả: Ts. Hermann Josef Röllicke với bài Nam Việt theo sử gia Tư Mã Thiên (145 - 85 TCN)” (11). Ts. Andrea C Keller với bài Thế giới người chết thời Tiền Hán (12). Ts. Jesica Rawson với bài Nơi ở vĩnh cửu: Những ngôi mộ các vua Nam Việt và các hoàng tử ở Đông Trung Hoa (13).Ts. Magdalene von Dewall với bài Miền Hoa Nam - nơi gặp gỡ các nền văn hóa cổ sử (14).Ts. Thomas O. Höllman với bài Phiên Ngung cánh cửa phía Nam đi vào Trung Hoa thời nhà Hán (15).Ts. Uta Lauer với bài Khép kín lại và đóng dấu ấn - Các con dấu trong lăng mộ vua Triệu Mộ (16).

     Và sau đây một vài trích dẫn bài của ông Lin Qihua, nhà khảo cổ học Trung Hoa, là một trong bốn Phó Giám đốc bảo tàng, với đề tài “Ngôi mộ vua Nam Việt tại bảo tàng Quảng Châu”. Bài viết gồm 7 trang không có chú thích khoa học (17). Bài này ông Lin Qihua chủ yếu kể lại công cuộc khai quật ngôi mộ Triệu Văn Đế tại Quảng Châu. Có nhiều sai lầm cố ý hạ giá trị vị trí chính trị và văn hóa bản địa Bách Việt vốn rất cao của Nam Việt. Sau đây là vài sai trái của ông Lin Qihua:

-       Ông viết “có 1000 đồ mai táng”(18) (thực sự là có 11.465 đơn vị)

-       Ông không nói đến các thạp đồng, gương đồng và những đồ đồng, đồ gốm có nguồn gốc Đông Sơn. Các gương đồng mà những tác giả nước Đức mô tả rất kỹ và rất khoa học đề cao nghệ thuật đúc đồng và kỷ thuật làm thủy tinh của Nam Việt.

-       Về đồ đồng ông Lin Qihua chỉ viết“có hơn 300 cổ vật làm bằng đồng…”. Sự thật đồ đồng mai táng trong lăng mộ có 600 hiện vật (19). Các báu vật này rất quan trọng minh chứng kỷ thuật đồng sắt của Bách Việt thời ấy rất cao và có nguồn gốc đồ đồng Đông Sơn.

-       Về các miếng thẻ ngọc thạch ông Lin Qihua viết: “có 240 miếng, đặc biệt là bộ áo của vua được kết nối với những sợi tơ lụa” (20). Sự thật số ngọc thạch rất nhiều, riêng bộ áo vua mặc đã có đến 2.291 thẻ ngọc (21).

Ông kể lại các cuộc triển lãm lưu động những báu vật lăng mộ Triệu Văn Đế ở nhiều nơi như Hồng Kông (1991), Nhật (1996), Đài Loan, đặc biệt là tại nước Đức, lần đầu tiên trên đất Châu Âu. Ông viết: “Nhân dịp kỷ niệm 10 năm kết nghĩa hai thành phố Quảng Châu và Fankfurt, 100 báu vật quan trọng từ ngôi mộ được đưa sang Đức triển lãm để dân chúng được chiêm ngưỡng và có được một ấn tượng về nền văn hóa của Quảng Châu trước 2000 năm trước (22). Không một lời về Nam Việt mà chỉ nói văn hóa Quảng Châu, làm cho dân chúng Âu Châu lầm tưởng là văn hóa Trung Hoa vì họ chỉ biết Quảng Châu nằm trong tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc”. Ông Lin Qihua viết tiếp: “về phong cách hình dáng ngôi mộ đặc biệt chú trọng phong cách kiến trúc mộ táng thời Hán” (23) vẫn khác với phong tục phương Nam của Nam Việt.

Ông nhấn mạnh đến văn hóa Đại Hán, đặc biệt ở bức tường hai bên cổng chính vào Bảo tàng được trang trí bắt chước những miếng bi ngọc (thuộc đồ mai táng ở trong mộ) để “tượng trưng cho văn hóa Hán tộc”(24). Về bức tượng đắp hình một con cọp, ông viết:“để khơi nhớ nền văn hóa cổ nước Chu”(25).

Và ông kết luận: “Tháng 6 năm 1983 phát hiện ngôi mộ, khánh thành bảo tàng năm 1988 . Trong 10 năm đã có 2 triệu lượt khách thăm bảo tàng. Họ đến từ nước ngoài và trong nước và mọi người đều bở ngỡ choáng ngợp trước kho tàng quý báu và nền văn hóa cổ đại của Trung Hoa. Không gian hài hòa, kiến trúc đặc sắc, tiếp đón nồng hậu, ai cũng khen ngợi. Họ là: các lãnh đạo nhà nước Trung Hoa, các nguyên thủ quốc gia, các vị khách quý được mời. Bảo tàng trở thành một điểm tham quan cho mọi tầng lớp xã hội: đối với học sinh đây là một phòng học thứ hai, để dạy lớp thực nghiệm… Bảo tàng này mở ra cánh cửa nhìn vào 2000 năm lịch sử và văn hóa là một ví dụ tuyệt vời cho việc khai thác và giữ gìn một ngôi mộ thời Hán kết nối việc bảo tồn và sử dụng trong thời hiện đại” (26).

Đọc bài giới thiệu của ông Lin Qihua, độc giả người Đức và Châu Âu sẽ có ấn tượng đây là một bảo tàng ngôi mộ của một nhà vua Hán ở Quảng Đông Trung Quốc chứ không có một khái niệm gì về lịch sử và văn hóa của một vương triều nhà Triệu là Đế vương của Nam Việt gần 100 năm trên một vùng đất rộng lớn của nước Văn Lang xa xưa mà chủ nhân là dân Lạc Việt.

LỜI KẾT

          Qua việc lăng mộ Triệu Văn Đế ở Quảng Châu, chúng ta thấy luận điệu tuyên truyền của người Hán nhằm chiếm đoạt văn hóa truyền thống người Việt. Chúng ta vốn tự hào là con rồng cháu tiên, có bổn phận cấp bách ôn lại lịch sử cha ông và đòi lại sự công bằng lịch sử của tổ tiên bằng cách xác định sự thật lịch sử rằng: Dân Lạc Việt chúng ta từ phía Nam tiến lên phía Bắc và đã có mặt lâu đời trên đất Trung Hoa và để lại một nền văn minh nông nghiệp xán lạn mà ngày nay dân Trung Hoa đang thừa hưởng. Cái gọi là văn minh Trung Hoa ngày nay đều do các dân Lạc Việt sáng tạo trong đó có cả chữ Hán, tiếng nói, kinh Dịch, Tứ thư, Ngũ kinh và kỷ thuật (kỷ nghệ đúc đồng, sắt, thủy tinh, làm giấy, mái nhà cong...) đến cả phong tục tập quán tín ngưỡng nhất là hệ tư tưởng triết lý âm dương kinh dịch... cả nền minh triết Việt.

Đây là những lý do giải mã câu hỏi: “Tại sao dân Việt Nam là dân tộc duy nhất không bị Hán hóa, đang lúc các dân tộc khác trong khối Bách Việt đều bị Hán hóa”. Câu trả lời đơn giản là: “không hề có Hán hóa nòi giống của chúng ta” như lời nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy khẳng định (27).

Câu chuyện dân gian trong tranh Đông Hồ (“Nòng nọc đứt đuôi”(28)) dụng ý nói rằng: dân tộc Trung Hoa hiện tại, đặc biệt ở miền Nam Hoa vốn là dòng dõi con cháu Lạc Việt sẽ có ngày tìm về với tổ tiên Việt một cách tự nguyện vì dòng máu Việt vẫn còn chảy trong con người Trung Hoa ngày nay mà khoa học công nghiệ hiện đại đã công nhận qua xét nghiệm ADN (29).

     Bảo vật trong Lăng mộ Triệu Văn Đế là sự nối tiếp phát triển từ Hùng Vương đến Âu Lạc và Nam Việt là đỉnh cao may mắn còn được giữ lại dưới lòng đất suốt hơn 2000 năm để chúng ta và con cháu mai sau chiêm ngưỡng, tìm hiểu, giải tỏa nhiều nghi vấn ẩn số lịch sử. Học giả Hoàng Xuân Hãn có lần nói: “Chúng ta phải tìm hiểu lịch sử cha ông dưới đất và dưới nước”. Thật đúng khi mà chiến tranh, giặc ngoại xâm chủ yếu là người Hán trong 1000 năm Bắc thuộc, bão lụt, hỏa hoạn đã tàn phá và cướp đi quá nhiều di tích lịch sử cha ông thì những gì khảo cổ học khai quật được thật là vô giá nên người Trung Hoa muốn chiếm đoạt để nhận bừa là của họ. Bổn phận chúng ta ngày nay là “Phục hồi kho tàng văn hóa của tổ tiên, lập nên tập đại thành của văn hóa dân tộc Việt... tập trung trí lực viết lại cuốn sử chân thực của tộc Việt” như nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy tha thiết kêu gọi (30).



                               Long Hải, ngày Giỗ tổ Hùng Vương, 2018.



TÀI LIỆU THAM KHẢO
 

-       Bảo tàng lăng mộ Triệu Văn Đế,

-  Nguồn:https://vi.wikipedia.org/wiki/Bảo_tàng_Lăng_mộ_Triệu_Văn_Đế

-       Đào Duy Anh, 2005, Lịch sử cổ đại Việt NamNxb. Văn hóa thông tin, tr. 93-94

-       Hà Văn Thùy, 2006, Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt, Nxb. Văn học.

2017, Nhà nước xích quỷ - Từ huyền thoại đến hiện thực, Nxb. Hội Nhà văn.

2015, Thủy tổ người Việt thực sự ở đâu?, Nguồn: httpt://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/thuy-to-nguoi-Viet-thuc-su-o-dau.html.

2008, Hành trình tìm lại cội nguồn - Nghiên cứu và đối thoại, Nxb. Văn học.

2017, Nhìn lại việc đánh giá Triệu Đà và nước Nam Việt.

2016, Góp phần nhận thức lại lịch sử văn hóa Việt, NXB Hội Nhà văn

Nam Việt (趙國), Nguồn:http://zh.wikipedia.org/Nam-Việt.

-       Nguyễn Duy Chính, Lăng mộ Triệu Văn Đế ở Quảng Châu, Nguồn: http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/chu-de/12963-phát-hiện-mộ-triệu-đà-nam-việt/

-       Nguyễn Xuân Phước, Bách Việt trong lòng Đại Việt, Nguồn: https://bienxua.wordpress.com/2018/03/28/bach-viet-trong-long-dai-viet/

-       Nguyễn Xuân Quang, Những nét văn hóa Bách Việt trong mộ Nam Việt Vương trong mộ Việt Vương, Quảng Châu, Trung Quốc, Nguồn: https://bacsinguyenxuanquang.wordpress.com/2011/07/29/nhung-net-van-hoa-bach-viet-trong-mo-nam-viet-vuong-quang-chau/

-       Prüch M. (chủ biên), 1999, Schätze für König Zhao Mo - das Grab von Nam Yue (tiếng Việt: Bảo vật vua Triệu Mộ - lăng mộ vua Nam Việt), Nxb. Umschau/Braus Verlag, Frankfurt, Đức ngữ. Sách gồm 6 bài nghiên cứu về đề tài này.

-       Trần Đại Sỹ, 1995, Từ triết học đến huyền thoại về nguồn gốc tộc Việt, trong Văn nghệ Tiền Phong, tr. 13-14 & 74-75.

-       Trịnh Quang Vũ, Mỹ thuật Đông Sơn trong lăng mộ Nam Việt Văn Đế 2000 năm trước.


-       Trương Sỹ Hùng & Nguyễn Khắc Mai (đồng chủ biên), 2017, Nhà Triệu - mấy vấn đề lịch sử, Nxb. Hội Nhà văn.

-       Trương Thái Du, 2004, Cổ sử Việt Nam - Một cách tiếp cận vấn đề, Nxb. Lao động.



CHÚ THÍCH

(1)          Prüch M. (chủ biên), 1999, tr. 25.

(2)          Trương Thái Du, 2006, tr. 110.

(3)          Văn hóa Nghệ An, số 247 (25.08.2017), tr. 32.

(4)          Laurer, V.  trong Prüch M.  , 1999, tr. 122.

(5)          Röllike, H. J.  trong Prüch M.  , 1999, tr. 33.

(6)          Nickel, L. trong Prüch M.  , 1999, tr. 54.

(7)          Sách đã dẫn, tr. 64.

(8)          Nt

(9)          Sách đã dẫn, tr. 66.

(10)       Nt

(11)       Röllike, H. J.  trong Prüch M.  , 1999, tr. 33.

(12)       Keller, A. C.  trong Prüch M.  , 1999, tr. 44.

(13)       Rawson, J.    trong Prüch M.  , 1999, tr. 80.

(14)       Dewall, M.   trong Prüch M.  , 1999, tr. 80.

(15)       Höllman, T.  O.  trong Prüch M.  , 1999, tr. 108.

(16)       Lauer, U.   trong Prüch M.  , 1999, tr. 122.

(17)       Lin Qihua,   trong Prüch M.  , 1999, tr. 25.

(18)       Nickel, L. trong Prüch M.  , 1999, tr. 25.

Xem Nguyễn Xuân Quang, Những nét văn hóa Bách Việt trong mộ Nam Việt Vương trong mộ Việt Vương, Quảng Châu, Trung Quốc, Nguồn: https://bacsinguyenxuanquang.wordpress.com/2011/07/29/nhung-net-van-hoa-bach-viet-trong-mo-nam-viet-vuong-quang-chau/

(19)       Nguyễn Xuân Quang có ghi rõ: 36 đỉnh đồng, 9 thạp đồng, 9 bình đồng, nhạc khí gồm 14 thanh, một bộ chuông gồm 14 cái,…

(20)       Lin Qihua,   trong Prüch M.  , 1999, tr. 25.

(21)       Trịnh Quang Vũ, Mỹ thuật Đông Sơn trong lăng mộ Nam Việt Văn Đế (2000 năm trước), Nguồn: http://hodovietnam.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=3260&Itemid=32

(22)       Lin Qihua,   trong Prüch M.  , 1999, tr. 25.

(23)       nt, tr. 30.

(24)       nt, tr, 32

(25)       nt

(26)       nt

(27)       Hà Văn Thùy, 2008, Hành trình tìm lại cội nguồn - Nghiên cứu và đối thoại, Nxb. Văn học, tr. 191.Chuyện kể rằng: Bọn nòng nọc mới nở sống dưới nước tưởng cha mình là con cá trê nên theo cha. Khi nòng nọc đứt đuôi nhảy lên bờ thì theo mẹ là con cóc.

(28)       Hà Văn Thùy, 2017, Nhìn lại việc đánh giá Triệu Đà và nước Nam Việt.

(29)       Hà Văn Thùy, 2017, Nhà nước xích quỷ - Từ huyền thoại đến hiện thực, Nxb. Hội Nhà văn.




Thứ Năm, 12 tháng 9, 2019

KHÔNG CÓ NHÀ NƯỚC VĂN LANG 2700 NĂM


                                                                         Hà Văn Thùy

      Năm 1992 khi PGS Lê Văn Lan thay mặt ngành Sử công bố tại diễn đàn Quốc hội rằng: “Việt Nam có 2.700 năm lịch sử từ khi thành lập nhà nước Văn Lang,”tôi đã nghi ngờ. Hai chứng cứ mà ông giáo sư đưa ra đều không thuyết phục. Khảo cổ thời Đông Sơn không tìm được kinh đô của Văn Lang. Không kinh đô không thể thành nhà nước! Chứng cứ thứ hai là cuốn Việt sử lược lại càng ít giá trị vì là cuốn sách khuyết danh. Thêm nữa, việc sách nói về thành lập Văn Lang hoàn toàn thiếu cơ sở. Người làm sử nghiêm túc không bao giờ viết vậy! Nghi ngờ tôi để trong lòng, nay có duyên nên giở lại.

Trong cuốn Lịch sử Việt Nam tập I, NXB Giáo dục, 2012, trang 55, giáo sư Phan Huy Lê viết: “Vào giai đoạn cuối của văn hóa Hòa Bình, cách ngày nay khoảng 6000-5000 năm, mực nước biển Đông không ngừng dâng cao, đã dần dần tạo ra một dải đồng bằng ven biển với nhiều nguồn sản vật tự nhiên của hệ thống đầm lầy, vũng vịnh và cửa sông suối dọc bờ biển nước ta. Lúc này các nhóm dân cư tiền sử Hòa Bình vốn cư trú lâu đời tại các vùng núi đá vôi từ Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An theo các dòng sông Mã, sông Lam dần dần tiến về khai thác các nguồn tài nguyên mới ở vùng ven biển. Và chính họ là chủ nhân đầu tiên của các đồng bằng ven biển đang hình thành.”

Quả tình không hiểu vì sao giáo sư lại viết mâu thuẫn như vậy? Nước biển dâng, đất bị mất thì làm sao tạo ra dải đồng bằng ven biển? Khi nước biển dâng cao con người không bỏ chạy vì lụt lội mà lại kéo xuống khai thác tài nguyên biển? Tài nguyên gì đây? Phải chăng đóng thuyền đánh bắt nguồn cá tôm vô tận hay khai thác rau câu, sò hến? Nói như giáo sư Lê, nay nóng lên toàn cầu, nước biển dâng cao, dân tình tha hồ sung sướng, kéo về ven biển khai thác tài nguyên!

Không nuốt nổi ý tưởng tréo ngoe của vị viện sỹ, tôi đành tìm tài liệu đối chiếu. May mắn đọc được những dòng này: “Các nghiên cứu trong khu vực và lân cận từ trước tới nay đều cho rằng mực nước biển dâng cao nhất trong Holocen tại thời điểm khoảng 6000 năm BP và đạt độ cao khoảng 3-4 m trên mực biển trung bình hiện tại. Sau 6000 năm BP mực nước biển bắt đầu hạ xuống [8, 9, 13, 14, 19]. Quá trình hạ thấp mực nước biển trong Holocen giữa-muộn tại vùng nghiên cứu là một quá trình dao động tắt dần theo hình sin [1]. Sự dao động tắt dần theo hình sin của mực nước biển đã được một số tác giả đề cập đến với quan điểm cho rằng tại thời điểm khoảng 2.500-2.000 năm BP mực nước biển hạ thấp hơn mực biển ngày nay và sau đó mực nước biển lại dâng lên, tiến vào đồng bằng [16]. Có lẽ đây chỉ  là những đợt biển lấn ngắn trong xu thế hạ thấp của mực nước biển mà thôi.” DOÃN ĐÌNH LÂM. TIẾN HOÁ TRẦM TÍCH HOLOCEN CHÂU THỔ SÔNG HỒNG..Viện Địa chất, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam http://www.idm.gov.vn/nguon_luc/Xuat_ban/2005/A288/a7.htm

Phải chăng giáo sư Lê đã đọc ở đâu đó đoạn văn gần như thế này. Nhưng không hiểu sao giáo sư lại trích phần đầu mà quên phần sau. Trong khi ý nghĩa của phần sau mới quyết định: 6000 năm trước, nước biển không chỉ dâng mà còn cao hơn mức hôm nay 3-4 mét. Với nước dâng như vậy thì người vốn sống gần biển cũng “bỏ của chạy lấy người” làm gì có chuyện người kéo về khai thác?! Không chỉ vậy, “khoảng 2.500-2.000 năm BP mực nước biển hạ thấp hơn mực biển ngày nay và sau đó mực nước biển lại dâng lên, tiến vào đồng bằng.” Điều này có nghĩa là, khoảng 2700 năm trước, đồng bằng sông Hồng còn ngập nước. Làm sao mà lập quốc ở đây? Phải chăng, dân Văn Lang vì nóng lòng có nước nên sắm thúng sắm mành ra biển lập quốc, để lại gia sản cho con cháu? Phải chăng dân chợ nổi Cái Răng hôm nay họp chợ trên sông là tiếp nối truyền thống Văn Lang quốc xưa?

Thêm tài liệu này của tiến sỹ Vũ Đức Liêm: Lịch sử khai thác tự nhiên ở châu thổ sông Hồng (http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/Lich-su-khai-thac-tu-nhien-o-chau-tho-song-Hong-11118) : “Cấu trúc cư dân của vùng cho thấy rõ cuộc di cư trong hai nghìn năm qua. Ở thiên niên kỷ đầu tiên là từ vùng trung du xuống khu vực thấp dọc hai bên bờ sông và sang phía đông: Hải Dương, Quảng Ninh. Trong thiên niên kỷ thứ hai là vào các vùng trũng và duyên hải đông, đông nam: Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định. Bản đồ phân bố các di chỉ khảo cổ và lịch sử từ thế kỷ I-đến thế kỷ X dưới đây cho thấy sự chuyển dịch này. Ở đầu công nguyên, các vùng cư trú dày đặc thuộc về vùng trung tâm như Hà Nội, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, trong khi các khu vực ở phía nam như Thái Bình, Nam Định dân cư khá phân tán.”

Để khỏi rậm lời, xin bạn đọc so sánh hai bản đồ, một của học giả Nhật và một là nước Văn Lang giả tưởng. Nếu chồng lên nhau sẽ thấy cái gọi là Văn Lang quốc 2700 năm trước nằm dưới một biển nước!     

                                                                                   Bản đồ di chỉ khảo cổ và dấu tích lịch sử niên đại
thế kỷ I-X ở châu thổ sông Hồng (Nishimura, M. 2005).       

Nhìn bản đồ bên trái sẽ thấy, đến thế kỷ thứ ba CN, đồng bằng sông Hồng gần như là khoảng trắng về khảo cổ, chỉ có vài di tích hiếm hoi. Phải chăng thời điểm này, do nước rút, đồng bằng hình thành, con người bắt đầu chiếm lĩnh vùng đất mới?

Qua chuyện này mới thấy sử gia đời Trần đời Lê sáng suốt. Do thấu cảm hồn dân tộc nên các vị Lê Văn Hưu, Ngô Sỹ Liên mạnh dạn đưa Xích Quỷ-Văn Lang vào chính sử. Hậu thế đã chứng minh các cụ hoàn toàn đúng khi đưa NHÀ NƯỚC XÍCH QUỶ TỪ HUYỀN THOẠI ĐẾN HIỆN THỰC.

                                                                                                 Sài Gòn, Thu 2019






Thứ Ba, 10 tháng 9, 2019

TÌM VỀ CỘI NGUỒN SỬ VIỆT

     Ngày 7/9/2019, tại trụ sở Liên hiệp các hội khoa học và kĩ thuật Việt Nam (53 Nguyễn Du, Hà Nội), Trung tâm Nghiên cứu văn hoá minh triết phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu lí học phương Đông tổ chức Toạ đàm khoa học “Tìm về cội nguồn sử Việt” (lần thứ 2)
                                                                               

                                          Giám đốc trung tâm Minh Triết tặng vật kỷ niệm 
                                        nhà nghiên cứu phong thủy Nguyễn Vũ Tuấn Anh
      Trong văn hóa sử truyền thống và trong chính sử đã ghi nhận: Nước Văn Lang lập vào năm Nhâm Tuất, năm thứ 8, vận 7, Hội Ngọ, với địa bàn lập quốc là Bắc giáp Động Đình Hồ, Nam giáp Hồ Tôn, Tây giáp Ba Thục, Đông giáp Đông Hải. Tức năm 2879 TCN. Đây là chính văn của chính sử còn lại, không phải là một huyền thoại hay truyền thuyết.
      Như vậy, Việt sử trải gần 5.000 năm văn hiến, tính từ 2879 TCN, với quốc hiệu là Văn Lang dưới triều đại của các vua Hùng, như chính sử ghi nhận, đến nay (2019) là 4.898 năm lịch sử. Duy nhất trong lịch sử văn minh nhân loại, Việt tộc là một dân tộc tự hào với danh xưng văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử.
     Nhưng gần đây, không ít nhà sử học có quan điểm cho rằng: Nước Văn Lang thực chất chỉ là “liên minh 15 bộ lạc”, “hình thành vào khoảng thế kỉ thứ VII TCN”, với “địa bàn hoạt động chỉ vỏn vẹn ở đồng bằng sông Hồng”. Quan điểm phủ nhận truyền thống văn hóa sử này được giới thiệu là “hầu hết các nhà khoa học trong nước và cộng đồng khoa học thế giới ủng hộ”, trong vòng vài chục năm trở lại đây?!
     Như vậy, từ khi xuất hiện quan điểm "xét lại" nói trên, thì tồn tại hai quan điểm khác nhau về cội nguồn Việt sử.
     Buổi Toạ đàm là diễn đàn để các nhà nghiên cứu bày tỏ quan điểm khoa học của mình, vì vấn đề cấp thiết là tìm về chân lí khách quan của cội nguồn Việt sử.
     Theo quan điểm của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh - người đã trình bày báo cáo đề dẫn Toạ đàm rất công phu - thì Việt sử gần 5.000 năm văn hiến một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử. Quốc hiệu đầu tiên là Văn Lang, dưới thời trị vì của các vua Hùng. Không gian và thời gian lập quốc Văn Lang, đúng như chính sử đã ghi nhận, từ năm 2879 TCN.
     Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh nhấn mạnh:“Sự phủ nhận văn hóa sử truyền thống Việt sử 5.000 năm văn hiến, là một sự hoài nghi những vấn đề chưa sáng tỏ cần giải quyết, chứ không thể coi đó là một hệ thống luận cứ khoa học, đủ chặt chẽ để phủ nhận cội nguồn truyền thống Việt sử 5.000 năm văn hiến.
     Những luận cứ phủ nhận quan niệm truyền thống Việt sử dựa trên nền tảng phương pháp nghiên cứu khoa học lịch sử, xuất hiện cách đây hơn 100 năm, căn cứ vào những di sản khảo cổ học. Nhưng, di sản khảo cổ và ngành khảo cổ học không phải là phương pháp khoa học duy nhất chứng minh lịch sử”.
     Hệ thống luận cứ mà nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh đưa ra để chứng minh Việt sử trải gần 5.000 năm văn hiến và có cội nguồn từ miền Nam sông Dương Tử là: Sự liên hệ những truyền thuyết và huyền thoại mô tả thời Hùng Vương, trong hệ thống truyền thuyết lịch sử, luôn bắt đầu bằng “Vào thời Hùng Vương thứ…” với những di sản văn hóa phi vật thể còn lưu truyền đến tận ngày nay. Tục ăn trầu còn đến thế kỉ XII ở Nam Dương Tử, đến ngày nay ở cả Đài Loan và phổ biến ở Việt Nam. Bánh chưng, bánh dày còn trong di sản văn hóa truyền thống Việt. Tục nhuộm răng đen, xăm mình vẫn còn đến ngày nay ở Việt Nam và cả Nhật Bản từ gần 1.000 năm trước. Hiện tượng áo cài vạt bên trái, được ghi nhận trong kinh Lễ, liên hệ với các bản văn lịch sử khác, như An Nam chí lược và các di sản liên quan đến chiếc áo cài vạt bên trái còn đến bây giờ ở cả Việt Nam và Nhật Bản. Sử kí xác nhận “Nam Dương Tử là nơi Bách Việt ở” liên hệ với các bản văn lịch sử khác. Những bằng chứng khảo cổ ở cả Việt Nam và Nam Dương Tử, như Mộ Rồng, Tam Tinh Đôi… Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh còn đưa ra hệ thống luận cứ thứ hai là những tri thức của Lí học Đông phương, mà nền tảng là thuyết Âm dương - Ngũ hành và Kinh dịch, thuộc về nền văn hiến Việt.
     Đối tượng được quán xét và tìm hiểu trong cuộc Toạ đàm thực chất là thời đại Hùng Vương, cội nguồn Việt sử. Trong thời gian 1 ngày, các cử toạ còn được nghe và thảo luận sôi nổi xung quanh nội dung tham luận tâm huyết của nhiều nhà khoa học khác. 
     Toạ đàm khoa học "Tìm về cội nguồn sử Việt" đưa ra các tiêu chí xác định cội nguồn sử Việt, thừa nhận những công trình nghiên cứu của các cá nhân, tổ chức nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế từ góc nhìn của các ngành khoa học tân nhân văn, như cổ sinh, khảo cổ, nhân chủng, cổ ngữ, triết học, tâm lí học miền sâu, công nghệ di truyền (ADN), cơ cấu, huyền sử… để xác định:
     a. Người Việt thuộc chủng Mông Cổ phương Nam / South-Mongoloid với gốc nhân chủng là người Lạc Việt / Luo Yue, chủng Indonesian được hình thành từ hai chủng Australoid và Mongoloid từ 70.000 năm trước. 50.000 năm trước người Việt tiền sử đi lên Tây Tạng và Ấn Độ. 40.000 năm trước họ đi lên khai phá các vùng thuộc hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử, xây dựng nên các trung tâm văn hóa lớn như Giả Hồ 9.000 năm, Hà Mẫu Độ, Ngưỡng Thiều 7.000 năm, Lương Chử 5.300 năm.
     b. Người Việt đã xây dựng nền văn hóa nông nghiệp rực rỡ ở châu Á. Tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Trung Hoa, chữ Lạc Việt là chủ thể tạo nên chữ viết Trung Hoa. Tất cả những thành tựu của văn minh Trung Hoa đều được bắt đầu từ nguồn gốc văn hóa Việt…
     c. Văn Minh nông nghiệp đã sản sinh ra nền văn hiến Việt Nam 5.000 năm trên cơ sở nền tảng Kinh Dịch và thuyết Âm dương Ngũ hành. Đây là minh chứng cội nguồn của sử Việt.

VĂN NGUYỄN
VNQĐ - Chủ Nhật, 08/09/2019 09:45